trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - / bài
  1 - / bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
Loạt bài: Sách xuất bản tại miền Nam trước 1975
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40   41   42   43   44   45   46   47   48   49   50   51   52   53   54   55   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65   66   67   68   69   70   71   72   73   74   75   76   77   78   79   80   81   82   83   84   85   86   87   88   89   90   91   92   93   94   95 
24.6.2008
Dương Nghiễm Mậu
Tuổi nước độc
(Truyện dài)
 1   2   3   4   5 
 
1.

Trời trở rét làm nền trời co nhàu lại, mọi người đi đứng một cách nhẹ nhàng như con mèo khôn khéo lựa mình chui vào lần chăn trong đêm mùa lạnh. Chuyến xe điện đổ chuông rồi chạy khỏi trạm. Tôi bỏ tay trong túi quần ngó xe rồi vượt sang cửa nhà bưu điện. Tới bên thùng thư tôi thò tay vào trong bụng lấy phong thư ra, vuốt cho thẳng rồi bỏ vào khe hở, tôi ngó vào cho được yên tâm, phong thư đã lọt xuống dưới. Bây giờ đi đâu, tôi trở ra đứng vơ vẩn trước cửa ngó sang bên kia đường, bờ hồ buổi sớm vắng tanh, người bán lạc rang chưa có mặt bên chiếc ghế đá cạnh tháp Báo Thiên. Tôi nghĩ nên đi tìm một cái gì ăn. Hiền ở đâu chợt đến bên cạnh hỏi:

"Anh đi đâu mà ngẩn ngơ vậy?"

Tôi ngạc nhiên quay người nhìn nàng, chiếc áo lụa dài, chiếc áo len đen bó sát lấy mình:

"Anh đi bỏ thư cho ông chú, anh đang hỏi mình: đi đâu đây, còn em, mới sáng tinh mơ đã ở đây rồi, trời lạnh mà em dậy sớm vậy được".

Hiền mỉm cười; môi nàng bị khô cứng, má hồng lên và những sợi lông tơ mướt trên vành tai, giọng Hiền vui:

"Sáng nay em theo ông anh xuống dưới này có chút việc, xong rồi, em tính về chợ Đồng Xuân mua mấy thứ lặt vặt, anh có đi chợ không?"

"Đi chợ, đàn bà đi chợ để ăn quà chứ con trai đi chợ làm gì".

"Đi ăn quà, chứ con trai không biết ăn quà sao? Anh đi em mời ăn bún chả, bún ốc, xôi chè, thứ gì cũng được hết".

"Cũng hay".

Tôi ngúc ngúc cái đầu rồi đứng im. Tiếng Hiền:

"Sao, anh đi không?"

"Thì đi".

Tôi bước xuống lề đường và đi về phía toà thị chính, tôi chợt ngừng vì không thấy Hiền, tôi ngó lại, Hiền vẫn đứng trên thềm nhà bưu điện, lúc thấy tôi ngừng lại Hiền mới bước xuống và đi tới, nàng hơi nhíu mày hỏi:

"Trông anh có vẻ làm sao ấy, anh có bận gì không, có hẹn chẳng hạn".

"Không, em nói đi và anh đi thì em đứng lại. Có tại sao đâu".

"Em không tin".

Chúng tôi cùng bước, chúng tôi vượt qua cửa vườn hoa Chí Linh, đài kỷ niệm chừng như mới được sơn lại, màu vàng tươi trên tấm bản đồ Việt.

Gò đất cao ấy là một chiếc hầm tránh bom được xây cất có lẽ từ lúc Nhật thả bom quân đội Pháp, người ta để nguyên như vậy và cất trên đó một đài chiến sĩ trận vong. Trông anh có vẻ làm sao ấy. Chúng tôi vượt khỏi cửa toà thị chính. Mấy hôm liền tôi không ngủ được vì những chuyện đâu đâu, thằng em nhỏ con chú tôi nó đau nặng. Quá lâu tôi không được tin của chú. Những nao núng lựa chọn của bạn hữu làm tôi không yên tâm.

Hiền dừng lại nơi trạm tàu điện:

"Mình đứng đây chờ tàu anh".

Tôi đứng lại bên cạnh Hiền, hai tay thu vào túi, bên chúng tôi có một ông già mặc chiếc áo khoác dài, đầu đội mũ da chốc chốc ho khù khụ.

Phía trong dãy tường thấp một toán thanh niên mặc quần đùi, áo lót trắng đánh bóng chuyền reo hò xen với tiếng chân chạy và tiếng bóng đập.

"Mới đầu mùa mà anh lạnh quá".

"Anh tệ quá, có lẽ anh không được khoẻ đó. Em thấy cũng thường, buổi sáng bỏ tay vào nước đâu đã thấy gì".

"Nhất em rồi còn gì".

Chuyến tàu kéo hai toa đã chạy đến, tiếng chuông đổ liên hồi, tàu đông kẹt, người ta để những quang gánh ra cả cửa sổ, người ta đứng chen trên bực lên xuống. Ông cụ đứng bên lẩy bẩy chạy ra nhưng không tìm được khe hở nào để lên, ông lẩm bẩm vẻ thất vọng một cách bực bội, Hiền quay mặt nhìn chỗ khác, không có ai xuống, chuyến tàu lại đi.

Tôi nói:

"Thôi mình đi bộ cho ấm, em đi được không?"

"Em ngại…"

"Sợ có ai gặp chứ gì, ồ bây giờ chứ đâu phải ngày xưa của các cụ".

Hiền ngại ngùng một lúc rồi đồng ý:

"Chưa bao giờ em đi chơi một mình với anh. Đi vui chắc không thấy xa, đi từ đây lên tận chợ để ăn một mẹt bún chả kể cũng mệt anh nhỉ".

"Để sau này còn có chuyện mà nhớ".

Tôi xúc động không duyên cớ. Để nhớ, tôi mỉm cười, chúng tôi qua đường đi theo bờ hồ cho dễ đi:

"Nếu bác biết em đi chơi với anh bác có rầy không?"

"Đâu phải mình hẹn hò gì" - Hiền ngập ngừng quay đầu ngó vào mắt tôi - "Anh thấy vậy không, mà mình có…"

Hiền im không nói nữa, bước chân đều và nhanh, tôi nói:

"Có gì?"

Hiền quay lại, mặt ửng đỏ. Tôi nhớ đến Thịnh:

"Giá còn anh Thịnh chắc thích lắm, hồi xưa mấy anh em còn đi chơi. Bây giờ lớn rồi chẳng còn được như trước nữa".

"Chẳng biết anh Thịnh vào trong ấy sống chết ra sao, lâu lâu mẹ con em nhắc đến và khóc. Mẹ em đang tính hỏi vợ cho anh Nghĩa, đám này có vẻ thành vì anh Nghĩa cũng bằng lòng. Nếu yên được, khi anh Thịnh về thì đã khác hẳn. Biết đâu anh ấy lại không mang về với một cô vợ Cần Thơ".

"Có thể lắm, trong ấy lấy vợ lấy chồng dễ dàng hơn. Giá hồi đó anh lớn như bây giờ anh cũng đi rồi".

Hiền im lặng, tôi mường tượng về một Miền nam hoang vu, những cánh đồng bát ngát không có nhà cửa, ruộng không có bờ, những cánh rừng cao su tăm tối, những người phu trong đời sống lầm than như sự miêu tả của nhiều người về vùng đất đai xa xăm tôi chưa biết đến. Ở phố hàng Gạch có một nhà căng bảng mộ phu đi Nam bộ, tôi nhìn thấy ở đó những người không kiếm ra công ăn việc làm tới ghi tên, nhận một số tiền thưởng, khăn gói chờ người ta dẫn xuống tàu ra đi, tôi nghĩ họ đi và không bao giờ còn nghĩ đến ngày trở về, họ sẽ có một đời sống. Rồi họ sẽ ra sao, đời sống những người thanh niên ra đi khi Nam bộ vừa bắt đầu nổ súng chống Pháp bây giờ ra sao, nếu tôi cũng đi ngày đó. Súng không chỉ nổ ở Nam bộ, bây giờ súng nổ trên khắp đất nước, cuộc chiến không còn đơn giản như ngày nào, cái ý nghĩa kháng chiến giải phóng chống xâm lăng cũng đã thay đổi, những thay đổi khiến cho lựa chọn tham dự cùng mâu thuẫn nhau. Hiền hỏi:

"Anh tiếc không đi được phải không, tại sao bây giờ anh không đi?"

"Đi đâu?"

"Ra ngoài, có người bảo em ra ngoài".

"Anh không muốn ra ngoài và cũng không muốn ở đây".

Chúng tôi đã qua hết phố hàng Đào và sang đến phố hàng Ngang, những cửa hàng vải đã thưa, những tiệm bánh mứt san sát. Một đám người náo động và tránh phía lề đường tay trái chúng tôi đi sang phía tay phải, người ta nói nhỏ và có vẻ lo âu nhớn nhác, tôi đứng lại, người ta chỉ chỏ về phía bên kia đường, tôi hỏi một người bán hàng đứng đó:

"Chuyện gì vậy ông?"

"Một vụ ám sát".

Người lạ chỉ cho tôi thấy một người đàn ông nằm sóng sướt phía bên kia trên lề đường nơi cửa một tiệm thuốc bắc, chiếc mũ dạ nằm ngửa cách xa xác chết khoảng một sải tay, không ai dám đi ngang qua chỗ ấy những người đi đường hiếu kỳ đứng lại ngó một chút rồi rảo bước lo âu, họ đi vội vã như sợ một liên lụy có thể đến bất ngờ. Người lạ nói tiếp:

"Không biết người nào bắn, bỗng nhiên có tiếng súng nổ rồi người ta thấy người đó ngã ra".

Hiền kéo tay tôi, chúng tôi vượt khỏi đám đông, đi được một khoảng xa chúng tôi thấy một xe cảnh sát và một xe cứu thương chạy ngược chiều xuống, tiếng còi ré lên, những người qua đường không hiểu chuyện gì chợt ngừng lại rồi tiếp tục công việc, mua bán. Hiền có vẻ sợ:

"Trong thành bây giờ cũng chẳng yên gì. Mấy đêm trước ở trên chỗ em súng nổ gần lắm, mẹ em lục đục và em cũng không ngủ được. Hôm rồi em nghe nói về chuyện lựu đạn nổ trong rạp Kim Phụng mà rợn người, sao họ lại ném lựu đạn vào những người đi coi hát, mấy rạp như thế rồi ai còn dám đi coi nữa".

Chúng tôi đã tới cửa chợ, một người cảnh sát Tây đen đang cầm chiếc đòn gánh xua đuổi những người bán rong, từng đám người chạy dạt đi, chúng tôi bước vào cửa chợ, tiếng rao hàng, tiếng động huyên náo, người ta chen chúc nhau khiến tôi phải ngừng lại một lúc mới vào được thoát cửa chợ, nhưng đến khi tôi vào được trong thì tôi không tìm thấy Hiền, tôi đi theo dãy hàng hoa quả, rồi ngang qua khu hàng ăn, sau cùng tôi đành đứng lại nơi hàng bán cây cảnh và súc vật, tôi cố gắng hết sức nhưng không sao tìm ra bóng Hiền giữa vô vàn những người ra vào không ngớt xáo trộn, ồn ào, di chuyển như thác lũ. Nếu có một trái lựu đạn nổ, tôi quanh quẩn một lúc rồi tìm cách trở ra, tôi nghĩ chắc Hiền cũng đang quanh quẩn ngóng trông tìm tôi nơi nào đó. Ra phía ngoài cửa chợ, tôi đứng ngó ngàng, tôi nhìn vào mặt những người qua lại nhưng không gặp một khuôn mặt quen. Nắng đã lên cao, vẻ khô lạnh dần tan, tôi cảm thấy mồ hôi ướt trong lòng bàn tay. Tôi bỏ khu chợ trở về.

Không khí im lặng buổi sáng trong căn nhà vẫn còn, ông tôi còn ngồi trên sập khoác trên người một chiếc chăn bông mỏng lót vải màu gụ, thấy tôi ông khẽ ngửng đầu ngó lên đứa em gái tôi mới bốn tuổi thơ thẩn ngồi nghịch những viên đá sỏi nơi chân cầu thang. Thím tôi từ dưới nhà lên hỏi:

"Cháu đã bỏ thư cho chú chưa?"

"Cháu vừa bỏ thư sáng ngày, chậm lắm ngày kia chú nhận được".

"Thím nóng cả ruột, không hiểu sao lần này quá lâu không thấy chú về, đường sá hồi này thím nghe nói cũng không an ninh gì, những người buôn bán họ cũng còn sợ nữa".

"Mới sáng này lại có một vụ ám sát ở hàng Ngang".

"Ai vậy?"

"Không biết ai và tại sao".

Tôi lên gác và nằm cuộn mình trên giường. Tôi nghĩ đến Hiền trong đám đông.

Buổi trưa khô nóng dần, tôi thiếp đi chập chờn từng lúc một, đám đông náo động, khuôn mặt một người máu me đầm đìa chạy cuồng kêu gào rồi mất tăm. Trong đám đông ấy tôi gọi Hiền không ra tiếng. Chuyến xe lửa chạy ngang qua cầu lúc hơn mười giờ, tôi nằm im tỉnh táo nghe tiếng còi kéo dài. Buổi chiều Trương đến tìm và chúng tôi đi dạo.

Chúng tôi men theo chân cầu xe lửa đi ra phía miếu Hai Cô rồi rẽ ngang qua bến Nứa, chúng tôi dừng lại nơi đầu cầu xem một toán lính Ma Rốc đang dắt ngựa từ phía Gia Lâm sang, Trương ngạc nhiên:

"Bây giờ Tây nó lại dùng ngựa để đánh nhau nữa sao?"

"Chắc họ mở mặt trận miền núi, xe cộ lên đó đâu có được".

Từng đoàn người ngựa lũ lượt xuống khỏi cầu đi về phía Thành, xe cộ mắc kẹt đông lại nơi ngả đường. Tôi ngó xuôi con đường hàng Đậu, nhà chứa nước đứng sừng sững, hai bên những bức tường cao đứng chênh vênh, dấu vết cơn lửa đạn vẫn chưa hết.

Trương nói:

"Cậu có gặp thằng Vịnh không, chẳng hiểu nó đã đi chưa".

"Tôi không gặp, nhưng chắc nó chưa đi. Nó làm bộ có vẻ dứt khoát nhưng thực ra nó chần chờ phân vân, một thứ mặc cảm. Nó tưởng nó khác nhưng thực nó cũng băn khoăn như mình. Mình có nói với mình là đừng tự lừa mình. Theo đuổi một mục đích mà mình không tin tưởng thì theo đuổi làm gì, cậu nghĩ sao".

"Hắn muốn thoát khỏi hắn, mình sợ mình ngờ vực nhiều quá. Hắn muốn hành động, đó là một điều hay, sau đó sẽ có kết luận".

Chúng tôi bỏ đám đông lại đầu cầu đi ngược lên phía trên. Bến Nứa vẫn còn bỏ hoang, một khoảng trống rộng mấy đứa nhỏ đang tập xe đạp, một trạm bán xăng đổ nát, trên đường đê thấp um tùm những cây dại mọc, xác một chiếc xe hơi cháy nằm phơi bụng han rỉ, phía ngoài xa dòng sông hẹp lại trong tầm mắt che khuất bởi những cỏ dại mọc cao hơn bãi. Cầu Long Biên xám lơ lửng trên những chân cột, trên đó những chiếc xe như bị làm nhỏ đi di động chậm chạp.

Chúng tôi đi đến đầu ngõ Hồng Phúc thì dừng lại vì gặp một đám đông người đang bu quanh nơi chiếc bậc gạch để đi từ đường đê xuống ngõ thông qua phố hàng Than, bậc gạch cao xây cẩn thận, hai bên có hai bờ tường dày, những đứa trẻ con leo lên đó ngồi đông đặc. Chợt mấy người trên phía đê kêu lên:

"Nó kia rồi".

"Ê, mấy đứa nhỏ tránh ra không chết bây giờ".

"Tránh ra…"

Những người đang đứng trên bậc gạch cùng mấy đứa nhỏ cuống quít rẽ sang hai bên, từ phía trên tôi nhận thấy một tên lính da đen đang phóng chiếc xe đạp cuốc tới, hắn nằm rạp xuống thành xe rồi từ trên mặt đường lao xuống dốc, chiếc xe bật lên rớt xuống trên bậc gạch làm chiếc xe nhiều lúc mất thăng bằng nhưng vẫn xuống được đầu đường rồi chạy tiếp. Anh lính ngẩng người ngồi thẳng quay nhìn lại giơ cao tay vẫy đáp lại tiếng la cổ võ và tiếng vỗ tay của những người đứng xem. Trương cười nói với tôi:

"Hắn đang tự tử".

"Làm một thằng người có quê hương nhưng không được sống, bị bọn da trắng tới đánh chiếm rồi mang đi đánh nhau ở một nơi như thế này, đùa giỡn cái chết chứ còn biết làm gì hơn nữa".

Chắc hắn đang tưởng là một hiệp sĩ oai hùng ghê lắm, một lúc nào chiếc xe gãy đâm vào bụng, hay chiếc xe hất hắn xuống chết là hết. Thật giản dị vô cùng. Chắc hắn sẽ cười, chết một cách thật êm thắm, tôi nghĩ mà thương hại hắn, cái chết ngoài mặt trận không làm sợ hay chính làm nó sợ đến nỗi muốn tìm cái chết một cách khác, cái chết trong vui chơi mạo hiểm.

Mọi người vẫn đợi, nhưng quá lâu người ta chưa nhận thấy hắn xuất hiện trở lại. Họ bàn tán: "Chắc nó về rồi, từ chiều đến giờ chắc cu cậu mệt đừ rồi" Lâu lắm mới thấy hắn trở lại chừng như hắn mới đi trận về. "Thằng ấy mà nó ra trận thì hăng hái phải biết, nó coi cái chết như chơi, hôm nay nó đi đã tài lắm, lần trước nó làm gãy hai cái xe đến nỗi anh chàng cho thuê xe không dám cho hắn thuê xe nữa". "Gãy xe nó đền tiền chứ có mất đâu". "Cái thằng nó cũng điên ghê, nó để tiền mà uống rượu hay đi nhà thổ còn sướng, đi làm trò kể cũng tức cười. Cái thằng này nó hiền ghê, hôm trước nó đi xe chán ngồi đừ ra cho bọn con nít nó đùa rồi còn mua kẹo chia cho chúng nữa, tôi chưa thấy thằng tây nào như thằng này, nó là dân Phi châu mà". "Kìa nó lại đến kìa, chạy lẹ lên".

Hắn đang đạp xe tới, nó vừa cúi người vừa kéo dài cái môi dày ra hai mép, mồ hôi vã ra bóng loáng trên nước da đen sần sùi. Hắn phóng xe xuống, chiếc xe nảy lên loạng choạng, nghiêng ngả nhưng lần này khi vừa xuống đến mặt đường thì bánh trước quẹo ra và hắn ngã xuống, chiếc xe đè lên hắn, người ta reo lên, hắn vẫn cười và gượng dậy, một người đứng đó tới đỡ giúp hắn chiếc xe, hắn nói lí nhí: méc xi, méc xi. Hắn giữ lấy xe, bóp bóp cái lốp thăm chừng rồi để cái xe nằm xuống, tháo cái bơm ra và hì hục bơm, trẻ con bu lại bên hắn. Trương kéo tôi đi:

"Một trò xiếc hấp dẫn".

"Chiến tranh vô nghĩa làm cho người ta điên lên".

"Hắn không còn tự do, ngoài tự do chết, mình không hiểu xưa kia các cụ mình có người phải xuống tàu sang Âu châu đánh nhau với Đức thì sao nhỉ, nhất là đi đánh với những người không có thù oán gì".

"Có lẽ chẳng ai nghĩ được gì, họ đánh và giữ lấy mạng sống, đã đến mặt trận, ngửi mùi thuốc súng người ta không nghĩ gì nữa. Ví dụ lấy quân đội của cùng một bên, tất nhiên không có thù hằn gì, chia ra làm hai rồi ra lệnh phải bắn nhau, thằng nào thắng thằng ấy sống thì họ cũng bắn nhau hăng như thường. Bản năng tự vệ".

Chúng tôi đi ngược lên phía nhà dép cao su Con Hổ, đến đầu nhà nhà máy nước quẹo xuống hàng Than, Trương nói:

"Cậu nghĩ tôi có nên đi với Vịnh không? Nó nói muốn tôi cùng đi cho nó có bạn".

"Cậu trả lời hắn chưa?"

"Chưa, tôi nói để tôi nghĩ xem. Tôi nói thế nhưng tôi không nghĩ gì hết, tôi còn ông cụ với thằng Thu nữa. Ông cụ mong cho tôi học rồi còn đi kiếm tiền. Các cậu có lẽ ít bận vì những chuyện nhỏ như tôi".

Tôi lặng im, con phố dốc đang đưa chúng tôi xuống.

"Chừng như những ảo tưởng đang đầu độc mình. Chú tôi từ ngoài trở vào, tôi ngạc nhiên hỏi ông tại sao vào, cuộc sống hào hùng ở ngoài không đủ sức quyến rũ sao, chú tôi cười, tôi hỏi hay chú đã mệt mỏi, đã già, chú tôi nói có lẽ, chắc cháu nghĩ chuyện ở ngoài ghê gớm lắm, và hành động đi kháng chiến là vinh dự hào hùng lắm, chú nghiêm giọng: để tới đâu? Chú muốn về trông nom mấy đứa nhỏ. Chú không tin họ nữa, hỏng hết rồi. Mình chẳng biết làm sao nẵ. Đó là câu tôi trả lời cậu".

"Nghĩ mãi quá quẩn, tôi mơ hồ thấy rằng những điều trong sách vở mình học hợp lý cho một xã hội khác, không hợp ở đây. Ngay về chuyện giai cấp mà Vịnh nó cứ nói nhai nhải mình cũng thấy không thể có, mình đâu có công nhận, có nông dân nhưng không có tư bản. Ở đây chỉ có cái thành phần cai trị là rõ hơn cả, lớp phú nông cũng chẳng có bao, phú nông của mình đời sống cũng chẳng khác mà có khi còn thấp hơn đa số dân chúng những nước có kỹ nghệ. Ở ngoài họ chỉ có cái chiêu bài chống ngoại xâm mà thôi, cái mục đích đi tới thì mình không thể chấp nhận".

"Cậu có biết những người lính mình khi trước sang Âu châu mang về đây cái gì không, họ mang về cái đồ đàn bà bằng cao su, Tây nó phát cho để thủ dâm. Tây nó dùng mà mình không dùng".

Trương cười thành tiếng, tôi nói:

"Người mình thấy ngạc nhiên lạ lùng lắm, người ta truyền tay nhau coi rồi kêu: Tây nó văn minh thật. Xã hội mình bị thay đổi từ phía bên ngoài vào cho nên chỉ có những phong trào cải lương, mãi mãi chạy theo những trào lưu và cứ lạc hậu. Tôi nghĩ tới điều đó mà lo sợ. Về chuyện Vịnh tùy cậu, tôi có hoàn cảnh để đi với Vịnh nhưng tôi không đi. Vịnh cũng biết vậy nên hôm gặp tôi mới đây hai đứa không nói gì tới chuyện đó. Chắc nó cho tôi là một thứ đồ tồi".

Tới giữa phố chúng tôi bắt gặp tên lính Tây, mặt hắn bị vết sước chảy máu vác chiếc xe đạp gãy một bánh trên vai, hắn hút thuốc phì phèo, mướt mồ hôi, khuôn mặt lầm lì. Trương nói:

"Hắn cũng chưa chết".

Trông dáng hắn nghênh nghênh, bước dài, tôi nghĩ đêm hắn sẽ khóc nhớ vợ, nhớ quê hương khô nóng hắn đã phải rời khỏi. Tôi rủ Trương ghé vào một tiệm sách nhỏ ở đó tôi thấy bày bán những báo cũ trước chiến tranh và gặp hai đứa nhỏ vào hỏi mua Người Nhạn Trắng số 6, ít lâu nay phong trào in truyện Tam Quốc, trinh thám từng tập nhỏ bán một đồng rất phồn thịnh. Ra vườn hoa hàng Đậu chúng tôi uống mỗi đứa một cốc nước gạo rồi Trương về, tôi nói:

"Có khi tối mai tôi xuống cậu ngủ".

Tôi đi xuống chỗ nhà thương khách, ngang qua một nhà thổ tối thấy một tốp lính Tây đang xếp hàng chờ đến lượt. Tôi tới cổng trường hàng Than chờ hai đứa em rồi dẫn chúng cùng về. Buổi chiều xuống dần trong phố.


2.

Vừa bước vào căn gác tôi đã nghe tiếng Vịnh, tôi nghe loáng thoáng một vài câu không rõ ràng, khi trông thấy nhau, Vịnh thôi không nói nữa. Trương nằm ở ghế vải đứng dậy. Vịnh bỏ cuốn sách xuống mặt bàn. Tôi nói:

"Thật không ngờ, tưởng cậu đã đi rồi, sao vẫn còn ở đây?"

"Chưa vì nhỡ chuyến, tôi còn đợi liên lạc, nhưng cũng chỉ ngày một ngày hai thôi".

Vịnh im lặng nhìn tôi một chút rồi ngồi xuống. Tôi quay sang với Trương.

"Còn cậu?"

"Vẫn thế".

Trương nằm xuống giường, tôi kiếm cái ghế ngồi ghé bên cạnh. Không đứa nào nói thêm câu nào. Tôi không biết chuyển câu chuyện ra sao. Từ ít lâu nay bạn bè có nhiều điều không muốn nói ra. Chúng tôi muốn thản nhiên trước những đời sống riêng đó, có lẽ đó là cách thức chúng tôi đã học khôn được.

Trương đi học và đi dạy, Vịnh cùng học năm thứ nhất ở đại học với Trương, năm nay Vịnh nghỉ để hoạt động - điều đó Vịnh nói với tôi. Tôi lận đận mãi ở đệ nhất, bạn bè bỏ rơi lại một mình. Hôm trước đây trong một lần gặp nhau, Vịnh nghiêm nét mặt bảo tôi:

"Phải ra ngoài…"

Hôm đó chúng tôi đi chơi với nhau và uống cà phê, tuyệt nhiên trong câu chuyện tôi không bày tỏ một thái độ hay một ký kiến nào về điều Vịnh sắp làm. Tôi dè dặt và thu nhỏ đời sống lại. Tôi biết mình đang sống trong một cái lưới, với một không khí tức thở ngột ngạt, nhưng dù biết như thế tôi vẫn không sao cựa quậy - hoặc để thoát ra - cũng vì thế tôi muốn làm việc thật nhiều để lấp trống và khỏi phải suy nghĩ "nhưng tôi không sao làm được theo ý mình.

Những lần gặp gỡ nhau như thế này, hồi xưa chúng tôi thường hăm hở với những vấn đề đặt ra. Nhưng những cách lựa chọn bây giờ chúng tôi muốn im. Bỗng Vịnh bỏ cuốn sách và cất tiếng nói:

"Các cậu đã biết tin thằng Hoạch chết chưa nhỉ?"

"Hoạch nào?"

"Hoạch cao cổ khi xưa đó".

"Nó bị động viên nên nhảy vào học sĩ quan mới ra trường với lon thiếu úy thôi".

"Đúng rồi. Chết ở Vĩnh Yên. Nó thật tiêu biểu cho những hạng thanh niên vô lý tưởng. Mình không thể hiểu được tại sao có những thằng như thế mà sống được".

Tôi cắt ngang câu chuyện:

"Lại sắp xếp giai cấp cho nó rồi đấy. Nhưng làm sao mà cậu bảo nó vô lý tưởng?"

"Thế mà lại còn không. Kháng chiến bùng nổ nó run sợ ở lại thành, nhưng miệng thì lúc nào cũng nói chuyện kháng chiến, yêu nước, yêu dân. Khi sắp bị gọi động viên thì nghĩ ngay đến một danh vị nên vào sĩ quan để có lon ra trận. Đã đứng vào một hàng ngũ thì dù sao cũng phải chiến đấu - đằng này vừa nghe tiếng súng đã vội quăng súng giơ tay, miệng la: Tôi bị bắt buộc. Các cậu có biết nó đã nói với bộ đội ngoài kia như thế nào không?"

"Sao cậu biết?"

"Thì chính người chiến thắng trận đó thuật lại: hắn xin tha chết vì hoàn cảnh hắn chứ hắn vẫn trung thành. Nhưng họ đã bắn chết hắn, bởi vì người như vậy không cần thiết gì…"

"Thật tàn nhẫn, chắc hắn còn gia đình…"

"Trong chiến tranh mà còn tàn nhẫn với không tàn nhẫn. Bắn là phải. Sống phí cơm gạo. Dù muốn dù không, phải có lý tưởng".

"Lý tưởng! Nhưng tôi hỏi cậu…"

Tôi dừng lại một chút, đứng dậy ra ngồi ở mặt bàn đối diện và nhìn vào mắt Vịnh:

"Nhưng chắc cậu có lý tưởng chưa?"

Vịnh đứng dậy và cười lớn. Tôi trông cái dáng điệu ngạo mạn của Vịnh mà muốn đấm vào mặt hắn. Tôi dằn cơn tức cầm lấy cuốn sách ở mặt bàn xé bỏ làm hai vứt xuống sàn gác. Tiếng xé đủ làm cho Vịnh nghiêm nét mặt. Trương ngồi nhỏm dậy. Tôi tì tay vào thành bàn, người cúi xuống và nói vừa đủ nghe:

"Cậu hãy cất tiếng cười khả ố ấy đi - và cần thì cười ở chỗ nào không có mặt bạn hữu. Tôi không thể chịu được cái thái độ ấy".

"Cậu quên là cậu sắp ra ngoài sao?"

"Tôi biết - và hy vọng ở cậu có thể như vậy được. Nhưng ở đó có khác ở đây không?"

"Tôi có cần các cậu đâu mà các cậu chất vấn tôi. Nhưng các cậu hãy tự trả lời xem ở đây các câu đang và sẽ làm gì? Ngoài việc chúi mũi vào những trang sách mà mơ mộng về một cuộc cách mạng không bao giờ thực hiện được".

"Được, cậu cứ nghĩ như thế đi. Như tôi đã nói: Ở trong một mẻ lưới thì cá nào cũng như cá nào, rồi có khác nhau chăng là khác lúc người ta cặp chả hay làm gỏi. Tôi biết tôi không làm gì được, tôi hèn yếu - còn sức hèn yếu ấy tôi nghĩ về một việc nhỏ như về một mái nhà chẳng hạn…"

Tôi xúc động mạnh và muốn gục xuống mặt bàn. Vịnh đứng ở cửa sổ ngó xuống mặt đường có những người đi. Tôi châm một điếu thuốc hút đầy hơi thở xuống mặt bàn mù mịt. Vịnh nhặt cuốn sách xếp lại cho vào túi rồi đi xuống chân thang. Tôi bảo Trương:

"Mình muốn được ăn cơm với cậu".

Đã ba ngày nay tôi chưa trở về nhà. Tôi nằm nơi nhà một người quen đến hôm nay nhờ bạn bè nên trở lại. Tôi bỏ dạy học hơn một tháng và chưa biết sẽ tiếp tục làm gì. Những thái độ của nhiều người làm tôi núng động. Một số bạn hoặc bị động viên, hoặc bỏ ra ngoài. Một ít tìm cách lánh đi. Không khí chiến tranh bùng bùng bao phủ. Nhiều suy nghĩ làm bận trí não khiến tôi không còn đủ yên tâm học hành. Ngay cả việc phải thi cho đỗ nốt phần hai - đó cũng là điều tôi muốn làm cho xong trong năm nay để có thì giờ làm chuyện khác.

Trong số những bạn chơi thân với nhau thì bây giờ mỗi người một khác, mỗi đứa đi một đường. Nào Trương, Vịnh, Trịnh, Lâm. Thịnh đi từ hồi tiếng súng Nam bộ bắt đầu nổ. Trịnh ra ngoài hơn một năm, Lâm ở thành nhưng tuyệt nhiên tôi không gặp mặt sau chuyện Lâm hỏi cưới Hiền cách đây sáu tháng. Còn lại bộ ba, tôi, Vịnh và Trương. Nay mai Vịnh đi nữa. Rồi mai kia tôi hay Trương lại bỏ đi. Chúng tôi thiết lập riêng từng thế giới, từng nhà tù… Tôi ngồi bất động ở ghế cho đến khi ăn cơm. Trong bữa Trương báo cho một tin bất ngờ:

"Mình mới được tin của Thịnh".

"Còn sống?"

"Còn, hiện tại ở liên khu ba".

"Tôi phải báo tin này cho Hiền và gia đình biết mới được. Bao nhiêu thăm hỏi không ăn thua gì nay lại được tin thật quá bất ngờ".

Tôi nghĩ đến Hiền khi hay tin anh Thịnh còn sống thì nàng sẽ vui biết chừng nào. Thịnh là anh ruột nàng, chính khi Thịnh đi chúng tôi đã đưa tiễn, Thịnh đã nửa đùa nửa thật ghé vào tai tôi bảo: "Phải chờ ta về rồi cậu mới được cưới nó nghe chưa - ít ra thì cũng phải cho thằng anh ruột một bữa túy lúy chứ, nếu không lúc về ta bắt hai vợ chồng nằm sấp đánh cho ba roi".

Chuyện chúng tôi yêu nhau giữa gia đình Hiền và bạn bè đều biết. Thấm thoát đã mấy năm trời nhưng chúng tôi vẫn chưa lấy nhau. Đời sống thêm nhiều những bận rộn lo nghĩ. Từ ngày Thịnh đi đến nay chúng tôi vẫn thế, giữa bao nhiêu sự đổi dời. Tình yêu giữa chúng tôi là những ngày tháng bằng lặng ngoài chuyện Lâm hỏi cưới Hiền - điều làm tôi ân hận, buồn lòng, không ngờ Lâm cũng yêu người tôi yêu.

Tôi ăn cơm xong nằm lại ở nhà Trương, tôi qua một giấc ngủ ngắn.

Trong giấc ngủ tôi ôm lấy tôi và mơ về một người khác. Lúc xế chiều tôi mới trở về nhà.

Tôi đi chạm mặt nhiều người giữa đám đông, nhưng đầu óc không nghĩ một chút gì. Tôi qua những vỉa hè, góc phố, nghe tiếng nói, âm thanh dấy lên, về đến đầu ngõ tôi trèo qua một đống đá của sở lục bộ mới đổ để sửa lại đường, tôi cầm một hòn nhấc nhấc ở tay. Vừa đúng vào ngưỡng cửa, con chó tây thấy tôi chạy ra ủi ủi vào tay, tôi cầm ngay hòn đá nện vào đầu cho nó một cái. Nó kêu ăng ẳng chạy vào trong gậm giường. Tôi thấy ông tôi đang ngồi vuốt những tờ bạc đồng nhìn ra - và tôi cũng đã chờ để nghe - nghe một thôi dài không biết những gì, nhưng cho nó có âm thanh để lên căn gác được yên tâm là có tiếng động.

"Lại cái thằng Ngạc nó về đấy phải không? Tai ác thì cũng tai ác vừa vừa thôi chứ. Nó mà chết thì mày sống… chỉ ăn… chỉ phá…, chỉ đi… tao là cái để chúng mày báo oán sao?"

Tôi vừa lên thang gác vừa nghe, tôi lười biếng để nguyên cả quần áo nằm lên giường, đầu óc nóng bừng bừng như phát sốt, hơi thở ngột ngạt. Bóng tối bao phủ chung quanh. Tôi tưởng nếu tôi nằm im một hai phút là lịm chết đi không thể cựa quậy được. Tiếng những người đến trả tiền góp hàng ngày đang eo sèo nói ở dưới nhà cùng với tiếng ồm ồm của ông tôi cằn nhằn chửi bới như một mụ đàn bà. Những đứa em con ông chú tôi - đang đánh nhau, cãi nhau ồn ào ở dưới phía sân. Đứa nhỏ lại đang khóc và tiếng thím tôi dỗ dành. Nó bị sưng phổi từ hai tháng nay. Tôi đã gửi cho chú tôi hai cái điện tín xuống cảng vẫn không có hồi âm. Tôi cầm cái chổi phất trần đi nhẹ chân xuống sân quất cho năm đứa nhỏ mỗi đứa ba cái vào mông quắn đít ngồi run rẩy ngậm câm nhìn tôi. Cứ trông thấy mặt, nghe thấy tiếng là tôi lại muốn cầm lấy một thanh củi, một cái gậy to hay nhỏ bất kể cái gì nện cho chúng đến tê cả tay. Sau đó tôi lại thương hại chúng. Tôi bực bội đi vào nhà, ông tôi vẫn ngồi vuốt những tờ giấy bạc bỏ vào chiếc hộp bích qui:

"Con mẹ Nhiêu Hai còn thiếu hai ngày. Mụ Khán một ngày. Cái Thêm thấy trốn mặt... tiền lãi nhẹ là vậy, nó thấy mình nhân đức nên chỉ định quỵt, thật đồ bất nhân..."

Thấy tôi vào ông tôi ngừng một chút rồi nói tiếp.

"Mày đi đâu mấy ngày? Đi thì thôi, về đến nhà là gây đủ chuyện - thế nghĩa là làm sao?"

"Đánh cho chúng nó chết bớt đi, hoặc khóc cho vui nhà, át bớt những câu chửi bới sẽ nhập tâm chúng nó, sợ mai sau chúng lại bắt chước. Thật không thể chịu được nữa..."

"Lại giở cái giọng thằng bố mày ra".

"Tôi biết lắm. Bố tôi còn không chịu được nữa là tôi, bởi nó bẩn quá nên bố tôi cũng bỏ đi cho khuất mắt rồi".

"Sao mày không đi? Bẩn! Bẩn thì mày cũng đút vào miệng ấy chứ gì. Tao ăn một mình à. Đồ bất nhân. Tao chỉ muốn vật chết hết..."

"A ha...! A ha...!"

Tôi đứng dang chân ở cầu thang mà cười lớn.

"Hình như xưa kia ông đã vật người ta chết, bố tôi trông thấy mới phát điên đấy thôi..."

"Mày câm mồm đi".

Tôi mặc ông tôi cáu giận mà đi sang phía buồng. Thím tôi đang bế đứa em tôi lật áo đứa nhỏ để tay vào ngực, nó thở mệt nhọc, làn da mỏng bó sát lấy thân gầy khô của nó. Tôi nhìn thấy xương sườn nhỏ cong. Tôi hỏi thím tôi:

"Em thế nào?"

"Vẫn thế".

"Có lẽ mai được tin của chú".

Tôi đau đớn vứt bỏ cái chổi lông gà ở tay rồi chạy lên gác vùi đầu vào giữa đống chăn màn bừa bộn. Tôi vào một giấc ngủ chập chờn. Khi đứa ở gọi xuống ăn cơm, tôi khô cổ không thể trả lời được ngay, mãi mới nói được cho nó biết là tôi không ăn. Tôi nhờ nó bật giúp chiếc đèn ở bàn, rồi nó đi xuống phía thang. Tôi tự thấy tôi vô lý - tự giam mình vào một nơi mình chán, mình phát mửa lên. Nhưng chính sống ở căn nhà này tôi mới hiểu vì sao bố tôi đã phát điên. Với một người đàn ông bo bõm, keo kiệt, thủ đoạn, tàn nhẫn làm nghề cho vay lãi, cầm cố, làm cái họ với những người nghèo ở ngõ Gậm Cầu và chợ Bắc Qua. Công việc duy nhất của ông tôi từ nhiều năm nay chỉ là chửi bới, buổi chiều ngồi vuốt những tờ giấy bạc. Về bà tôi thì không ai nói gì cho tôi nghe. Chú tôi chán cảnh này nên dù muốn ở nhà cũng bỏ xuống tàu làm cho một hãng buôn người Pháp ở Cảng.

Bố tôi điên rồi đi biệt tích. Chỉ nghe nói lại rằng hồi ấy ông tôi đã hãm hiếp một đứa ở - nó đòi đi báo cảnh sát nên ông tôi thắt cổ cho chết. Bố tôi bỏ nhà đi. Ít lâu sau trở về có bế theo một đứa nhỏ bồng đưa cho ông tôi mà bảo:

"Cháu ông đấy, ông nuôi giúp tôi".

"Mày cưới vợ nữa bao giờ? Tao nuôi thằng Ngạc chưa đủ sao?"

"Nhưng tôi hiếp cho người ta đẻ ra thì ông phải nuôi: nó là cháu ông".

"Vứt nó ra ngoài đường kia. Tao không biết. Tao không biết".

"Ông có biết là ông đã hiếp con ở không?"

"Đồ con trời đánh".

"Và ông đã thắt cổ nó thế nào cho chết ông có nhớ không? Để tôi nhắc lại cho ông nghe. A ha! nhiều công việc quá khiến ông quên cả những chuyện mà con ông nó nhớ. Ông buộc một đầu dây vào cột, rồi ông thắt một vòng vào cái cổ nhỏ và trắng ngần. Cái đứa con gái ấy đi ở chỉ tại có chút nhan sắc mà bị cha mẹ ép cho một lão già vì nợ nần. Thế mà ông lại cuộn nó vào cái thắt lưng rồi ông dang chân cầm một đầu mà kéo - kéo cho nó dãy dụa - rồi lưỡi nó lè ra, bọt mép nó sùi ra và cái thân ông ôm ấp ấy rũ ra - mềm ra như bún. Rồi ông để thế treo lên xà buồng tri hô lên: con ở nó tự tử... Chả ai tố cáo, ông lo lót với tụi lính. Cái xác thì không thể cất được tiếng nói. Mà có oan hồn thì tiếng nghẹn ngào uất ức cũng chả thể cất được từ địa ngục mà lên. Nhưng tôi biết. Tôi có thể làm chứng cho người ta bỏ tù ông ngay đó. Ông nuôi thêm một đứa nhỏ mà chuộc tội. Nó không có giấy tờ gì đâu, ông có thể nhận luôn nó là con cũng được".

Thế rồi ông tôi im, mướn người nuôi đứa nhỏ. Năm sau bố tôi lại bế về đặt ở giường một đứa bé nữa. Bố tôi cầm một con dao ở tay và bảo ông tôi:

"Ông nuôi thêm cho tôi một đứa nữa".

Ông tôi nhìn đứa bé, nhìn mắt bố tôi đỏ ngàu và con dao cầm chắc ở tay không nói gì. Hôm sau bố tôi về đập phá đồ đạc, cầm lấy vai tôi nhìn vào mặt rồi cười phá lên. Từ đó không có tin gì nữa. Tôi chỉ được kể như thế. Hai đứa nhỏ về sau lớn lên ông tôi mang gửi vào một trại hướng nghiệp, nó rủ nhau về nhà, ông tôi lại gửi vào một tu viện ở Thái Hà ấp. Một đứa tên Hùng ngổ ngáo, nhiều lời. Còn đứa kia tên Thân mặt lúc nào cũng như uất ức chuyện gì.

Tôi vốn thù thằng Hùng - vì theo tôi thì chính mẹ nó đã định giết tôi. Tôi ngồi dậy khỏi giường, những câu chuyện cũ trở về như những tấn bi kịch tiếp nối. Tiếng dọn bát đĩa ở dưới nhà báo bữa cơm xong. Ông tôi đang gọi thằng Tùng, đứa con thứ ba của chú tôi lên giường dận lưng cho ông tôi ngủ. Chỉ nằm im đấy một lát tôi sẽ thấy tiếng ông tôi ngáp.

"Tại sao?"

Đã nhiều lần trở về đây và tự hỏi điều ấy, tôi tìm mãi không ra lý do tại sao tôi sống mãi ở một gian nhà như thế này. Tôi ở đây nhưng giấu không cho bạn bè, người yêu biết. Tôi nghĩ: Nếu trông thấy cảnh này mọi người sẽ khinh tôi. Nghĩ mãi thì tôi chỉ cho là: điều duy nhất khiến tôi ở đây là những điều thuộc về mẹ tôi - người chết từ năm tôi hai tuổi. Những kỷ niệm ấy hồi bố tôi chưa điên kể lại cho thím tôi nghe.

Mẹ tôi đã chết ngày bố tôi còn ở nhà, mỗi lần giỗ, bố tôi lại khóc, mẹ tôi là người tôi kính trọng, yêu mến duy nhất khiến tôi ở lại căn nhà này và không muốn rời đi.

Tôi thương bố tôi - nhưng tôi oán ông đã không lo cho tương lai tôi. Vứt tôi ra giữa những sinh hoạt tưởng có thể làm bẩn cả con người. Tôi ghét và muốn cho ông tôi chết đi - dù ông đã nuôi cho tôi ăn học. Từ ngày hiểu biết tôi không ăn nói ngọt ngào nữa. Tôi xưng tôi với ông nội như một thằng du đãng, vô giáo dục, không chút ngượng miệng. Tôi oán có lẽ tại đời sống ông tôi bẩn thỉu đã làm tôi hỏng người và lớn lên thiếu tất cả tình thương, lòng âu yếm vuốt ve tuổi trẻ, đời sống ấy làm cho tôi nhiều lần đau đớn và nhớ về mẹ tôi như một bà tiên sống thoát hẳn ra ngoài những điều bẩn thỉu, nhơ nhớp tôi thường gặp hàng ngày. Thím tôi vụng về nuôi đàn em nhỏ. Chú tôi là một người khí khái, hiểu biết. Chú là người cứu tôi khỏi bị mẹ thằng Hùng giết chết. Nếu tôi chết thì thằng Hùng sẽ được hưởng gia tài này. Nó có khai sinh là con bố tôi, lần tôi bị hãm hại xẩy ra vào một buổi chiều khi đi học về đến đầu ngõ, tôi bị một người đàn bà đứng tuổi cầm một cái chậu sành đập vào mặt. Tôi ngất đi, chỉ kêu được vài tiếng. May chú tôi gặp túm được người đàn bà mang ra cảnh sát, nó khai là vợ hai bố tôi. Tôi bị một vết sẹo dài nơi má - dấu vết làm tôi thù thằng Hùng. Mẹ hắn bị tù, sau được phóng thích và lấy một người đâu trên mạn ngược.

Tôi chưa bao giờ nghĩ về cái gia tài của ông tôi - mồ hôi nước mắt của những người nghèo khổ, bán buôn gom góp lại, cũng như khó mà tôi quên được tiếng chửi bới của ông tôi mỗi buổi chiều.

Tôi ngồi vào bàn xếp lại sách vở cho ngay ngắn. Lá thư của Hiền làm tôi nhớ về nàng cùng một lúc nghĩ Thịnh còn sống.

Tiếng còi xe lửa thét ngoài đầu cầu tiến vào thành phố. Chuyến tàu buổi chiều về chậm như thế này chắc lại gặp mìn hay những quãng đường sắt bị bóc; chuyến tàu dài nối nhiều toa kín và phía sau là quân đội chạy mau lên cầu. Khói đen hôi theo gió toả vào cửa sổ làm tôi muốn ho. Bóng người lính gác trên cầu vẫn đi đi lại lại. Đã lâu lắm tôi không còn được nghe tiếng kèn trầm và buồn. Những toa tầu màu xám và vẻ chiến tranh của nó càng làm tối cho sinh hoạt này. Đêm đêm vẫn có lần đèn thành phố cùng tắt một lúc với tiếng nổ vang dội, hay tiếng súng ám sát đủ cho một người nghe thấy. Những lần ấy dưới chân cầu xe lửa lại dầm dập tiếng giày đinh chạy, cùng cả đêm tiếng xe thiết giáp nghiến trên mặt đường nhựa. Những khối sắt kín bưng ngó mũi súng vào các đống gạch vụn, những căn nhà đổ đầy bóng tối. Hà nội, những cơn hốt hoảng trong những đêm tối khiến tôi càng cảm thấy sự bất trắc của đời sống, sự có mặt của từng người. Mỗi ngày chiến sự một ác liệt thêm.

Chính giữa lúc đó chúng tôi lớn lên với cuộc sống, với yêu đương, đam mê và những lo nghĩ về tương lai, về quá khứ.

Tôi vẫn lừa dối khi ai hỏi tôi về quê quán, gia đình, họ hàng... Tôi bảo là gia đình tôi đã bị chết hết vì súng đạn và quê hương tôi thì chiến tranh vây phủ ở mãi tận Thạch Thất, Sơn Tây, ba bốn năm nay tôi không về đến. Tôi tự nhận là một thứ nạn nhân của chiến tranh. Nhưng sự thực tôi là người đứng ngắm chiến tranh, đam mê lý thuyết cùng nhiều tư tưởng xáo trộn trong thời kỳ chiến tranh. Phải chăng chiến tranh như một cuộc phiêu du khi người ta quá an nhàn.

Trong cuộc, ở giữa hai khối tranh dành tôi muốn là người tham gia vào cuộc, có lý do đánh đuổi một thứ quân xâm lăng. Đồng thời tôi chán ghét tụi ở thành thị làm giàu trên xương máu đồng loại.

Tôi muốn là một tuổi trẻ phiêu lưu trên đường tìm kiếm những cảm giác. Tôi lên giường tắt đèn đi ngủ còn nghe thấy tiếng ru của thím tôi và những tiếng kẻng cầm canh ở trạm gác ngoài đầu cầu.


3.

Tôi bỏ đoạn cửa Bắc rợp bóng lá sấu trở về dốc hàng Than chờ xe điện đi Yên Phụ. Buổi chiều những vầng mây đỏ chói dát lên bầu trời. Tôi nghĩ về Hiền, rất có thể tôi sẽ ở lại ăn cơm ở đấy. Lên xe điện tôi đứng ở ngay cuối toa, những người khách ồn ào trong toa xe đã bật đèn nhá nhem, từng hồi chuông reo lên. Lúc qua chùa Hoà Giai tôi nghe thấy hồi mõ đều đều và lời tụng kinh vang lên. Từ chỗ nhà dép cao su Con Hổ, toa tàu chạy giữa bãi cỏ ven bờ đê, bên kia bãi Phúc Xá có vài ánh lửa nhỏ.

Tôi bước chân vào căn nhà quen thuộc khi Hiền bắt đầu đóng cửa hàng cho mẹ. Lúc thấy tôi nàng ngừng lại nói như trách, khi tôi đứng ở ngưỡng cửa:

"Sao lâu anh không lên, mẹ em nhắc anh luôn. Em nói hồi này anh bận học thi không thong thả".

"Chắc em nói đúng, anh đói bụng đó".

"Thế thì hay quá".

Tôi chào mẹ Hiền ở trong nhà, bà cụ đang thắp đèn ở bàn thờ.

Tôi ngồi một mình ở chiếc ghế mây lớn nơi góc nhà ngoài. Tự nhiên thấy lòng êm dịu hẳn xuống, nhìn Hiền thấp thoáng ở ngoài tôi thấy vui vui. Tôi không hiểu chúng tôi đã yêu nhau từ bao giờ. Nhưng đến bây giờ thì giữa chúng tôi đã có quá nhiều kỷ niệm thân thiết để sống. Ngồi ở đây tôi lại nghĩ đến nhà tôi, nhưng sao không cưới Hiền rồi tôi có thể chung sống với nhau ở đây. Nhưng tuyệt nhiên giữa chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chúng tôi lấy nhau, lập gia đình rồi đoàn tụ bên nhau. Tự nhiên trong tôi lại mang những ý nghĩ tan vỡ. Tôi thấy bất lực. Nếu như lấy nàng rồi tôi có mang hạnh phúc cho ai không? Và chính ngay cả tôi nữa? Những bom đạn, khói lửa ngột ngạt bên những cái chết cách chúng tôi không xa, làm tôi cảm thấy cái hèn mọn của số phận, cái bất trắc của cuộc sống. Bao nhiêu xao xuyến, lo âu vây phủ thường trực trí não tôi.

Hiền trở vào rót nước, bà cụ ở nhà trong trở ra, tôi nhớ về lời của Trương.

"Thưa bác, cháu mới có anh bạn bắt được tin về anh Thịnh".

"Làm sao?"

"Anh còn sống, và hiện ở khu ba".

"Trời Phật… Bác lại mới mê gặp nó làm bác cứ bần thần cả người, làm sao để có thể nhắn cho nó biết tin nhỉ? Thật quá lâu rồi… Bác tưởng chẳng bao giờ".

"Để xem có ai ra ngoài thì viết thư cho anh con mới được. Bây giờ gặp hẳn anh Thịnh đổi khác lắm nhỉ, chắc anh ấy phải già lắm rồi".

"Chuyện như cô, lại không khác sao. Giá không tao loạn thì nó cũng có gia đình, có con rồi chứ. Cả cô nữa, tưởng còn bé lắm. Đến như đẻ mới mấy năm nay mà tưởng như… chắc nó vẫn thế. Không hiểu nó bây giờ làm gì? Có cách nào nhắn nó vào được không nhỉ?"

Qua câu chuyện, những kỷ niệm về người vắng mặt được gợi đến. Từ những sở thích, tính nết… những âu yếm của một người mẹ dành cho một người con. Thịnh là con thứ hai, nhưng mẹ Thịnh vẫn cho là chỉ mình Thịnh có dòng máu của cha - người cha đã bao năm bôn đào vào tù ra khám vì những hoạt động rồi chết ở hải ngoại để lại nơi tâm khảm vợ một nỗi buồn không dứt. Từ ngày lớn lên ở Thịnh đã có những cái gì khiến cho người mẹ nhận ra. Có lẽ cũng vì thế Thịnh được yêu hơn. Anh ruột Thịnh là người lớn tuổi hơn thì an phận với một chân công chức. Nghĩa thờ ơ tất cả, chí thú vào những việc nhỏ như nghĩ đến một đời sống tầm thường. Giữa những biến cố Thịnh phóng mình ra ở những đoạn đầu với một lòng đam mê bồng bột, Nghĩa thu mình về với mẹ và nghĩ đến một gia đình nhỏ do anh tự lập.

Tôi nghĩ về Thịnh như một hình bóng kiêu ngạo, tự đắc. Trong bữa cơm tối tôi bảo Hiền:

"Giá anh cũng đi như anh Thịnh?"

"Anh dọa em chắc, bây giờ anh vẫn có thể đi được chứ sao. Anh có biết là có người rủ em ra ngoài".

"Ra ngoài?"

"Chứ sao… nhưng em không có thì giờ để nghĩ đến".

"Anh Vịnh cũng sắp đi".

"Còn anh…"

"Có thể chứ".

"Em biết mà, hồi xưa anh Thịnh, à quên anh gì chứ… bảo là anh có một cô nhân tình hiện làm cứu thương ở ngoài ấy… nghe đâu hồi còn ở thành anh yêu cô ta, mỗi buổi tối đi qua cửa nhà cô ta hàng chục lần. Sau cô ta thương hại rủ đi chơi Cổ Ngư. Chiều sau đó không gặp, anh ốm tương tư bỏ cả học thôi…"

"À lạ nhỉ… thôi anh đi theo quách cô ta cho rồi".

Tôi cười nhìn Hiền. Khuôn mặt nàng khuất một nửa vào ánh đèn. Tôi gặp một đôi mắt đen tha thiết nhìn tôi, mái tóc vắt ở một bên vai, nàng đang dùng tay vuốt vẻ mềm mại.

"Sao hồi này anh gầy đi nhiều?"

"Em nhầm chứ anh có sao đâu. Đời sống dễ chịu… không lo nghĩ".

Mẹ Hiền giục Hiền dọn cơm và bảo tôi ăn - như những lần trước; tôi ngồi lên giường ăn cơm bên một chiếc mâm gỗ. Tôi ăn ngon lành.

Khi tôi ra về thì không còn tàu điện nữa. Hiền đưa tôi ra đầu nhà in Ideo.

"Lâu em có được tin của Lâm không?"

"Không. Thôi đừng nhắc lại chuyện đó nữa".

Tôi từ giã Hiền. Đường phố và bóng đêm. Tiếng còi nhà máy đèn kêu nhỏ.
Nguồn: Tuổi nước độc. Truyện dài của Dương Nghiễm Mậu, mẫu bìa của Văn Thanh, do tập san Văn xuất bản lần thứ nhất. In tại nhà in riêng của Văn, xong ngày 28-01-1966. Ngoài ấn bản thường, có in riêng 50 cuốn đặc biệt trên giấy trắng mịn dành cho tác giả và nhà xuất bản. Giấy phép xuất bản số 4809/LCBC3/XB, Sài Gòn ngày 15-11-1965. Giá 20đ. Bản điện tử do talawas thực hiện dưới sự cho phép của tác giả.