trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 208 bài
  1 - 20 / 208 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngTriết học
13.9.2008
Karl Popper
Biện chứng là gì?
Đinh Tuấn Minh dịch
 1   2 
 
2. Phép biện chứng của Hegel

Ở phần trước tôi đã cố gắng phác họa nội dung của phép biện chứng theo một cách thức mà tôi hy vọng khiến nó trở nên có ý nghĩa, và mục đích của tôi không phải là hạ thấp giá trị của nó. Trong phác họa đó, phép biện chứng được trình bày như là một cách thức mô tả các quá trình phát triển; như là một trong nhiều cách thức, nó không có được tính chất nền tảng, mà chỉ đôi khi phù hợp. Đối lập với quan điểm này là một lý thuyết biện chứng đã được thiết lập, chẳng hạn bởi Hegel và trường phái của ông, vốn phóng đại tầm quan trọng của phép biện chứng, và dẫn đến sai lạc đầy nguy hiểm.

Để làm cho phép biện chứng của Hegel trở nên có thể hiểu được chúng ta nên đề cập đôi chút tới một chương trong lịch sử triết học – theo ý kiến riêng của tôi thì đó không phải là một chương vẻ vang gì cho lắm.

Một vấn đề trọng tâm trong lịch sử triết học hiện đại là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy lý Descartes (chủ yếu ở châu Âu lục địa) ở một bên, và chủ nghĩa thực nghiệm (chủ yếu ở Liên hiệp Anh) ở bên kia. Câu nói của Descartes mà tôi sử dụng làm đề dẫn ở đầu bài luận này theo cách hiểu mà tôi đã cố gắng trình bày không phải là theo chủ ý của Descartes, cha đẻ của trường phái duy lý. Nó không được chủ định để đóng vai trò như là một gợi mở rằng tâm trí con người phải thử mọi cách thức để đạt được cái gì đó – nghĩa là, đạt được một giải pháp hữu ích nhất định nào đó – mà chỉ là một phê phán đầy bực tức đối với những ai dám thử làm những thứ vô nghĩa như thế. Điều Descartes muốn nói, ý tưởng chính đằng sau câu nói đó, là: một triết gia thực thụ nên cẩn thận tránh các ý tưởng vô nghĩa và ngu ngốc. Để tìm ra chân giá trị anh ta chỉ được phép chấp nhận một số rất ít các ý tưởng, những ý tưởng thuyết phục được lý tính bằng sự sáng sủa của chúng, bằng sự mạch lạc và minh bạch của chúng, nói ngắn gọn, các ý tưởng “tự thân đã rõ ràng” (self-evident). Quan điểm của trường phái Descartes là: chúng ta có thể xây dựng được các lý thuyết khoa học có khả năng giải thích mà không cần phải trông cậy vào kinh nghiệm, tức là chỉ cần trông cậy vào việc sử dụng lý tính của chúng ta; vì rằng mọi định đề có khả năng lý giải (nghĩa là, một định đề phó thác chính nó cho tính sáng sủa của nó) phải là một mô tả chân thực các thực tế (facts). Đấy là một tóm lược cái lý thuyết mà lịch sử triết học gọi là “chủ nghĩa duy lý”. (Một cái tên tốt hơn có lẽ là “chủ nghĩa duy trí tuệ” (intellectualism)). Có thể tóm tắt lý thuyết đó (sử dụng một diễn ngôn được đưa ra mãi sau này bởi Hegel) trong vài từ: “cái gì mà có lý tất phải có thực”.

Đối lập với lý thuyết này, chủ nghĩa thực nghiệm cho rằng: chỉ kinh nghiệm mới cho phép chúng ta quyết định tính chân hoặc giả của một lý thuyết khoa học. Theo chủ nghĩa thực nghiệm, chỉ lý lẽ thuần túy không thôi không thể nào thiết lập được chân giá trị thực sự; chúng ta phải sử dụng quan sát và thí nghiệm. Có thể an toàn nói rằng, chủ nghĩa thực nghiệm, dưới hình thức này hay hình thức khác, dù đó có là một hình thức mới nhất và đã được điều chỉnh, là cách lý giải phương pháp nghiên cứu khoa học duy nhất còn được tiếp nhận nghiêm túc trong thời đại của chúng ta. Cuộc đấu tranh giữa trường phái duy lý và trường phái thực nghiệm thủa ban sơ đã được bàn đến kỹ lưỡng bởi Kant, người đã nỗ lực đưa ra cái mà một nhà biện chứng (nhưng không phải là Kant) có thể coi là một hợp đề của hai quan niệm đối lập, nhưng chính xác ra thì đó là một phiên bản của chủ nghĩa thực nghiệm. Mục tiêu chính của ông là bác bỏ chủ nghĩa duy lý thuần túy. Trong Critique of Pure Reason [Phê phán lý tính thuần túy – ND], Kant đã nhận định rằng phạm vi hiểu biết của chúng ta bị giới hạn bởi khung vực của kinh nghiệm khả thể, và rằng lý lẽ tư biện vượt quá khung vực này – nỗ lực để xây dựng một hệ thống siêu hình vượt ra ngoài lý tính thuần túy – không có bất kỳ cơ sở biện minh nào cả. Phê phán lý tính thuần túy này tựa như một gáo nước lạnh dội vào hy vọng của hầu hết các triết gia châu Âu lục địa; tuy thế các triết gia Đức đã hồi phục và, thay vì bị phản bác của Kant về siêu hình học thuyết phục, họ đã nhanh chóng xây dựng các hệ thống siêu hình mới dựa trên “trực giác trí tuệ” (intellectual intuition). Họ đã cố gắng sử dụng một số các yếu tố nhất định của hệ thống của Kant, nhờ đó hy vọng trốn tránh được đòn tấn công chính yếu trong phê phán của ông. Cái trường phái được xây dựng, thường được gọi là trường phái của các nhà duy tâm Đức, đã tích tụ tới đỉnh điểm trong Hegel.

Có hai khía cạnh của triết học Hegel mà chúng ta phải xem xét – chủ nghĩa duy tâm và phép biện chứng của ông. Trong cả hai trường hợp Hegel đã chịu ảnh hưởng từ một số các ý tưởng của Kant, nhưng ông đã cố gắng tiến xa hơn. Do đó, để hiểu Hegel chúng ta phải chỉ ra lý thuyết của ông đã sử dụng những yếu tố nào của Kant.

Kant đã khởi đầu từ thực tế rằng khoa học tồn tại. Ông muốn giải thích thực tế này; nghĩa là, ông muốn trả lời câu hỏi: “Khoa học có khả năng như thế nào?”, hoặc, “các tâm trí con người có khả năng gặt hái tri thức về thế giới như thế nào?”, hoặc, “tâm trí của chúng ta có thể thấu hiểu thế giới như thế nào?” (Chúng ta có lẽ nên gọi câu hỏi này là vấn đề nhận thức luận).

Lý lẽ của ông về cơ bản như sau. Tâm trí có thể thấu hiểu thế giới, hay đúng hơn là thế giới như nó xuất hiện trước mắt chúng ta, bởi vì thế giới này không hoàn toàn khác biệt với tâm trí – bởi vì nó tựa-như-tâm-trí (mind-like). Và nó là như thế, bởi vì trong quá trình tiếp nhận tri thức, thấu hiểu thế giới, tâm trí chủ động sàng lọc hấp thụ, nếu có thể nói vậy, tất cả mọi vật liệu đi vào nó qua các giác quan. Nó hình thành, nhào nặn vật liệu này; nó áp lên vật liệu đó các hình hài hoặc các qui luật từ trong nó – các hình hài và các qui luật của tư duy chúng ta. Cái chúng ta gọi là “tự nhiên” – thế giới tại đó chúng ta sống, thế giới như nó xuất hiện trước mắt chúng ta – đã là một thế giới được tinh lọc, một thế giới được tạo hình hài, bởi tâm trí của chúng ta. Và vì là nó được làm đồng dạng bởi tâm trí, nó tựa-như-tâm-trí.

Câu trả lời, “Tâm trí có thể thấu hiểu thế giới bởi vì thế giới như nó xuất hiện trước mắt chúng ta tựa-như-tâm-trí” là một lý lẽ theo kiểu chủ nghĩa duy tâm; vì rằng chủ nghĩa duy tâm nhận định đơn giản là: thế giới có một cái gì đó mang đặc tính của tâm trí.

Ở đây tôi không có ý định lập luận ủng hộ hay phản bác lại cái nhận thức luận này của Kant và tôi không có ý định bàn thảo nó chi tiết. Nhưng tôi muốn chỉ ra rằng lý lẽ đó tất nhiên không duy tâm hoàn toàn. Nó là, như chính bản thân Kant chỉ ra, một sự pha tạp hoặc một hợp đề, một chút duy thực chủ nghĩa và một chút duy tâm chủ nghĩa – phần tử duy thực chủ nghĩa của nó là nhận định rằng thế giới, như nó xuất hiện trước mắt chúng ta, là một thứ vật chất gì đó được tạo hình hài bởi tâm trí chúng ta, trong khi ngược lại yếu tố duy tâm chủ nghĩa là nhận định rằng thế giới là một thứ vật chất gì đó được tạo hình hài bởi tâm trí chúng ta.

Đấy là nhận thức luận tương đối trừu tượng nhưng tất nhiên lại đầy sáng tạo của Kant. Trước khi tôi chuyển sang Hegel, tôi cầu mong những độc giả (những người tôi ưa thích nhất), những người không phải là các triết gia và đã quen với việc trông cậy vào cảm nhận thông thường của mình để ghi nhớ cái câu tôi chọn làm câu đề dẫn cho bài luận này; vì rằng cái câu mà họ nếu nghe bây giờ có lẽ sẽ là một câu ngớ ngẩn - theo ý kiến của tôi thì đây là thái độ hoàn toàn đúng đắn.

Như tôi đã nói, Hegel với chủ nghĩa duy tâm của mình đã đi xa hơn Kant. Hegel cũng quan tâm tới câu hỏi về nhận thức luận, “Các tâm trí của chúng ta có thể thấu hiểu thế giới như thế nào?” Cùng với các nhà duy tâm chủ nghĩa khác, ông trả lời: “Bởi vì thế giới tựa-như-tâm-trí”. Nhưng lý thuyết của ông cực đoan hơn của Kant. Ông nói, “bởi vì tâm trí thế giới”; hoặc dưới một dạng khác, “Bởi vì cái hữu lý là có thực; bởi vì thực tồn (reality) và lý tính là đồng nhất”.

Đấy là cái được gọi là “triết lý về sự đồng nhất giữa lý tính và thực tồn” của Hegel, hoặc nói ngắn gọn, “triết lý về sự đồng nhất” của ông. Cần lưu ý rằng giữa các câu trả lời về nhận thức luận của Kant, “Bởi vì tâm trí tạo hình hài cho thế giới”, và triết lý về sự đồng nhất của Hegel, “Bởi vì tâm trí là thế giới”, có một khoảng cách – đó là câu trả lời của Fichte, “Bởi vì tâm trí tạo ra thế giới”. [1]

Triết lý về sự đồng nhất của Hegel, “Cái gì mà hữu lý là có thực, và cái gì mà có thực thì hữu lý; do vậy, lý tính và thực tồn là đồng nhất”, không nghi ngờ gì là một cố gắng hòng tái xác lập chủ nghĩa duy lý trên một nền móng mới. Nó đã cho phép triết gia xây dựng một lý thuyết về thế giới ngoài khuôn khổ của lý tính thuần tuý và để xác lập điều này thì đây phải là một lý thuyết đúng về thế giới thực. Do đó nó đã cho phép chính xác cái theo Kant là bất khả trở thành khả thể. Do đó, Hegel đã có khuynh hướng muốn bác bỏ các lý lẽ của Kant chống lại siêu hình. Ông đã tiến hành điều này với sự trợ giúp của phép biện chứng của ông.

Để hiểu phép biện chứng của ông, một lần nữa chúng ta phải trở lại Kant. Để tránh quá chi tiết, tôi sẽ không bàn về việc xây dựng bảng tam phân các phạm trù của Kant, mặc dù không nghi ngờ gì rằng đây là cái đã truyền cảm hứng cho Hegel. [2] Nhưng tôi phải đề cập tới phương pháp của Kant trong việc bác bỏ chủ nghĩa duy lý. Tôi đã đề cập ở trên rằng Kant đã khẳng định rằng phạm vi hiểu biết của chúng ta bị giới hạn bởi khung giới của kinh nghiệm khả thể và rằng lý lẽ thuần tuý vượt ra khỏi khung giới này không có cơ sở biện minh. Trong một phần của cuốn Critique mà ông đặt tiêu đề là “Phép biện chứng siêu nghiệm”, ông đã chỉ ra điều này như sau. Nếu chúng ta muốn xây dựng một hệ thống lý thuyết vượt ra khỏi lý tính thuần tuý – chẳng hạn, nếu chúng ta cố gắng lập luận rằng thế giới tại đó chúng ta sống là vô hạn (một ý tưởng hiển nhiên vượt ra khỏi phạm vi kinh nghiệm khả thể) – thì chúng ta có thể làm được việc đó; nhưng chúng ta sẽ lại thấy nhụt trí vì rằng chúng ta có thể luôn lập luận được, với sự trợ giúp của các lý lẽ tương tự, một kết quả đối lập. Nói cách khác, với một chính đề siêu hình như thế được cho trước, chúng ta luôn có thể xây dựng và bảo vệ được một phản đề chính hiệu (exact antithesis); và với bất kỳ lý lẽ nào tán đồng chính đề, chúng ta có thể dễ dàng xây dựng được một lý lẽ đối lập với nó, tức tán đồng phản đề. Và cả hai lý lẽ đều mang trong mình một sức mạnh và độ thuyết phục tương tự nhau – cả hai lý lẽ đều có vẻ có lý ngang nhau, hoặc hầu như ngang nhau. Do vậy, Kant đã phát biểu, lý tính có xu hướng lập luận chống lại chính nó và mâu thuẫn với chính nó, trong trường hợp nó được sử dụng ngoài khung giới của kinh nghiệm khả thể.

Nếu như tôi phải đưa ra một loại tái dựng hiện đại hoặc diễn giải lại Kant, chệch khỏi quan điểm của chính Kant về cái ông đã tiến hành, thì tôi sẽ nói rằng Kant đã chỉ ra được rằng nguyên lý siêu hình về tính hữu lý hoặc tính đúng-tự-thân rõ ràng không dẫn đến một và chỉ một kết quả hay lý thuyết. Luôn có khả năng lập luận, với mức độ có lý dễ thấy tương tự, để bảo vệ một số các lý thuyết khác nhau, và thậm chí các lý thuyết đối lập nhau. Do vậy, nếu chúng ta không có sự trợ giúp từ kinh nghiệm, nếu chúng ta không thể tiến hành các thí nghiệm hoặc các quan sát để ít ra là loại trừ các lý thuyết nhất định – cụ thể là những lý thuyết mà dù là có vẻ hoàn toàn có lý, nhưng lại trái ngược với những thực tế quan sát được – thì chúng ta không có hy vọng giải quyết được các tranh chấp giữa các lý thuyết cạnh tranh lẫn nhau.

Hegel đã vượt qua sự bác bỏ của Kant về chủ nghĩa duy lý như thế nào? Rất dễ dàng, bằng cách khẳng định là các mâu thuẫn không gây ra vấn đề gì cả. Chúng tất phải xuất hiện trong quá trình phát triển của tư duy và lý tính. Chúng chỉ phơi bày ra khiếm khuyết của lý thuyết mà không cân nhắc đến sự thực rằng tư duy, nghĩa là lý tính, và cùng với nó là thực tồn (theo triết lý về sự đồng nhất), không phải là một cái gì đó cố định muôn thủa, mà là đang phát triển – nghĩa là chúng ta sống trong một thế giới tiến hoá. Vì thế theo Hegel thì Kant đã bác bỏ siêu hình học chứ không bác bỏ chủ nghĩa duy lý. Vì rằng cái Hegel gọi là “siêu hình học”, như là thứ đối lập với “phép biện chứng”, chỉ là một hệ thống duy lý mà không xem xét đến yếu tố tiến hoá, vận động, phát triển, và do đó cố gắng hình dung thực tồn như là một cái gì đó ổn định, không vận động, và giải thoát khỏi các mâu thuẫn. Hegel, trong triết lý của ông về sự đồng nhất, luận giải rằng vì lý tính phát triển, thế giới phải phát triển, và vì sự phát triển của tư duy hoặc lý tính là một quá trình biện chứng, thế giới cũng phải phát triển theo các tam đoạn biện chứng.

Do vậy, chúng ta tìm thấy ba hạt nhân trong phép biện chứng của Hegel như sau.

(a) Một nỗ lực thoát khỏi sự bác bỏ của Kant về cái mà Kant gọi là “chủ nghĩa giáo điều” trong siêu hình học.Theo Hegel, sự bác bỏ này chỉ đúng đối với các hệ thống siêu hình học theo nghĩa hẹp hơn của ông, chứ không phải là đối với chủ nghĩa duy lý biện chứng, vốn xét đến sự phát triển của lý tính và do vậy không sợ các mâu thuẫn. Để thoát khỏi sự phê phán của Kant theo hướng này, Hegel dấn thân vào một hành trình cực kỳ nguy hiểm, tất dẫn đến thảm hoạ, do ông lập luận theo cách đại thể như sau: “Kant đã bác bỏ chủ nghĩa duy lý bằng cách nói rằng nó tất dẫn tới các mâu thuẫn. Tôi thừa nhận điều đó. Nhưng rõ ràng là lý lẽ này dựa trên sức mạnh của qui luật về mâu thuẫn: nó bác bỏ chỉ những hệ thống mà chấp nhận qui luật này, nghĩa là những hệ thống cố gắng giải thoát khỏi các mâu thuẫn. Nó không gây nguy hiểm cho một hệ thống như của tôi, vốn được tạo dựng để sống chung với mâu thuẫn – nghĩa là, nó không nguy hiểm đối với một hệ thống biện chứng”. Rõ ràng lý lẽ này dựng lên một chủ nghĩa giáo điều thuộc loại cực kỳ nguy hiểm – một chủ nghĩa giáo điều không còn sợ hãi bất kỳ loại tấn công nào.Vì rằng bất kỳ cuộc tấn công nào, bất kỳ sự phê phán đối với một lý thuyết nào, đều phải dựa trên việc chỉ ra một loại mâu thuẫn nhất định nào đó, hoặc trong bản thân lý thuyết đó hoặc giữa lý thuyết với một số các thực tế, như tôi đã chỉ ra ở trên. Do đó, phương thuốc vượt qua Kant của Hegel có hiệu nghiệm, nhưng đáng tiếc là lại quá liều. Nó khiến cho hệ thống của ông được bảo vệ an toàn khỏi mọi loại phê phán hoặc tấn công và vì thế nó là giáo điều theo một nghĩa rất chi là đặc thù, đến mức tôi thấy cần phải đặt cho nó một cái tên: “chủ nghĩa giáo điều được gia cố” (reinforced dogmatisms). (Cần phải lưu ý rằng các chủ nghĩa giáo điều được gia cố cũng có tác dụng bổ trợ cho các cấu trúc của các hệ thống giáo điều tương tự khác).

(b) Sự mô tả quá trình phát triển của lý tính như là một quá trình biện chứng là một hạt nhân đượm nhiều vẻ đáng tin cậy trong triết học của Hegel. Điều này trở nên rõ ràng nếu chúng ta nhớ lại rằng Hegel sử dụng từ “lý tính” không chỉ theo nghĩa chủ quan, để ám chỉ một năng lực tâm trí nhất định, mà còn theo nghĩa khách quan, để chỉ tất cả các loại lý thuyết, các loại tư tưởng, các loại ý tưởng, và v.v. Vì Hegel là người cho rằng triết học là biểu hiện cao nhất của lập luận, nên trong tâm trí ông, sự phát triển của lập luận đa phần là sự phát triển của tư duy triết học. Và thực sự thì hầu như không ở đâu tam đoạn biện chứng lại có thể thành công hơn khi được áp dụng vào việc nghiên cứu sự phát triển của các triết thuyết, và do đó không có gì ngạc nhiên khi công trình áp dụng thành công nhất của Hegel trong việc áp dụng phương pháp biện chứng là tác phẩm Lịch sử triết học của ông.

Để hiểu được sự nguy hiểm gắn với một sự thành công như thế, chúng ta phải nhớ lại rằng trong thời đại của Hegel – và thậm chí mãi sau này – logic học thường được mô tả và định nghĩa như là lý thuyết về sự lập luận hoặc lý thuyết về quá trình tư duy, và tương ứng, các qui luật cơ bản của logic thường được gọi là “các qui luật của tư duy”. Do đó, hoàn toàn có thể hiểu được việc Hegel, người tin rằng phép biện chứng là một sự mô tả chân thực quá trình lập luận và tư duy trên thực tế của chúng ta, quả quyết rằng ông phải thay đổi logic học để sao cho phép biện chứng trở thành phần quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, của lý thuyết logic. Điều này tất dẫn đến việc phải loại bỏ “qui luật về mâu thuẫn”, thứ rõ ràng là một trở ngại khủng khiếp đối với việc chấp nhận phép biện chứng. Ở đây chúng ta bắt gặp nguồn gốc của quan điểm cho rằng phép biện chứng là “nền tảng” theo nghĩa nó có thể sánh ngang được với logic học, nó tiến bộ hơn hẳn logic học. Tôi đã phê phán cách nhìn nhận về biện chứng theo kiểu này, và tôi chỉ muốn nhắc lại rằng bất kỳ loại lập luận logic nào, bất kể là trước hay sau Hegel, và bất kể trong khoa học hay trong toán học hay trong bất kỳ lĩnh vực triết học hữu lý thực sự nào, đều luôn dựa trên qui luật về mâu thuẫn. Nhưng Hegel lại viết (Logic, tiết 81, (1)): “Điều tối quan trọng là phải nắm vững và hiểu đúng đắn bản chất của Biện Chứng. Bất cứ ở đâu có sự vận động, bất cứ ở đâu có sự sống, bất cứ ở đâu có một cái gì đó gây ra ảnh hưởng đối với thế giới thực, thì ở đó có sự hiện diện của Biện Chứng. Nó cũng là linh hồn của mọi tri thức được xem là thực sự khoa học”.

Nhưng nếu Hegel coi lập luận biện chứng là một lập luận loại bỏ qui luật về mâu thuẫn, thì dĩ nhiên ông sẽ không thể đưa ra được bất kỳ ví dụ nào về việc áp dụng lập luận kiểu đó trong khoa học. (Có nhiều ví dụ được các nhà biện chứng đưa ra nhưng đều không khá hơn các ví dụ của Engels đã được đề cập ở trên – về ngũ cốc và (-a)2 = a2). Bản thân lập luận khoa học không khi nào lại dựa trên phép biện chứng; chỉ có lịch sử và sự phát triển của các lý thuyết khoa học là có thể được mô tả ở một mức độ nhất định bằng phương pháp biện chứng. Như chúng ta đã biết, thực tế này không thể dùng để biện minh cho việc chấp nhận phép biện chứng như là một cái gì đó có tính nền tảng, bởi vì có thể giải thích được thực tế đó mà không cần phải ra ngoài khỏi phạm vi của logic thông thường nếu chúng ta nhớ lại sự vận hành của phương pháp thử-và-sai.

Hiểm nguy chính của sự nhầm lẫn như thế giữa phép biện chứng và logic học là: như tôi đã nói, nó cho phép người ta lập luận một cách giáo điều. Vì rằng chúng ta quá thường xuyên bắt gặp những nhà biện chứng, khi gặp khó khăn về mặt logic, luôn nói với đối thủ của họ như là một phương sách cuối cùng rằng phê phán của [các đối thủ của] họ là sai bởi vì nó dựa trên logic thông thường thay vì dựa trên phép biện chứng; giá như họ chỉ sử dụng phép biện chứng, họ sẽ thấy rằng các mâu thuẫn mà họ đã phát hiện ra trong một số các lý lẽ nào đó của các nhà biện chứng là hoàn toàn hợp lệ (ấy là từ quan điểm biện chứng).

(c) Hạt nhân thứ ba trong phép biện chứng của Hegel được dựa trên triết lý của ông về sự đồng nhất. Nếu lý tính và thực tồn là đồng nhất và lý tính phát triển một cách biện chứng (như được minh hoạ rất rõ ràng qua sự phát triển của tư tưởng triết học), thì thực tồn cũng phải phát triển một cách biện chứng. Thế giới phải bị trị vì bởi các qui luật của logic biện chứng. (Lập trường này được gọi là “thuyết phiếm logic” – panlogism). Do đó, chúng ta phải tìm thấy trên thế giới các mâu thuẫn giống như những mâu thuẫn được logic biện chứng chấp nhận. Điều này chính xác là vậy vì trên thực tế thế giới ngập tràn các mâu thuẫn, và đây cũng là một lý do nhìn từ một góc độ khác để loại bỏ qui luật về mâu thuẫn. Vì rằng qui luật này phát biểu rằng không có các định đề chứa mâu thuẫn nội tại, không có một cặp các định đề mâu thuẫn nhau nào lại có thể đúng được, nghĩa là, có thể tương ứng với các thực tế. Nói cách khác, qui luật này ngụ ý rằng một mâu thuẫn không khi nào có thể xảy ra trong thế giới thực, nghĩa là trong thế giới của các thực tế (facts), và rằng các thực tế không khi nào lại mâu thuẫn lẫn nhau. Nhưng trên nền tảng của triết lý về sự đồng nhất giữa lý tính và thực tồn, người ta có thể nhận định rằng các thực tế có thể mâu thuẫn lẫn nhau do các ý tưởng có thể mâu thuẫn lẫn nhau và các thực tế phát triển thông qua các mâu thuẫn, giống như là sự phát triển của các ý tưởng; vì thế, qui luật về mâu thuẫn phải bị vứt bỏ.

Tạm rời khỏi cái đối với tôi là sự ngớ ngẩn khủng khiếp của triết lý về sự đồng nhất (điều mà tôi sẽ nói đôi chút phía dưới đây), nếu chúng ta soi sét kỹ lưỡng hơn những thực tế mà được gọi là mâu thuẫn nhau, thì chúng ta thấy rằng tất cả các ví dụ mà các nhà biện chứng cung cấp chỉ chỉ ra rằng cái thế giới mà chúng ta sống đôi lúc thể hiện một cấu trúc nhất định, một cấu trúc mà có lẽ có thể được mô tả bằng từ “đối cực” (polarity). Một ví dụ của cấu trúc này có lẽ là sự tồn tại của điện dương và âm. Việc nói rằng, chẳng hạn, điện dương và điện âm mâu thuẫn lẫn nhau chỉ là một kiểu nói ẩn dụ và lỏng lẻo. Một ví dụ về một mâu thuẫn thực sự có lẽ là hai câu sau: “Vào ngày 1 tháng 11 năm 1938, trong khoảng từ 9 h tới 10h sáng, vật thể này ở chỗ này đã tích điện dương”, và một câu tương tự về cùng một vật thể, nói rằng đồng thời nó không bị nhiễm điện dương.

Đấy có lẽ là một mâu thuẫn giữa hai câu và thực tế đối lập tương ứng có lẽ là sự thực rằng một vật thể, như là một tổng thể, tại cùng một thời điểm vừa nhiễm điện dương vừa không nhiễm điện dương, và do đó, tại cùng một thời điểm vừa hút và vừa không hút các vật thể bị nhiễm điện âm nhất định nào đó. Nhưng chúng ta không có quyền nói rằng các thực tế mâu thuẫn nhau như thế tồn tại. (Một phân tích sâu hơn có lẽ chỉ ra rằng sự không tồn tại của các thực tế như thế không phải là một qui luật giống như các qui luật vật lý, mà là qui luật được dựa trên logic học, nghĩa là, dựa trên các qui tắc chi phối việc sử dụng ngôn ngữ khoa học).

Tóm lại, có ba điểm: (a) Sự đối lập của phép biện chứng với tư tưởng chống chủ nghĩa duy lý của Kant, và hệ quả là sự tái thiết lập chủ nghĩa duy lý được củng cố bởi một chủ nghĩa giáo điều được gia cố; (b) Việc lồng phép biện chứng vào logic học, được xây dựng dựa trên nền tảng về sự mơ hồ của các biểu ngữ như “lý tính”, “các qui luật về tư duy”, và v.v.; (c) Việc áp dụng phép biện chứng cho toàn bộ thế giới, dựa trên thuyết phiếm logic của Hegel và triết lý về sự đồng nhất của ông. Ba điểm này đối với tôi là ba hạt nhân chính của phép biện chứng Hegel. Trước khi tiếp tục khảo lược nghiệp chướng của phép biện chứng sau Hegel, tôi muốn bày tỏ ý kiến cá nhân của tôi về triết học của Hegel, và đặc biệt là triết lý của ông về sự đồng nhất. Tôi nghĩ nó là một lý thuyết tồi tệ nhất trong số tất cả các lý thuyết ngớ ngẩn và nhảm nhí mà Descartes đề cập đến trong câu tôi chọn làm đề dẫn cho bài luận này. Không chỉ là việc triết lý về sự đồng nhất được đưa ra mà chẳng dựa trên bất kỳ một lý lẽ nghiêm túc nào; mà ngay cả vấn đề đã khiến nó được phát minh ra để giải đáp – câu hỏi, “Tâm trí của chúng ta có thể thấu hiểu thế giới như thế nào?” – đối với tôi cũng hoàn toàn không được thiết lập một cách rõ ràng. Và câu trả lời duy tâm chủ nghĩa, dù có khác nhau giữa những triết gia duy tâm khác nhau nhưng về cơ bản vẫn không đổi, cụ thể là “Bởi vì thế giới tựa-như-tâm-trí”, chỉ là hình dáng bên ngoài của một câu trả lời [đích thực]. Chúng ta sẽ thấy rõ ràng rằng đấy không phải là một câu trả lời thực sự nếu chúng ta vẫn chỉ xem xét một lý lẽ tương tự nào đó, chẳng hạn: “Chiếc gương này có thể phản chiếu khuôn mặt tôi như thế nào?” – “Bởi vì nó tựa-như-khuôn-mặt”. Mặc dù loại lý lẽ này hiển nhiên không thể nào ngửi được, nó đã được tái hiện liên tục. Chẳng hạn, chúng ta thấy nó đã được tạo dựng bởi Jeans trong thời đại của chúng ta theo mô-tuýp như sau: “Toán học có thể thấu hiểu thế giới như thế nào?” – “Bởi vì thế giới tựa-như-toán-học”. Do đó, ông lập luận rằng thực tồn mang bản chất của toán học – nghĩa là thế giới là một tư duy toán học (và do vậy lý tưởng). Lý lẽ này hiển nhiên không khá hơn lý lẽ sau: “Ngôn ngữ có thể mô tả thế giới như thế nào?” – “Bởi vì thế giới tựa-như-ngôn-ngữ – nó thuộc ngôn ngữ”, và không khá hơn: “Ngôn ngữ tiếng Anh có thể mô tả thế giới như thế nào?” – “Bởi vì thế giới tựa-như-tiếng-Anh từ trong bản chất”. Dễ dàng thấy được rằng cái lý lẽ cuối cùng thực sự tương tự như lý lẽ do Jeans đưa ra nếu như chúng ta nhận ra được rằng mô tả toán học về thế giới chỉ là một phương cách nhất định để mô tả thế giới, ngoài ra không còn vai trò gì khác, và rằng toán học cung cấp cho chúng ta một phương tiện để mô tả – một ngôn ngữ thực sự phong phú.

Có lẽ hầu như ai cũng có thể chỉ ra điều này một cách dễ dàng thông qua sự trợ giúp của một ví dụ thông thường. Có những ngôn ngữ tiền sử không sử dụng các con số, mà chỉ thể hiện các ý tưởng số học thông qua các biểu ngữ thể hiện các con số một, hai, và nhiều. Rõ ràng rằng một ngôn ngữ như thế không có khả năng mô tả một số các mối quan hệ tương đối phức tạp giữa những nhóm khách thể nhất định, mà có thể được mô tả một cách dễ dàng nếu có các biểu ngữ chỉ con số “ba”, “bốn”, “năm”, và v.v. Có thể nói A có nhiều cừu, và nhiều hơn B, nhưng không thể nói A có 9 con cừu và nhiều hơn B 5 con. Nói cách khác, các biểu tượng toán học được đưa vào trong một ngôn ngữ nhằm để mô tả những mối quan hệ tương đối phức tạp nhất định mà không thể mô tả bằng cách thức khác; một ngôn ngữ chứa đựng các biểu ngữ số học về các số thực đơn giản là phong phú hơn một ngôn ngữ mà thiếu đi các biểu tượng đáng có này. Tất cả những gì chúng ta có thể nói về bản chất của thế giới từ thực tế là chúng ta phải sử dụng ngôn ngữ toán học để có thể mô tả được thế giới là: thế giới có một mức độ phức tạp nhất định, đến mức có những mối quan hệ nhất định trong thế giới không thể mô tả được bằng các công cụ mô tả quá nguyên sơ.

Jeans hẳn đã cảm thấy bức xúc về cái thực tế là thế giới của chúng ta diễn ra phù hợp với các công thức toán học được phát minh trước tiên bởi các nhà toán học thuần tuý, những người đã không hề có ý định gì trong việc áp dụng các công thức của họ cho thế giới. Hình như ông đã khởi đầu với tư cách mà tôi gọi là một “nhà qui nạp chủ nghĩa”; nghĩa là, ông nghĩ rằng các lý thuyết được thu lượm từ kinh nghiệm nhờ một qui trình suy luận ít nhiều giản đơn nào đó. Nếu một người khởi đầu từ một vị trí như thế, hiển nhiên anh ta sẽ thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng một lý thuyết mà được tạo dựng bởi các nhà toán học thuần tuý, theo một phương thức thuần tuý tư biện, sau đó lại cho thấy có khả năng áp dụng được cho thế giới vật chất. Nhưng đối với những ai không phải là những nhà qui nạp chủ nghĩa, thì điều này không hề ngạc nhiên chút nào. Họ biết rằng thường xuyên xảy ra trường hợp một lý thuyết được đưa ra lúc ban đầu chỉ như là một tư biện thuần tuý, một khả thể đơn thuần, nhưng sau này lại có các ứng dụng thực nghiệm. Họ biết rằng chính sự dự đoán tư biện này mới thường chính là thứ lát đường cho các nghiên cứu thực nghiệm. (Theo cách này vấn đề qui nạp, nếu có thể gọi như vậy, chứa đựng vấn đề của chủ nghĩa duy tâm mà chúng ta quan tâm ở đây).


3. Biện chứng sau Hegel

Tư duy cho rằng các thực tế hay các sự kiện có thể mâu thuẫn lẫn nhau đối với tôi là một loại paradigm hết sức nông cạn.
David Hilbert

Triết lý của Hegel về sự đồng nhất giữa lý tính và thực tồn đôi khi bị xem là duy tâm (tuyệt đối), bởi vì nó phát biểu rằng thực tồn tựa-như-tâm-trí hoặc mang đặc điểm của lý tính. Nhưng rõ ràng là, một triết lý biện chứng về sự đồng nhất như thế có thể dễ dàng biến ngược thành một loại chủ nghĩa duy vật. Những người trung thành với triết thuyết đó có thể sẽ lập luận rằng thực tồn trên thực tế có đặc tính vật chất hoặc vật lý, giống như cách suy nghĩ của người bình thường; và bằng cách nói rằng nó đồng nhất với lý tính, hoặc tâm trí, ai đó có thể sẽ nghĩ rằng tâm trí cũng là một hiện tượng vật chất hoặc vật lý – hoặc nếu không, thì sự khác biệt giữa hiện tượng tâm trí và vật lý không thể nào lại là một vất đề cực kỳ quan trọng.

Chủ nghĩa duy vật này có thể được xem như là sự hồi sinh những khía cạnh nhất định của chủ nghĩa Descartes, với sự cải biên bằng cách kết nối với phép biện chứng. Nhưng khi vứt bỏ đi cái nền tảng duy tâm chủ nghĩa của nó, phép biện chứng mất tất cả những thứ khiến nó có vẻ đáng tin cậy và có thể hiểu được; chúng ta cần phải nhớ rằng những lập luận tốt nhất biện minh cho phép biện chứng nằm ở khả năng ứng dụng của nó để mổ tả sự phát triển của tư duy, đặc biệt là tư duy triết học. Giờ đây, chúng ta ngã ngửa ra với tuyên bố rằng thực tồn trong thế giới vật lý phát triển một cách có biện chứng – một nhận định cực kỳ giáo điều với quá ít luận chứng khoa học ủng hộ đến nỗi các nhà biện chứng duy vật bắt buộc phải sử dụng một cách lỏng lẻo cái phương pháp nguy hiểm mà chúng ta đã mô tả theo đó sự phê phán sẽ bị loại bỏ vì nó không biện chứng. Chủ nghĩa duy vật biện chứng do đó chấp nhận các điểm (a) và (b) như đã trình bày ở trên, nhưng nó thay đổi điểm (c) đáng kể, mặc dù tôi cho rằng nó cũng chẳng mang lại cái gì tốt đẹp hơn cho các đặc điểm biện chứng của nó. Để làm sáng tỏ ý này, tôi muốn nhấn mạnh một điểm là: mặc dù tôi không xem tôi như là một nhà duy vật, phê phán của tôi không hướng trực tiếp tới việc chống lại chủ nghĩa duy vật, học thuyết mà có lẽ cá nhân tôi có thiện cảm hơn so với chủ nghĩa duy tâm nếu như tôi bắt buộc phải lựa chọn giữa chúng (may mắn thay tôi không phải làm như vậy). Đối với tôi, sự kết hợp giữa biện chứng với chủ nghĩa duy vật mới chính là thứ thậm chí còn tồi dở hơn cả chủ nghĩa duy tâm biện chứng.

Cụ thể, những lưu ý đó đúng với “chủ nghĩa duy vật biện chứng” được phát triển bởi Marx. Có thể tương đối dễ dàng tái thiết lập yếu tố duy vật chủ nghĩa trong lý thuyết này theo một cách thức khiến cho không thể nào đưa ra được các phản bác đáng kể nào chống lại nó. Với những gì tôi biết thì điểm chính của nó là thế này: không có lý do gì để giả định rằng trong khi các ngành khoa học tự nhiên có thể tiến hành nghiên cứu dựa trên cái nhìn hiện thực của con người bình thường thì các ngành khoa học xã hội lại phải cần nền tảng duy tâm chủ nghĩa giống như thứ được Hegel đề xuất. Một giả định như vậy thường được đưa ra vào thời đại của Marx, xuất phát từ thực tế là Hegel với lý thuyết duy tâm chủ nghĩa của mình về Nhà Nước đã tạo ra sự ảnh hưởng mạnh mẽ tới các ngành khoa học xã hội, trong khi những quan niệm của ông về các ngành khoa học tự nhiên lại hoàn toàn vô bổ – ít nhất là đối với các nhà khoa học tự nhiên. [3] Tôi nghĩ rằng hoàn toàn công bằng khi diễn giải các ý tưởng của Marx và Engels rằng một trong những quan tâm chủ yếu của họ khi nhấn mạnh đến chủ nghĩa duy vật là gạt bỏ bất kỳ lý thuyết nào mà, liên quan đến bản chất lý tính hoặc tinh thần của con người, khẳng định rằng xã hội học tất phải dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy tâm hoặc chủ nghĩa tinh thần, hoặc dựa trên sự phân tích về lý tính. Ngược lại, họ đã nhấn mạnh đến khía cạnh vật chất của bản chất con người – chẳng hạn nhu cầu của chúng ta về thức ăn và các hàng hoá vật chất khác – và vai trò của vật chất đối với xã hội học.

Không nghi ngờ gì, quan điểm này có căn cứ; và tôi ghi nhận những đóng góp của Marx về điểm này là có ý nghĩa thực sự và có ảnh hưởng lâu dài. Mọi người đều học được từ Marx rằng sẽ không thể hiểu được hoàn toàn sự phát triển của ngay cả các ý tưởng nếu như xem xét lịch sử các ý tưởng mà lại không đề cập đến các điều kiện về nguồn gốc phát sinh của chúng và tình cảnh của những người phát kiến ra chúng, và trong số các điều kiện đó khía cạnh kinh tế là quan trọng đáng kể (mặc dù một sự xem xét như thế thường có thể có những giá trị vĩ đại của riêng nó). Tuy nhiên, cá nhân tôi nghĩ rằng chủ nghĩa kinh tế của Marx – sự nhấn mạnh của ông về nền tảng kinh tế như là cơ sở cao nhất cho bất kỳ loại phát triển nào – là sai lầm và trên thực tế không đứng vững được. Tôi nghĩ rằng kinh nghiệm xã hội rõ ràng chỉ ra rằng, dưới những hoàn cảnh nhất định, ảnh hưởng của các ý tưởng (có lẽ được trợ giúp bởi hoạt động tuyên truyền) có thể vượt quá và lần át các lực lượng kinh tế. Ngoài ra, cứ cho là chúng ta không thể hiểu được đầy đủ những quá trình phát triển của tâm trí nếu như không có sự hiểu biết về nền tảng kinh tế của chúng, thì chúng ta chí ít cũng không thể hiểu được những quá trình phát triển kinh tế nếu như không hiểu được sự phát triển của, chẳng hạn, các ý tưởng khoa học và tôn giáo.

Vì mục đích của chúng ta ở đây, việc phân tích chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh tế của Marx không quan trọng bằng việc xem xét các yếu tố cấu thành phép biện chứng trong hệ thống của ông. Đối với tôi có hai điểm quan trọng. Một là Marx nhấn mạnh đến phương pháp lịch sử trong xã hội học, một khuynh hướng mà tôi đã gọi là “chủ nghĩa duy lịch sử”. Cái kia là khuynh hướng chống lại sự giáo điều trong phép biện chứng của Marx.

Để hiểu được điểm đầu tiên, chúng ta cần phải lưu ý rằng Hegel là một trong những nhà phát minh ra phương pháp lịch sử, là cha đẻ trường phái các nhà tư tưởng tin rằng khi ai đó mô tả một quá trình phát triển trên phương diện lịch sử thì anh ta đã giải thích quá trình đó một cách nhân quả. Trường phái này tin rằng ai đó, chẳng hạn, có thể giải thích các thể chế xã hội nhất định bằng cách chỉ ra loài người đã dần dần phát triển chúng như thế nào. Ngày nay, người ta thường nhận ra rằng vai trò của phương pháp lịch sử đối với lý thuyết xã hội đã bị thổi phồng quá mức; điều này không có nghĩa là niềm tin vào phương pháp này đã biến mất. Tôi đã cố gắng phê phán phương pháp này ở nơi khác (đặc biệt trong cuốn sách của tôi The Poverty of Historicism [Sự nghèo nàn của chủ nghĩa duy lịch sử – ND]. Ở đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng xã hội học của Marx đã bắt trước Hegel không chỉ cái quan niệm rằng phương pháp luận của nó phải là phương pháp lịch sử, và rằng xã hội học cũng như sử học phải trở thành các lý thuyết về sự phát triển của xã hội, mà còn cả cái quan niệm rằng quá trình phát triển này phải được giải thích dưới góc độ biện chứng. Đối với Hegel, lịch sử là lịch sử của các ý tưởng. Marx vứt bỏ chủ nghĩa duy tâm nhưng giữ lại học thuyết của Hegel ý tưởng rằng các lực lượng động của sự phát triển lịch sử là “các mâu thuẫn”, “các phủ định”, “các phủ định của phủ định” của biện chứng. Xét trên khía cạnh này thì thực sự là Marx và Engels đã bám rất sát Hegel, như được minh hoạ trong các trích đoạn sau đây. Trong cuốn Encyclopaedia (Phần I, chương VI, tr. 81) Hegel đã mô tả Biện chứng như là “lực vũ trụ và có sức hút mạnh mẽ , đứng trước nó không cái gì có thể trụ vững được, bất kể cái đó tự cho là nó an toàn và ổn định”. Tương tự, Engels viết (Anti-Dühring, Phần I, “Biện chứng: Phủ định của phủ định”): “Vậy thì cái gì là phủ định của phủ định? Một qui luật tổng quát cao độ của sự phát triển của Tự nhiên, lịch sử và tư duy; một qui luật mà đúng trong vương quốc của động vật và thực vật, trong địa chất học, trong toán học, trong lịch sử, và trong triết học”.

Theo quan niệm của Marx, nhiệm vụ trọng tâm của ngành khoa học xã hội học là phải chỉ ra những lực lượng biện chứng này vận động trong lịch sử như thế nào, và do đó phải tiên tri được quá trình của lịch sử; hoặc, như ông viết trong lời tựa của cuốn Capital [Tư bản luận – ND], “mục đích cuối cùng của tác phẩm này là lột trần qui luật kinh tế của sự vận động của xã hội hiện đại”. Và qui luật biện chứng của sự vận động, qui luật phủ định của phủ định, trang bị cho Marx cơ sở để tiên tri về sự diệt vong đang treo lơ lửng trên đầu của chủ nghĩa tư bản (Capital, I, chương XXIV, § 7): “phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa… là sự phủ định lần thứ nhất… Nhưng, như là một qui luật Tự nhiên không thể tránh khỏi, chủ nghĩa tư bản sinh ra sự phủ định của chính nó. Đó chính là sự phủ định của phủ định”.

Tất nhiên tiên tri không có nghĩa là phi khoa học, giống như các tiên đoán về các sự kiện nhật thực và các sự kiện thiên văn khác chỉ ra. Nhưng biện chứng của Hegel, hay phiên bản duy vật chủ nghĩa của nó, không thể được xem như là một nền tảng đúng đắn cho các dự báo khoa học. (“Nhưng tất cả các tiên đoán của Marx đều trở nên đúng”, các nhà Marxist thường trả lời. Thực ra thì chúng không hề. Hãy xem một trích đoạn trong vô số đoạn làm ví dụ: Trong cuốn Capital, ngay sau đoạn trích sau cùng ở trên, Marx đã nói rằng sự chuyển tiếp từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa xã hội sẽ là một quá trình “ngắn hơn, ít bạo động hơn, và ít khó khăn hơn” đến không ngờ so với cuộc cách mạng công nghiệp, và trong một chú thích ông đã thổi phồng dự đoán này bằng cách đề cập đến việc “giai cấp tư bản lừng chừng và thiếu kiên định”. Ngày nay, có rất ít các nhà Marxist còn nói rằng những tiên đoán này là đúng đắn). Do vậy, nếu tiến hành các các dự đoán dựa trên phép biện chứng thì một số sẽ trở nên đúng và một số sẽ trở nên sai. Trong trường hợp sau, hiển nhiên sẽ làm nảy sinh một tình huống không biết trước được. Nhưng phép biện chứng đủ mơ hồ và linh động đến mức có thể lý giải và giải thích tình huống không biết được trước này cứ như là nó đã lý giải và giải thích cái tình huống mà nó đã tiên đoán đúng. Bất kỳ quá trình phát triển nào đều khớp với giản đồ biện chứng; nhà biện chứng không bao giờ e sợ bất kỳ sự bác bỏ nào xảy ra tương lai. [4] Như đã đề cập ở trên, không chỉ cách tiếp cận biện chứng, mà cả ý tưởng về một lý thuyết về sự phát triển của lịch sử – ý tưởng rằng ngành khoa học xã hội học phải hướng tới các dự báo lịch sử ở tầm khái quát – là sai lầm. Nhưng đây là điều mà chúng ta không quan tâm ở đây.

Chia tay với vai trò mà phép biện chứng chiếm giữ trong phương pháp lịch sử của Marx, chúng ta chuyển đến xem xét thái độ chống giáo điều của Marx. Marx và Engels nhấn mạnh rằng khoa học không nên được xem như là một hệ thống tri thức cuối cùng, đã được hoàn thiện, hoặc là một hệ thống “sự thật vĩnh hằng”, mà là một cái gì đó phát triển, lũy tiến. Nhà khoa học không phải là người biết nhiều mà là người kiên định, quyết không từ bỏ việc tìm kiếm sự thật. Các hệ thống khoa học phát triển; và theo Marx, chúng phát triển một cách biện chứng.

Không phải nói gì nhiều về điểm này – mặc dù cá nhân tôi nghĩ rằng mô tả biện chứng về quá trình phát triển của khoa học không phải luôn luôn thích hợp trừ phi cố ý áp đặt, và rằng tốt nhất nên mô tả quá trình phát triển khoa học theo một cách thức ít tham vọng và ít mơ hồ hơn, chẳng hạn, dưới góc độ của lý thuyết thử-và-sai. Nhưng tôi sẵn sàng chấp nhận rằng phê phán này không đáng kể lắm. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, thái độ cấp tiến và chống giáo điều của Marx đối với khoa học không khi nào được các nhà Marxist chính thống chấp nhận trong lĩnh vực hoạt động của chính họ. Khoa học cấp tiến, chống giáo điều là khoa học mang tính phê phán – phê phán là đời sống thực thụ của nó. Nhưng các nhà Marxist không khi nào chấp nhận bao dung sự phê phán chủ nghĩa Marx, phê phán chủ nghĩa duy vật biện chứng.

Hegel nghĩ rằng triết học phát triển; dù thế, hệ thống triết học của chính ông phải được xem là giai đoạn cao nhất và cuối cùng của quá trình phát triển này và không thể bị hệ thống nào khác vượt qua. Các nhà Marxist bắt chước thái độ đó đối với hệ thống Marxist. Do vậy, thái độ chống giáo điều của Marx chỉ tồn tại trên lý thuyết chứ không phải trên thực tiễn của chủ nghĩa Marx chính thống, và phép biện chứng được các nhà Marxist, tiếp nối cuốn Anti-Dühring tiêu biểu của Engels, sử dụng chỉ vì mục đích chống chế (apologetics) – để bảo vệ hệ thống Marxist chống lại các phê phán. Đã thành lệ, các nhà phê phán bị lên án là họ đã không hiểu phép biện chứng, hoặc khoa học của giai cấp vô sản, hoặc họ bị lên án là những kẻ phản bội. Nhờ có phép biện chứng, thái độ chống giáo điều đã biến mất, và chủ nghĩa Marx đã tự biến nó thành một chủ nghĩa giáo điều đủ linh động, bằng cách sử dụng phương pháp biện chứng của mình, để đè bẹp bất kỳ cuộc tấn công tiếp theo nào. Do đó, nó đã trở thành cái mà tôi đã gọi là chủ nghĩa giáo điều được gia cố.

Đúng là không có vật cản tồi tệ hơn nào đối với sự phát triển của khoa học bằng một chủ nghĩa giáo điều được gia cố. Sẽ không có bất kỳ sự phát triển khoa học nào nếu như không có cạnh tranh tự do về tư tưởng – đây là cốt lõi của thái độ chống giáo điều đã từng được Marx và Engels ủng hộ mạnh mẽ; và nói chung không thể có cạnh tranh tự do trong tư duy khoa học nếu không có tự do đối với mọi tư tưởng.

Do đó phép biện chứng đã tạo ra sự bất hạnh khủng khiếp, không chỉ đối với sự phát triển của triết học, mà còn cả sự phát triển của lý thuyết chính trị. Chúng ta có thể hiểu được đầy đủ vai trò đáng tiếc này dễ dàng hơn nếu chúng ta xem xét căn nguyên của việc Marx đã tiến tới phát triển một lý thuyết như vậy như thế nào. Chúng ta phải xem xét toàn bộ bối cảnh. Marx, một thanh niên trẻ, có đầu óc cấp tiến, cầu tiến và thậm chí cách mạng, đã rơi vào vòng ảnh hưởng của Hegel, triết gia Đức nổi tiếng nhất. Hegel lúc đó đã là một đại diện cho trào lưu phản động của nước Phổ. Ông đã sử dụng nguyên lý về sự đồng nhất giữa lý tính và thực tồn của mình để cổ vũ những thế quyền hiện hành – vì cái gì mà tồn tại tất phải hữu lý – và để bảo vệ cho ý tưởng về Nhà Nước Tuyệt Đối (một ý tưởng mà ngày nay được gọi là “chủ nghĩa toàn trị”). Marx, người đã ngưỡng mộ Hegel, nhưng lại có một tư chất chính trị khác hẳn, đang cần một triết lý để làm cơ sở cho các quan điểm chính trị của mình. Chúng ta có thể hiểu được ông đã hân hoan như thế nào khi phát hiện ra rằng triết học biện chứng của Hegel có thể dễ dàng xoay ngược thành vũ khí để chống lại người thầy của mình – rằng phép biện chứng phù hợp cho một một lý thuyết chính trị cách mạng, thay vì là một lý thuyết bảo thủ và chống chế. Bên cạnh điều này, nó cực kỳ phù hợp với nhu cầu của ông trong việc xây dựng một lý thuyết không chỉ mang tính cách mạng, mà còn cả lạc quan nữa – một lý thuyết dự đoán được sự tiến triển bằng cách nhấn mạnh rằng mọi bước đi mới là một bước tiến về phía trước.

Phát hiện này, dù không phủ nhận là khó có thể cưỡng lại được đối với một môn đồ của Hegel tại kỷ nguyên mà Hegel ngự trị, giờ đây, cùng với chủ nghĩa Hegel, đã mất hết mọi vai trò, và nó hầu như không còn có thể được xem như là một cái gì đó hơn là một tour de force (thành tựu) thông minh của một sinh viên trẻ xuất sắc, người đã làm lộ ra điểm yếu trong các tư biện của người thầy không đáng được xem như là nổi tiếng của mình. Nhưng nó đã trở thành nền tảng lý thuyết cho cái gọi là “chủ nghĩa Marx khoa học”. Và nó đã góp phần biến chủ nghĩa Marx thành một hệ thống giáo điều ngăn cản mọi quá trình phát triển khoa học đáng lẽ có thể diễn ra. Vì thế, trong nhiều thập kỷ, chủ nghĩa Marx đã giữ thái độ giáo điều của mình, lặp lại việc chống các đối thủ của mình với cùng những lý lẽ mà đã được các vị sáng lập của nó sử dụng trước đây. Thật đáng buồn, nhưng nó giúp chúng ta hiểu rõ vì sao chủ nghĩa Marx chính thống ngày nay lại chính thức khuyến nghị người đọc nên xem cuốn Logic của Hegel như là cuốn sách nền tảng để nghiên cứu phương pháp luận khoa học – thứ không những chỉ cổ xưa mà còn tiêu biểu cho các cách thức tư duy tiền khoa học và thậm chí tiền logic. Nó còn tồi tệ hơn cả việc khuyến nghị coi cơ học của Archimedes như là nền tảng của ngành công trình hiện đại.

Toàn bộ quá trình phát triển của phép biện chứng nên được nhìn nhận như là một cảnh báo nguy hiểm tiềm ẩn trong công cuộc xây dựng triết học một cách có hệ thống. Nó nhắc nhở chúng ta rằng không nên coi triết học như là nền tảng của bất kỳ một hệ thống khoa học nào và các triết gia nên khiêm nhường hơn với những gì họ tuyên bố. Một nhiệm vụ mà họ có thể đảm đương tốt được là nghiên cứu về các phương pháp khoa học phê phán.


Bản tiếng Việt © 2008 talawas



[1]Câu trả lời này không phải là mới, bởi vì Kant đã cân nhắc đến nó trước đó; nhưng tất nhiên Kant đã bác bỏ nó.
[2]MacTaggart đã coi điểm này như là trọng tâm của tác phẩm hấp dẫn của ông Studies in Hegelian Dialectic.
[3]Ít nhất thì nó cũng hiển nhiên đối với ai đọc, chẳng hạn, đoạn phân tích đáng kinh ngạc sau đây về bản chất của điện. Tôi đã cố gắng dịch nó ở mức độ tốt nhất có thể, thậm chí có thể khiến nó trở nên dễ hiểu hơn so với nguyên gốc của Hegel:
“Điện là mục đích của cái hình thức từ đó nó tự giải thoát, nó là cái hình thức mà chỉ có khuynh hướng vượt qua sự lãnh đạm của chính nó; vì rằng, điện là sự xuất hiện tức thời, hoặc hiện thực vừa mới xuất hiện, từ sự gần cận (proximity) của cái hình thức, và vẫn còn được định đoạt bởi chính nó – tuy nhiên, vẫn chưa tự rũ bỏ đi cái hình thức, mà vẫn chỉ là cái quá trình tương đối hời hợt qua đó những khác biệt làm tan biến cái hình thức mà, tuy vậy, chúng vẫn tiếp tục duy trì, như là điều kiện của chúng, sự không còn phát triển thành sự độc lập của và qua chúng”. (Không nghi ngờ gì nó đáng ra phải là “của và qua ”; nhưng tôi hy vọng rằng điều này không gây ra sự khác biệt đáng kể nào đối với những sự khác biệt). Đoạn trích được lấy từ Philosophy of Nature của Hegel. Cũng xem các đoạn trích về Âm thanh và Nhiệt, được đưa vào trong cuốn Open Society của tôi tại chủ thích số 4 trong chuơng 12.
[4]Trong L.Sc.D. tôi đã cố gắng chỉ ra rằng nội dung khoa học của một lý thuyết càng lớn thì lý thuyết đó truyền tải càng nhiều [nội dung], lý thuyết càng rủi ro thì nó càng dễ bị bác bỏ bởi kinh nghiệm tương lai. Nếu nó không chấp nhận rủi ro nào như vậy, nội dung khoa học của nó sẽ là con số không – nó không có nội dung khoa học, nó chỉ là siêu hình. Bằng tiêu chuẩn này chúng ta có thể nói rằng phép biện chứng là phi khoa học: nó là siêu hình.
Nguồn: Bài viết đọc tại một seminar về triết học tại Canterbury University College, Christchurch, New Zealand, năm 1937. Xuất bản lần đầu trên Mind, n.s., 49, 1940. Dịch từ bản in lại trong Popper, Karl, Conjectures and Refutations: the Growth of Scientific Knowledge, 1989, 5ed, Routledge: London, pp. 312-35.