trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
4.8.2004
Phạm Thị Hoài
Marie Sến
tiểu thuyết
 1   2   3   4   5   6 
 
Chương Bảy
Đổi mới. Những hội nghị

Cho nên tôi không mấy ngạc nhiên khi Sến xuất hiện trong một hội nghị ở Viện. Ông hàng xóm xế bên phải tôi hôm ấy đọc một tham luận sau ba chục năm im lặng. Sến đến, áo dài tóc buông bước chân lịch duyệt, một người nữ quá hoàn hảo để có mặt giữa chúng tôi, trận mạc này không có cao bồi bắn súng hai tay, buồn tẻ lắm.

Trận mạc này bày binh như sau:

Sát bàn chủ toạ là thượng đẳng khách, toàn những ông mặt mũi béo tốt hết sức vui tính, cười hề hề vào camera, tự nhiên như ở nhà mình. Nếu ngồi chỗ ấy chắc tôi cũng không làm gì khác hơn là vui tính. Ông Viện trưởng Viện Lớn, ông giám đốc Học viện Nguyễn Ái Quốc, ông Viện trưởng Viện Mác-Lê, ông thượng tướng Giám đốc Học viện quân sự, hai ông trung tướng, ông phó Ban Tư tưởng Văn hoá trực thuộc trung ương Đảng, ông phó Ban Khoa giáo trực thuộc trung ương Đảng, ông phó Ban tuyên giáo trực thuộc trung ương Đảng, ông đại diện Thành uỷ, ông đại diện Văn phòng Hội đồng chính phủ, ông đại diện Văn phòng tổng bí thư, ông đại diện Văn phòng cố vấn chính phủ, ông phó Ban Tôn giáo chính phủ, ông Giám đốc nhà xuất bản Sự Thật, và một ông đại diện cho Bộ nội vụ không xưng chức. Viện trưởng của chúng tôi thấp thỏm đứng lên ngồi xuống giữa họ, ông bị lây sự vui tính của họ, thậm chí ông còn đánh bạo châm một điếu thuốc cầm tay và đánh rơi tàn vào áo ông Bộ nội vụ. Thế là họ cười ầm cả lên và vỗ vai nhau. Hội nghị sẽ thành công tốt đẹp.

Kế đó là trung đẳng khách: giáo sư đầu ngành, chuyên viên cao cấp, nhà báo lão thành, cán bộ tuyên huấn tỉnh xa, chánh văn phòng Viện Lớn, đại diện các Viện nhỏ trong Viện Lớn, trông họ nghiêm trang hơn các vị ở tuyến trên nên Viện phó của chúng tôi và một vị giáo sư đội nhà lượn tà tà như trực thăng bà già để tăng cường không khí. Viện phó mặc quần bò và để râu con kiến, vị giáo sư đội nhà thì nhún nhảy rất hề, môi chúm chím một câu pha trò cực đắt như chủ hôn đám cưới làng. Hai vị ấy là chuyên gia cứu nguy. Xác suất tai nạn trận này dự tính là lớn, nên cả hai phải rất sẵn sàng.

Kế nữa là hạ đẳng khách: nghiên cứu viên các Viện nhỏ, đại diện Công đoàn, đại diện phụ nữ, đại diện thanh niên và đại diện phòng an ninh của Viện Lớn, biên tập viên một hai tạp chí… Xin bạn đọc đừng ngạc nhiên, khoa học của chúng tôi luôn là một Mặt Trận, nguyên tắc tối cao là không được thiếu tuyến quân nào.

Sến khoan thai tiến vào, tài sắc vẹn toàn đội thêm vương miện quyền uy, Ngọc Hân chăng? Ỷ Lan chăng? Kìa Viện phó của chúng tôi đã bỏ rơi các giáo sư, bay vù đậu xuống bên em, trời ơi anh ta sắp nhấc em lên, đặt cạnh lẵng hoa khổng lồ trên bàn chủ toạ, và hội trường sẽ vỗ tay nhiệt liệt. Ôi, mĩ nhân, mĩ nhân vô danh, em cần gì đâu một giấy mời, một danh thiếp, em quả là thứ duy nhất chúng tôi không trù bị nổi. Nửa năm trời, ba mươi sáng thứ hai cộng ba mươi mốt sáng thứ năm là sáu mươi mốt cuộc ngồi, chúng tôi không làm gì khác, chỉ tính toán và lo âu vấn đề nhân sự của hội nghị. Phái Ấu Cơ đầu này không được nói chuyện riêng và phái Việt Bắc đầu kia không được tự tiện lẻn ra ngoài, chúng tôi tả hữu ở giữa cố mà nhớ những thông tin khẩn mật về danh sách khách dự hội nghị: Một vị không được mời thì chửi vung lên. Một vị để tán phét cho vui. Một vị chắc chắn sẽ phá thối nhưng không ăn thua. Một vị hơi cực đoan nhưng như thế mới dân chủ. Một vị chuyên tung ra các vấn đề mà không chịu giải quyết, nhưng không sao, hội nghị này chính là để đặt ra các vấn đề càng nhiều càng tốt. Một vị nhạt thếch nhưng điềm đạm nho nhã, vả lại hội nghị nào cũng mời chẳng lẽ hội nghị này không? Khảo cổ đâu rồi? Vị khảo cổ này hay quên lắm đấy, thỉnh thoảng phải thúc. Môi sinh ở ta tay nào khá? Chết rồi, tay này đang ở nước ngoài, có khi tếch hẳn cũng nên! Văn hoá dân gian mời hai hay một nhỉ, bên ấy những hai phe? Thư viện quốc gia cho qua, dạo này thư viện ăn mày! Huế hết sức quan trọng, xin nhắc lại Huế hết sức quan trọng, có thể họ mời ta cố vấn cho cái festival sang năm có Liên Hợp Quốc tài trợ…

Thế đấy, xin bạn đọc đừng ngạc nhiên, chuyên môn hoá không phải là sở trường của người Việt, mỗi khi có dịp hội họp là chúng ta tập hợp anh tài như khai trương một siêu thị đủ mặt hàng. Hội- nghị-siêu-thị nào cũng giống nhau. Chúng tôi lục tung kho người của nền khoa học quốc gia, nhặt cho đủ quân số để xếp một đội danh dự thổi kèn thật to vào công cuộc đổi mới. Người nào đứng chỗ nào, phùng mang trợn mắt ra sao đã phân cảnh ổn thoả. Bỗng dưng Sến tiến vào!

Từ đám tào lao đứng ngồi lộn xộn tranh thủ hút thuốc của công dọc tường tôi khâm phục Sến và cũng nể ông hàng xóm xế bên phải: mĩ nhân cứ khoan thai nhẹ bước tới chiếc ghế để trống bên ông. Trong bộ com lê của ba mươi năm trước và chín nhừ vì xúc động, suýt nữa thì ông lảng đi, không dám nghĩ phần mình trong cái vinh dự thơm ngát đang mỉm cười sát lại. Ông còn nhìn trộm ra sau để quyết rằng Sến nhắm vào ai khác chứ không phải mình. Cái tích tắc ấy tổng kết chớp nhoáng thói quen nhún phận của ba mươi năm khiến tôi nổi gai khắp người. Bao giờ cũng là kẻ khác được may chứ không phải mình. Mặc cảm về bất hạnh cũng bóp chết tâm hồn như mọi mặc cảm. Ở người trí thức Việt, kèm theo đó là mặc cảm bị theo dõi và kiểm duyệt, và ảo tưởng về trọng lượng xã hội của cá nhân mình. Ông sẽ chỉ là chiếc quan tài chưa đóng nắp nếu quả thực có một cuộc đời tốt hơn mở ra. Vinh quang của ông hẳn là đủ hắt lờ mờ khi xung quanh đen ngòm, nhưng vô nghĩa trong ánh sáng của một ngày bình thường. Ôi các cụ, những ngôi sao cuối mùa chỉ nhấp nháy trong đêm ba mươi!

Nhưng tôi đã hồ đồ. Có lẽ ông Thân đã đưa vội mắt tìm thằng con trai, hi vọng của ông, vô vọng của ông, lúc này đơn giản chỉ là con trai ông, nó đang hầu chuyện một giáo sư ăn mặc sặc sỡ. Thằng nghịch tử đó, đồng nghiệp trẻ tuổi của ông đó, muốn độn thổ nên đánh rơi bật lửa. Khi nó ngẩng lên thì vấn đề cha con không còn thời sự nữa. Cũng trong một chớp mắt, ông Thân lấy lại toàn bộ phong độ nổi tiếng của ông ba mươi năm trước: phong độ của một trí thức Tây học xuất thân Nho gia quý tộc và phải lòng cuộc cách mạng của Việt Minh, một kết hợp lịch sử độc đáo tài tình. Thời ấy, những người như ông nổi bật giữa đám đông. Họ có cái cốt cách điềm nhiên tự tại mà lớp trí thức tân kì nguồn gốc tạp nham không thể có: hai ngàn năm sách thánh hiền cổ kính và mũ cao áo rộng kết thúc ở họ. Họ có cái tinh thần học giả tinh vi thuần khiết mà chúng tôi công chức của một nền khoa học vờ vịt nhố nhăng không thể có: tám mươi năm văn minh Pháp thuộc và Viễn Đông Bác Cổ cũng đến họ là hết. Họ có cái khí phách lãng mạn kiêu hùng của thuở ban đầu, tráng sĩ một đi nào có mong chi đâu ngày trở về, tráng sĩ hôn lên ý trung nhân của chàng là cuộc cách mạng còn vô cùng trinh tiết cái hôn mù quáng say lòng, hôn rồi chết cũng xong. Cho nên tất cả những người được văn hoá, lịch sử, tiến bộ, và tình yêu ùa vào cắt rốn như ông, sau này dù mỗi kẻ một lí tưởng một phương trời, cũng dễ cảm thông nhau hơn là lứa chúng tôi. Đến lứa chúng tôi thì việc khoác ba lô lên đường đã thành nếp, thành luật và lệnh, cái hôn của mối tình đầu đã thành cuộc chung chạ quá lâu ngày, chúng tôi và cách mạng, đôi bên đều nhẵn mặt nhau. Đến lượt những cậu ấm Tân ấm Đủ thì nàng cách mạng rực rỡ thuở nào chỉ còn là một mụ mãn kinh điêu toa và sợ già sợ chết, mụ ấy trát son phấn lên người như hề, hiện nguyên hình là một gái hạ lưu, và mỗi dịp sinh nhật lại đào bới trong kho ảnh lưu trữ cuống cuồng tuyệt vọng hơn. Ôi chúng nó những cậu ấm thời đại biết trút tinh lực hào khí nam nhi vào đâu!

Sến hẳn cũng sững sờ như tất cả chúng tôi: người đàn ông phút trước em vừa gắng nâng đỡ vừa lo bại cuộc, phút sau đã vươn hết chiều cao che chở đàng hoàng lịch thiệp ngời ngời, Sến và ông ấy làm thành một cặp nhìn không chán mắt. Vừa ngắm ngẩn ngơ tôi vừa được biết cái ghen ngầm mất dạy của tôi không ăn thua gì bên cạnh những thằng khác. Thằng Hồng gầm gừ “Hừ, Comeback!”, tôi dịch là “Hãy đợi đấy!”. Thằng trẻ trai này cũng con một ông đồ, đồ xứ Nghệ hẳn hoi; cũng nếm một chút mùi chiến khu, chiến khu 79; cũng Tây học, Tây Liên Xô; lại có chín mươi chín ngọn Hồng Lĩnh yểm sau lưng và làng tổ Kim Liên làm bệ đỡ. Phong độ của y không để cho người ta ngắm mà để cho người ta gờm. Nhiều tháng sau y sẽ làm một người hùng, đánh bạt hào quang của ông Thân lúc này. Nhưng chuyện còn dài… Thằng Tân bây giờ xán lại từ phía sau, một tay đặt lên thành ghế bố nó, một tay ghế Sến, chen vai vào giữa và the thé thốt lên: “Enchanté!”, tôi dịch là: “Mẹ kiếp!” Bạn đọc có thể thấy là tôi đã thu lãi lớn từ những buổi trò chuyện tay bảy trong những tổ chim xì xồ và véo von giọng mũi.

Tôi tìm thấy Đoài trong một xó phòng với ba xấp phong bì đếm dở, mỗi xấp một hạng khách. Nhiệm vụ của anh ta trong mọi hội nghị là tế nhị phát phong bì cho khách. Không có phong bì thì không có hội nghị. Nghề đi dự hội nghị là nghề nhàn và lương cao. Chúng tôi ngồi im lặng bên nhau rất lâu. Tôi luôn giữ một góc nghiêng nhất định chắn bớt đường anh chàng nhìn về phía Sến. Có trời biết vì sao tôi bỗng lo cho cơn ghen của gã cán bộ thoát li này hơn cơn ghen của chính mình. Ở trung tâm ngoại ngữ, Sến dường như thuộc về tất cả mà chẳng của riêng ai. Ở đây Sến đường hoàng cặp đôi với ông Thân. Ý thức sở hữu của anh chàng tiểu nông thế là bị thử thách đáng kể. Đoài đột nhiên thủ thỉ: “Vợ tôi hồi trẻ xinh nhất nàng, ông ạ. Tôi đi nính về, Quảng Trị ông ạ, hai trên bảy, sơ sơ thôi, nấy được cô xinh nhất nàng. Cũng có mấy thằng, giáo viên cấp ba hẳn hoi, bác sĩ nữa, mới nại thằng cha con trai chủ tịch huyện, nhưng cô ấy chọn tôi. Tôi đáng tin hơn những thằng kia, ông ạ. Thằng con chủ tịch huyện bây giờ nằm khóc dở ở Hồng Kông đợi cưỡng bức hồi hương về ăn cám. Nhưng mà tôi ngốc lắm. Cô ấy đi nàm đồng nửa buổi về, máu đầy ở xà cạp, tôi hỏi đứa nào đánh thì ra báo công an, cô ấy chạy vào buồng cười một mình. Hoá ra đán bà họ hành kinh, khiếp nắm, ông ạ. Nần nào về tôi cũng mang một bánh xà phòng thơm, nhưng mẹ con nó cất hết vào tủ, cho thơm nâu, ông ạ, mang dùng nại sợ phí. Nhà tôi ở quê toàn dùng nước mưa. Xà phòng rửa nước mưa không đi đâu, nhờn tay nắm, ông ạ”.

Tôi chuồn khỏi cơn tâm thần của anh hàng xóm sát vách. Mặc kệ anh ta đếm sai phong bì. Nếu thượng đẳng khách vớ phải phong bì dành cho hạ đẳng khách thì ông Viện trưởng chứ cóc phải tôi lo mất chức. Mặc kệ anh ta sờ soạng trong những xó xỉnh cải lương hạng bét của tâm hồn. Mẹ kiếp, tự nhiên lôi vợ ra để tự an ủi! Đời cán bộ thoát li quả là đời lí tưởng, mất mát chỗ này một tí là có ngay chỗ khác bù vào. Nếu thằng Đủ ngồi đây và nó cũng lên cơn thì hội nghị “Di sản và đổi mới” này kể như bị san bằng. Hậu Thánh Gióng cưỡi mô tô phân khối lớn, nhổ phắt sáu chiếc cột trong phòng này vung lên thì dinh luỹ khoa học xã hội tan tành!

Mới ngày nào tôi còn trêu chọc, nhài ra sao rồi ngọc nan ra sao. Sến là phát hiện của Đoài. Anh ta mởi đầu solo một sớm mùa xuân lãng mạn ở ngoại thành, chúng tôi ùa ra đồng diễn một đàn giữa mùa hè như ve đô thị. Trong tấn kịch này đứa nào cũng có cơ hội đóng kép với đào. Nếu khéo bảo nhau chúng tôi có thể luân phiên. Nhưng Đoài là một anh nông dân. Anh ta không chịu chung với năm nhà hàng xóm một con vịt để nó lần lượt đẻ mỗi nhà một trứng. Mới ngày nào đời chúng tôi thong thả, tim chúng tôi an nhàn, đứa nào thân cư chỗ nào mệnh đóng ở đâu đều đã ổn thoả. Bỗng dưng Sến chen vào!

Bảy người chúng tôi là một tập hợp vô duyên. Nếu tất cả cùng quyết chết vì tình thì chẳng hạn Sến họp với cha con Đoài được một nhóm đầu rau; Sến chết một lần nữa họp với cha con ông Thân được một nhóm trầu cau như trong truyện cổ cho hậu thế tiếc thương; nhưng Sến chết thêm lần thứ ba thì vô nghĩa vì tôi và thằng Hồng quyết không thể quyện vào nhau sống cũng như chết.

Ông Thân lên diễn đàn đầu giờ chiều ngày hội nghị thứ hai. Trước đó chúng tôi đã nghe một diễn văn mở đầu của Viện trưởng dài bốn mươi lăm phút, ba báo cáo chính, hai mươi chín tham luận. Các báo cáo đều ngợi ca công cuộc đổi mới và xác định chỗ đứng vững chắc của nền khoa học xã hội, đồng thời tiết lộ rằng trong tình hình mới rất nhiều vấn đề mới đặt ra, hoặc những vấn đề cũ có thể được xem xét lại.

Các tham luận theo trình tự sau:

Tham luận thứ nhất: “Chủ nghĩa yêu nước, di sản quý báu nhất của dân tộc Việt Nam”.
Tham luận thứ hai: “Chủ nghĩa anh hùng, truyền thống sáng ngời của chúng ta”.
Tham luận thứ ba: “Tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới hôm nay”.
Tham luận thứ tư: “Vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và sự nghiệp đổi mới”.
Tham luận thứ năm: “Sứ mệnh mới của giai cấp công nhân Việt Nam”.
Tham luận thứ sáu: “Sức mạnh của Mặt trận dân tộc - Từ liên minh công nông đến phong trào hoà hợp hoà giải”.
Tham luận thứ bảy: “Những bài học lớn từ cuộc chiến tranh nhân dân”.
Tham luận thứ tám: “Hai ví dụ về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh: Từ Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh”.
Tham luận thứ chín: “Chính sách ngụ binh ư nông - một cách nhìn mới”.
Tham luận thứ mười: “Phương thức sản xuất châu Á, những vấn đề của lịch sử”.
Tham luận thứ mười một: “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử. Những bức xúc của công cuộc hiện đại hoá”.
Tham luận thứ mười hai: “Làng cổ truyền. Một vài đề nghị từ khía cạnh phát huy và bảo tồn”.
Tham luận thứ mười ba: “Phác hoạ vài nét về tầng lớp trung nông, tiềm năng và xu hướng mới”.
Tham luận thứ mười bốn: “Có hay không một tầng lớp địa chủ trong lịch sử?”.
Tham luận thứ mười lăm: “Đô thị Việt Nam trong lịch sử và hiện đại”.
Tham luận thứ mười sáu: “Thử giở lại hồ sơ của giai cấp tư sản dân tộc. Một hướng đi mới”.
Tham luận thứ mười bảy: “Chính sách bế quan toả cảng của nhà Nguyễn - Những hậu quả”.
Tham luận thứ mười tám: “Sơ bộ đánh giá vai trò của nhà Nguyễn trong việc thống nhất nước ta đầu thế kỉ mười chín”.
Tham luận thứ hai mươi: “Lại nói về trống đồng và triết học phương Nam”.
Tham luận thứ hai mươi mốt: “Bàn về chữ ‘nhân’ trong truyền thống tư tưởng của người Việt”.
Tham luận thứ hai mươi hai: “Có hay không một tâm thức Việt Nam?”.
Tham luận thứ hai mươi ba: “Tam giáo đồng nguyên, một mô hình lịch sử thuần Việt”.
Tham luận thứ hai mươi bốn: “Tục thờ Mẫu và nguyên lí Mẹ trong triết lí của người Việt”.
Tham luận thứ hai mươi lăm: “Triết lí trầu cau - Bản sắc dân tộc và hiện đại”.
Tham luận thứ hai mươi sáu: “Lược trình phát triển của chữ Việt và vai trò của nó trong công cuộc hiện đại hoá đất nước”.
Tham luận thứ hai mươi bảy: “Tản mạn về công cuộc khai hoang trong lịch sử và chính sách kinh tế mới hiện nay”.
Tham luận thứ hai mươi tám: “Tiền cổ Việt Nam – Vài suy nghĩ bước đầu về kinh tế thị trường”.
Tham luận thứ hai mươi chín: “Phôn cơ lo, một quan niệm hiện đại”.

(Tôi xin chép lại nguyên văn tên các báo cáo khoa học như vậy để bạn đọc ngoại đạo dễ hình dung thế nào là một hội nghị khoa học cấp nhà nước trong giai đoạn đổi mới.)

Ngày hội nghị thứ hai, Sến cuốn tóc cài trâm mặc váy áo đầm, em bảo hôm qua em di sản rồi hôm nay đổi mới. Hôm qua Sến sánh vai ông Thân đi khắp hành lang. Bạn cũ, người quen và học trò của ông ấy chẳng biết ba chục năm qua ở đâu bỗng kéo ra như kiến. Bắt tay vỗ vai giật áo ông ấy, hỏi thăm ào ào, ai cũng tranh thủ đứng một lát gần Sến. Ngửi em, sờ em bằng mắt láo liên, nếm em bằng lưỡi liếm môi khô. Dường như chủ toạ cố tình kéo dài buổi giải lao. Ai bảo các nhà khoa học khô khan chúng ta không đa tình! Một phút nữa hai phút nữa ba phút nữa, tôi phải làm một cái gì đó thật anh hùng hiệp sĩ. Giải phóng mĩ nhân, đưa nàng về chỗ an toàn, lập một vành đai chống đỡ. Ôi các em, sóng gió các em gây ở đời chưa đủ sao mà phải tới đây, tâm trí nào chúng tôi làm bác học! Tôi than thầm một tiếng nam nhi não ruột như thế rồi mọc lên trước mặt Sến. Trước mặt Sến tôi quên khuấy kế hoạch hiệp sĩ. Từ khi biết Sến chưa bao giờ em hiện ra ngọc ngà như thế. Thánh thiện như thế. Hai cái nốt ruồi đầy quá khứ. Ngực cong vời vợi. Môi đầm đìa…

Ông Thân tham luận về truyền thống dân chủ của người xưa. Ông tra về gốc la tinh của cái từ sang trọng đề mô cờ ra xi. Ông dẫn nghĩa theo Từ Nguyên. Ông trích đi trích lại câu thánh hiền “dân vi trọng quân vi khinh” và câu á thánh hiền “nước chở thuyền, nước lật thuyền”. Vua xắn quần lội ruộng và tướng sĩ hoà nước sông chén rượu. Những tấm gương cũ một lần nữa được mang ra soi. Bách gia chư tử từ bên Tàu được kéo sang ta cũng thành một tiềm năng trăm hoa đua nở. Đến chỗ ông diễn giải cái tinh thần ruột rà hoà điệu của nền văn minh “quốc-gia-làng-xóm” và xoáy vào cái đơn vị nổi tiếng là làng với những truyền thống quý báu của nó thì tôi mất kiên nhẫn và quay sang ngắm Sến. Sến ngồi thật thẳng, môi hé trìu mền, đùi khép đoan trang. Quả thật khối tri thức cổ kính tuôn trào trên bục hội nghị kia chẳng liên quan gì đến em. Tôi không muốn khẳng định rằng Sến từ trên trời rơi xuống giữa đám Từ Thức chúng tôi, vì em trần tục lắm. Nhưng Sến là một thực thể phi lịch sử. Quá khứ của em nằm trong tủ áo. Cái sơ mi tím này Sến mặc duy nhất một buổi chia tay mười lăm năm trước, thời ấy màu tím là màu đau tim nên em nhất định may áo tím. Bộ váy áo nhiễu loạn kia Sến sắm đại trong một cơn khùng, mỗi lần lên cơn là em đi mua sắm; cơn khùng năm ấy hẳn say máu lắm, nên áo xống mới đỏ rừng rực lượn lên lượn xuống nhằng nhịt thế kia. Một đống áo mút cổ lọ xếp xó, cái thời áo mút phân phối, một cái cổ lọ màu hoàng yến thò ra ngoài sơ mi ve nhọn đã là bao nhiêu ý thức thời trang! Còn những chiếc slip nữa, không phải chiếc nào cũng bé bỏng thơm tho: chiếc thì nhàu nát chán chường, chiếc thì e ấp trinh bạch, chiếc mỏng tang như áo ma, chiếc cục mịch quăn queo như mo nang chưa ép. Cái đống lá đa nhà chùa ấy cho thấy Sến chẳng ngại dấn thân. Một lòng cầu thị như thế đi suốt những biến cố thời trang, em can trường của tôi, Marie Sến! Tủ áo của Sến với tôi là một bài giảng cỡ thánh hiền. Đức mặc ở em cũng như đức ăn, hai cái phẩm hạnh con nhà bình dân, một tinh thần phơi mở rộng rãi tuyệt đối. Em có thể ăn đất uống sông và mặc mây trời cũng hăng hái tự nhiên như khi lỉnh kỉnh nai nịt bằng những sợi chất dẻo đính kim tuyến. Không kén chọn, không thành kiến, chỉ một lòng yêu sốt sắng mù loà, một nhiệt tình sống ôm đồm rối rít, và có lẽ một chút thiên về những gam đồng bóng phô phang, Sến liên quan gì đâu đến những ông vua hiền vua ngu và những truyền thống không hề có trong hiện tại!

Trên kia ông Thân vẫn tiếp tục mạch tư tưởng. Tôi hân hạnh được biết cái mạch ấy. Đại loại như thế này: các nhà khoa học cấp tiến nhất của chúng ta trong khi day dứt khôn nguôi về thực trạng đất nước thì chia làm hai phái. Phái cấp tiến cực đoan thì phang tuốt, Đảng, Bác, Các Cụ Mác Sờ Lê Nin, chủ nghĩa, cơ chế, hệ thống, vân vân. Đấy là những thứ đáng bị đánh đòn, đã đành, đến dân tộc, lịch sử, truyền thống cũng không có cái nào được tha. Hai ngàn năm (phái này chỉ công nhận hai ngàn năm lịch sử Việt Nam) kém phẩm chất tuyệt đối. Có nghĩa là tình thế của chúng ta hoàn toàn vô vọng. Muốn tiến bộ canh tân chỉ còn cách nhổ tận gốc nước Việt, khuân sang trồng ở Âu Mĩ mà thôi.

Phái cấp tiến ôn hoà thì đi giữa ranh giới của những giá trị tích cực và những giá trị tiêu cực, họ có cái vẻ tự tin thót ruột của những nghệ sĩ đi trên dây. Phương châm của họ là phê phán sự phê phán có tính chất phê phán. Thoạt nghe tương đối rối mù. Nhưng tôi có hân hạnh được nghe đi nghe lại, ông hàng xóm xế bên trái tôi là thủ lĩnh phái này, lâu dần tôi cũng nắm được nghệ thuật giữ thăng bằng trên độ cao trí tuệ của những nghệ sĩ lão luyện đó. Họ đầy tinh thần phê phán, đấy là điều không cần bàn cãi. Và đầy lương tâm. Đạo đức. Tư cách. Trách nhiệm. Đức tin. Tất cả những phẩm chất ấy cùng bảo nhau họp lại trong một biện chứng pháp đứng đắn như trời trồng. Giả sử họ nói sai cũng không ai trách, vì ai dám trách một nhân cách đáng khâm phục nhường ấy! Khi các nhân cách lớn tha thiết tự bày tỏ thì những vấn đề của khoa học và tổ quốc dường như cũng tự động được giải quyết. Thế là tác giả hài lòng, độc giả mãn nguyện. Không nơi nào trên thế giới có một nền khoa học thân tình dễ chịu hơn. Tôi cũng nghe thủng mọi ý tứ của các nhà bác học cấp tiến ôn hoà, cũng chiêm ngưỡng họ thi đua nhân cách, nhưng thú thực nghe nhìn xong ít khi nhớ được điều gì. Có lẽ vì ý kiến họ na ná nhau, nhân cách họ từa tựa nhau, họ lại có tật nói dài, nói rất dài, người này lặp lại người kia và lặp lại chính mình không mệt mỏi, không đếm xỉa đến sức khoẻ của người nghe và dán đầy trích dẫn Đông Tây lên trụ cột tư tưởng như những cột áp phích kín mít. Ai không theo phong cách đó có thể bị coi ngay là thất học, hay chưa chín muồi. Họ có thể là những ngòi nổ, đấy là điều không cần bàn cãi, nhưng cái cách họ nổ ra những vấn đề thì, xin lỗi, sặc mùi trưởng giả. Và bạn đọc chẳng lẩy ra được một xu hài hước nào ở họ đâu, như đã nói, các nhà biện chứng ấy đứng đắn như trời trồng, cười tủm trước mặt họ là thiếu lịch sự hơn đánh rắm. Người nào trong số họ tự cho mình có uy mua thì mủm mỉm cười gật gù: bạch mã phi mã. Đố người Việt nào chỉ biết quốc ngữ hiểu được cái uy mua ấy.

Các nhà cấp tiến cực đoan thì ồn ào bi đát, các nhà cấp tiến ôn hoà thì nghiêm trọng dài dòng. Tìm thầy, kết bạn, xe duyên tri kỉ trong thời buổi này nếu không được số phận bịt mắt dắt tay thì khác nào đi chọn xe máy ở phố Hàng Bông, cuối cùng bạn cũng mất kiên nhẫn mà nhảy đại lên một chiếc. Nếu không, bạn hãy về nhà tự yêu lấy tốc độ di chuyển của mình.

Nhưng hãy trở về chỗ ông Thân trên bục hội nghị. Không phải ông ấy sùng bái quá khứ. Không phải ông ấy phiến diện hời hợt. Các nhà biện chứng vĩ đại thì sâu sắc toàn diện và bao vây con mồi tư tưởng của họ từ mọi phía. Tôi biết ông Thân dài dòng Thi vân Tử viết từ Khoá Hư Lục sang Những bản thảo kinh tế chính trị và sắp sửa cho Trần Văn Giáp ngồi cạnh Trần Văn Giàu, Lê Quý Đôn cạnh Lê Thành Khôi, rồi BEFEO, CEFEO, PEFFEO, những Woodside, Tsuboi, Jamieson, Condominas… được giăng ra như lưới, chỉ để ông khoai thai đứng trên bờ, từ từ, rất từ từ, cất lên mẻ cá gồm một chú cá tư tưởng duy nhất mà ông dày công chăm bẵm mấy chục năm đợi dịp thả xuống để rồi cất lên trước ồ à của toàn thể công chúng mắt sáng ngời. Theo thiển ý của tôi thì cái động tác cất lên thả xuống đó hơi phiền hà, và cái tinh thần ngư ông phương Đông trong trường hợp này rất đáng sốt ruột. Nhưng rút cuộc thì tôi không bịt mồm ba chục năm, tôi chỉ không có gì đáng nói để nói mà thôi. Ở địa vị ông ấy chắc tôi còn rung đùi bệnh hoạn hơn để thưởng thức dài hơi mẻ lưới ăn chắc của mình.

Đã mười lăm phút. Đề mô cờ ra xi chưa gây rắc rối cho ai. Công chúng không phải những con nhà chài thiện nghệ để rung động khi chú cá cưng của ông Thân quẫy đuôi tế nhị. Đấy là công chúng của ngày hội nghị thứ hai, đầu giờ chiều, sau ba báo cáo chính và hai mươi chín tham luận. Đấy là công chúng đã nhận xong phong bì. Hai phần ba thượng đẳng khách đã toạ trong những hội nghị khác: vinh dự này không của riêng ai. Một nửa trung đẳng khách đã biến mất sau ngày hội nghị thứ nhất, họ đã nói xong phần họ và không có nhu cầu nghe ai khác, tôi không nói ngoa, phàm là giáo sư thì biết tỏng nhau. Một phần ba hạ đẳng khách không trở lại nữa. Khách khứa còn non nửa và đội nhà cũng rệu rã lắm rồi. Hai cô cuồng báo thì đã tót đi đọc báo. Bốn chị em khác đang ngồi xổm chọn cá ở chợ Hôm và thêm năm chị em nữa bôn ba đến nhà trẻ. Ba chị em vắng mặt không rõ động cơ. Phái Âu Cơ để lại một nữ phó tiến sĩ trong phòng hội nghị. Nàng tiên trí thức này sẽ đọc tham luận thứ ba mươi mốt. Chúng tôi, đám quần chúng vừa tả vừa hữu, vương vãi trong năm quán nước trà và ba quán cà phê bao quanh Viện. Tám cứ điểm trọng yếu này lập thành một vành đai chất lỏng kì diệu bọc êm thành luỹ của khoa học. Thằng Tân, thằng giẻ rách hoang tưởng, đôi khi cũng biết hóm. Nó chia phương định hướng, gọi tên tám cái tiền đồn ấy là Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Li, Khôn, Đoài. Ai rủ nó ra quán, nó khinh khỉnh chặn trước: ”Phục Hi hay Văn Vương?”. Là những định hướng khác nhau đáng kể. Bạn ngẩn tò te nó sẽ coi bạn là mù chữ, không đáng cùng nó uống một chén trà.

Đấy là công chúng của ngày hội nghị thứ hai, đầu giờ chiều. Muốn chinh phục nó bạn phải đốt pháo đùng. Tiếng pháo tép của ông Thân bật lên từ một cõi lòng thiết tha, nhưng tế nhị quá. Ông đang vùi những suy tư của một đời nín nhịn vào chiếc gối phồng của sự uyên bác. Giữa tiếng ngáy bất tận của các dữ kiện lịch sử, lời tâm huyết của ông rời rạc thảng thốt như lời nói mê mấy ai lưu ý. Rằng đề mô cờ ra xí nằm trong huyết thống dân tộc này. Tôi chua tiếp: Phải trả lại dòng máu sang trọng ấy cho dân tộc, cho xứng đáng với cha ông! Rằng người Việt chúng ta vốn khoan dung với mọi trào lưu tư tưởng khác mình. Tôi chua tiếp: Ôi cái dân chủ đa nguyên! Và ở đâu đó trong cái hội trường mệt mỏi này, thằng con trai duy nhất của ông đang lẩm bẩm câu kinh biết rồi khổ lắm nói mãi. Cái khổ của thằng con là phải nghe. Cái khổ của ông bố là không được nói. Gia đình trí thức hiện đại của chúng ta gồm những chiếc miệng chỉ mấp máy trong mê và những chiếc tai đút nút chăng? Nghe bi đát quá. Vân và Kiều ơi, cha không có gì để nói nhưng sẽ hò hát bông phèng luôn luôn, và các con nhớ đeo toòng teeng cho những chiếc tai xinh luôn sinh động!

Còn Sến, Sến một mình vỗ tay như bé Măng Non trong chương trình Những bông hoa nhỏ của truyền hình, và cần cổ phu nhân vươn như chân Chùa Một Cột, ngực gái một con dào dạt chìa ra đón người hùng, người thả lưới vĩ đại từ bục bước xuống. Sến lục túi lấy một lát sâm. Cách ba hàng ghế tôi nghe lời em ân cần “Nam Triều Tiên xịn đấy anh ạ, không phải sâm mậu dịch đâu, ngậm đi cho lại sức”. Ôi mĩ nhân, mĩ nhân, con người bình thường và trần tục nơi em làm mủi lòng tôi ấm lòng tôi, tôi lại biết phải lòng em là hợp lẽ.

Nàng phó tiến sĩ của Viện tôi đã mào đầu xong về “Phụ nữ Việt Nam, truyền thống và hiện đại”. Nàng đeo kính và để tóc xù, trông cũng ra một hiện tượng. Sến hay trách tôi ác khẩu với đàn bà. Vâng, sự âu yếm của tôi nó nhếch nhác méo mó. Nói chung cái quan hệ đực cái ở ta nó nhếch nhác méo mó trong phạm vi toàn quốc, không chỉ riêng nơi tôi. Đàn ông dương vật buồn thiu, đàn bà cạn khô suối tình. Chỗ nào rào rạt biển tình thì là một biển cải lương chết chìm, một biển cải lương rất sến. Tôi còn một chút âu yếm chưa dùng đến, phải gói ghém vào miệng lưỡi xấu xa độc địa cho dễ bảo toàn. Ngày xưa để thần linh không màng, người ta bọc con yêu vào tên xấu…

Ở địa vị nàng tiên trí thức trên kia tôi sẽ à ơi – ru con cho cử toạ ngủ gật được yên tâm thiếp đi. Ông Viện trưởng sẽ đánh thức họ dậy. Có thể tin vào kinh nghiệm đọc diễn văn bế mạc của ông.


Chương Tám
Vợ chồng. Những biểu hiện của tình thương

Sau hội nghị “Di sản và đổi mới”, tất cả chúng tôi đều tạm ngưng áp phe Sến. (Ấm Đủ không dự hội nghị nhưng được ấm Tân thông tin, thế là nó cũng gầm lên: “Địt mẹ con nhỏ bậy quá!”). Chúng tôi thôi tập trung nói giọng cường quốc ở trường. Đứa có vợ hết nịnh đểu vợ ở nhà. Thằng ở Viện không đi đái rắt để nghe lỏm điện thoại nhau. Chúng tôi cùng lùi lai, chừa ra một khoảng cách tỉnh táo để khẳng định rằng: câu chuyện mùi mẫn sặc mùi cải lương Nam Bộ này đối với sĩ phu Bắc Kì chúng ta là đáng ngờ lắm!

Chúng tôi quay về với tôn chỉ của mình. Đoài lên dây cót đức hạnh. Thân rà lại lí trí phê phán. Tân bắt ấn, hai ngón trỏ chỉ thẳng lên tầng cao của sự khinh miệt tuyệt đối: nó gọi đấy là giác ngộ. Hồng chui tọt vào chiếc lô cốt văn minh, y đếch liên quan đến mục giải trí rẻ tiền. Đủ lại được một cơ hội chê cười lũ trong biên chế mạt vận suy đồi. Tôi làm một con tằm nhả ra những sợi tơ lòng chí lí, đại loại đời phù du thật, đàn bà là cái hoạ. Thông thường ý nghĩ của tôi khiêm tốn hơn. Những tiếng lòng đúc kết quá nhiều sự trải đời của người quân tử như trên đang làm bùi ngùi văn chương Việt Nam hiện đại. Tự nhiên sau hội nghị tôi cũng lẫn lộn thật giả, cũng ưa một chút quân tử bùi ngùi.

Sến rõ là một thiên đường cửa khép hờ, chỉ mạnh chân một chút là cả bọn chúng tôi ùa vào đại náo. Nhưng tiếu lâm hiện đại đã nói rồi, người Việt chúng ta giẫm chân nhau, chúng ta thà kéo tuột nhau cùng rơi trở về địa ngục. Chúng tôi là một bọn đàn ông Việt điển hình. Ăn pho-mát như thằng Hồng, khinh tiền bối như thằng Tân, nói ngọng như thằng Đoài, nói bậy như thằng Đủ, nói năm ngoại ngữ như ông Thân, nói vu vơ như tôi, những phẩm chất ấy đều thuần Việt. Cho nên thay vì đại náo nơi Sến, chúng tôi lui về tuần tiễu những vương quốc thế gian bé xíu của mình. Cái triển vọng thiên đường tập thể nghe thì hấp dẫn nhưng không mấy thích hợp với chúng tôi. Chỗ nào dành cho những cá nhân thì chúng tôi hùng hổ xưng danh một tập thể. Chỗ nào dành cho tập thể thì chúng tôi thu lu trong cái xác đơn chiếc của mình. Và chẳng bao giờ tiến bộ trong vấn đề chiếm đoạt, chúng tôi mãi là những thằng gia trưởng thoả hiệp với luật hôn nhân. Sến ơi, em hãy thương chúng tôi mà đừng yêu và chúng tôi yêu em mà không thương! Bao nhiêu tình thương chúng tôi đã gói để đầu giường cho các bà vợ hằng đêm gối ấp. Lấy chúng tôi làm chồng sang hèn thế nào chưa biết, nhưng cái bọc tình thương ấy các bà có thể mang theo xuống đáy mồ.

Sến đã thấy vợ tôi dưới dạng vỏ lon Coca Cola bẹp rúm. Mỗi sáng khi cô ấy rời nhà đến cơ quan, xưởng bánh kẹo, tôi luôn nhìn theo. Như mọi người Hà Nội cuối thế kỉ hai mươi, cô ấy không còn đi bộ. Chỉ xuống xe dắt lên con dốc La Thành, nhìn từ xa như một con cào cào lôi con châu chấu, xe là chủ người, không phải người là chủ xe. Rồi thoắt một cái đã trên yên. Tôi mất vợ vào dòng xe, bây giờ cô ấy giống hệt bất kì ai, là muôn loài, là nhân loại, tuyệt lắm. Chỉ không là thiếu nữ mười lăm năm trước thường thả bộ dọc phố Sinh Từ về Quốc Tử Giám. Thời ấy nửa triệu người Hà Nội giống nhau như nửa triệu giọt nước sông Hồng. Một tập thể phù sa mặc vải pha ni lông cắt phiếu và đi dép nhựa căng tin. Thời ấy nếu không có cái quần đen bên dưới và tóc dài bên trên chẳng ai biết người trước mặt liền ông hay liền bà. Từ gót chân đến đỉnh đầu không chỗ nào hở ra cho một tia quyến rũ riêng tư. Phô phang một phân vuông cá lẻ khác người có thể là phạm thượng. Khí phách đàn ông và nhan sắc đàn bà chỉ có trong sách, những dáng thướt tha chỉ thấp thoáng trong văn thơ, tất cả những gì bốc mùi mĩ thuật đều bị những nhát chổi mạnh mẽ của tinh thần sạch sẽ quét phăng khỏi hiện thực

Tôi thường vẩn vơ nhìn ngó những dáng đi. Bỏ qua chuyện sách vở dối lòng, tôi mạo muội khẳng định với bạn đọc là người Hà Nội thời ấy đánh mất dáng đi. Họ chuyển động trong thành phố trên những đôi chân không thuộc về họ, vung vẩy những cánh tay giả, so vai rướn cổ như được lắp ráp và nhẫn nại lê cái túi thịt tương đối lép của họ bằng một tốc độ nhỉnh hơn bản thân sự ngưng đọng tí ti. Thằng Hồng hồi ấy vừa đi thực tập một năm Liên Xô trở về. Đối diện lại với hiện thực Hà Nội, y nói thâm thuý rằng: “Sống thế này mà vẫn sống, ôi sự sống quả là bất diệt!”. Lúc đó y đầy lòng ngưỡng mộ đấy nước Xô Viết, cho đó là thiên đường của nhân loại, nhưng chủ yếu là y còn trẻ, còn biết ngạc nhiên và rút ra những kết luận khả quan. Bây giờ mấy cậu nghiên cứu sinh Ban lịch sử thế giới của Viện tôi ngồi luyện kim ở đôm Năm lại khinh dân Nga như rác. Trở lại thiếu nữ tên Phần, tôi muốn nói rằng nàng có một dáng đi. Không yêu kiều kiêu hãnh gì nhưng là một dáng đi. Cho thấy cá nhân nàng chứ không phải nửa triệu đồng bào. Rút cục tôi không thể cưới một tập thể về làm vợ. Phần thả bộ dọc phố Sinh Từ, cũng tóc dài bên trên quần đen bên dưới không khác mẹ nàng chị nàng và bà ngoại nàng, nhưng bước chân của nàng thuộc về nàng, bám sát sau nàng tôi thấy rõ; hai tay nàng mọc tự nhiên từ hai vai thảnh thơi; cổ chắc nịch an toàn; nàng không nhún nhảy và ngửng nhìn trời như trong sách, nhưng không lê bước, tốc độ của nàng tuỳ thuộc những hoàn cảnh rất riêng của nàng: nàng có một dáng đi.

Tôi đã cưới một dáng đi. Bây giờ sáng sáng tôi mất vợ vào dòng xe. Đến Giảng Võ dòng xe chia ba. Vợ tôi chắc đang lật đật vẫy tay xin đường. Tay cô ấy cũng khác xưa, tự động chắp vào vai, bên dưới là đôi chân tự động nối vào hông, bên trên là cái cổ tự động ngồi đúng chỗ. Chân, tay và cổ đàn bà phải mọc tự nhiên như nhành thuỷ tiên đơm từ củ. Nhưng tôi không là cây tùng, vợ tôi không là thuỷ tiên. Tôi đứng trên ban công nhà mình căng mắt nhìn về hướng xưởng bánh kẹo nhưng không thế, không thể nhận ra vợ mình. Đường chi chít những hình nấm khum khum lăn trên hai bánh. Bây giờ, khi dân Hà Nội bắt đầu có nhu cầu là những cá nhân riêng tư thì vợ tôi chìm vào một đám đông hỗn loạn ba triệu người. Cô ấy không còn thuộc về mình. Cô ấy thuộc về tôi và các con tôi, thuộc về xưởng bánh kẹo.

Nhưng đàn bà đánh giá nhau thực tế như tính tuổi vàng, miệng thì chị chị em em, mắt thì so đo từng sợi lông mi ngắn dài của đối tượng, tôi kể Sến nghe về một dáng đi mười lăm năm trước có ích gì? Sến hẳn cũng đã được dịp chào hỏi vợ thằng Hồng. Chị nay dạy triết ở Đại học tổng hợp, tối nào cũng xem vô tuyến đến mục “Con kênh xanh xanh” và là người đàn bà giàu sáng kiến nhất khu cầu thang. Khi chúng tôi mới dọn về, chị ta treo ngay ở hành lang một bảng phân công trực nhật, “Nguyên-Thân-Hồng-Đoài”, trẻ con khu tập thể chữa thành “Nguyên-Nhân-L…-Dài”, đứa nào đi ngang qua cũng rú lên: “Tạisaotạisaotạisao”-“Tạitaotạitaotạitao”. Vợ thằng Hồng viết một bảng phân công mới, treo tít lên cao, “Đoài-Hồng-Thân-Nguyên”. Bảng không suy suyển, nhưng bên dưới xuất hiện dòng chữ nguệch ngoạc “đùi Hồng chân Nguyên”. Vợ thằng Hồng thay quý danh của chúng tôi bằng những chữ cái, “H-N-T-Đ”. Nhưng bí danh kiểu này cũng không an toàn: khẩu hiệu mới to tướng trên tường là “Hôm Nay Thèm Đ…”

Lũ trí thức chúng tôi dưới sự chỉ đạo của một nữ triết gia hí hửng nêu một tấm gương nếp sống văn hoá. Cho một khoảnh toen hoẻn hai mét vuông với những phiến lát màu gạch cua gập gềnh. Một ốc đảo, một utopia, một trò cười và một triển lãm bích báo khiêu dâm.

Vợ thằng Hồng chuyển sang sáng kiến thứ hai: chị ta lên một chương trình bóng điện. Lúc đầu chị ta tự nguyện mắc một bóng đèn ở ngoài hành lang, đúng bảy giờ tối bật, mười giờ đêm tắt. Cuối tháng đi các nhà thu tiền ánh sáng công cộng, ba tiếng đồng hồ nhân lên với bốn mươi oát cứ thế tính ra, cuối cùng chia bốn, cực kì minh bạch. Mỗi nhà bốn trăm rưởi. Nhưng không tháng nào chỉ bốn trăm rưởi. Hai bóng nổ, năm bóng bị tháo trộm, và tháng sau lại những số liệu bất ngờ khác. Vợ tôi vừa đưa tiền vừa nói: “Sao bị tháo nhiều thế nhỉ”. Vợ ông Thân thì hỏi: “Cô mua phải hàng rởm sao mà cháy luôn thế?”. Vợ thằng Hồng triệu tập một cuộc họp. Kết quả là chúng tôi mỗi nhà mắc ra ngoài một bóng của mình. Lần lượt theo chiều kim đồng hồ để khỏi viết bảng, hôm nay nhà này chiếu sáng, ngày mai nhà bên cạnh, cứ thế quay vòng. Nhưng giải pháp này sớm tỏ ra không thực tế. Bốn cái bóng đèn ngon lành ngoài hành lang, ngay đêm đầu tiên cả bốn đều bay. Vợ thằng Hồng đề nghị quay vòng theo tuần. Hết tuần nhà này gỡ bóng mang vào thì nhà kia lắp lên, mỗi nhà mạo hiểm một tuần, hưởng thụ ba tuần. Hai mét vuông chung của chúng tôi thôi đành bẩn thỉu như mọi mét vuông trong khu nhà tập thể, nhưng những chiếc bóng đèn thì sạch nhất hành tinh. Tôi nói như thế với giáo sư triết một hôm chị ta trèo lên gỡ bóng. “Chị Chuyên ạ, cũng giống triết học của chị, triết học tiến bộ nhất lịch sử loài người.” Vợ thằng Hồng đánh rơi cái bóng. Bội Lan và Bội Hoàn chạy ra. Chị ta cứ đứng trên chiếc ghế đẩu nhìn xuống tôi. Nếu ở Mĩ chắc chị ta đã phát đơn kiện tôi tội sàm sỡ. Những dịp Tết và kỉ niệm quân đội tôi sang chơi, (tôi đã nói ở trên, chúng tôi bán anh em xa mua lấy sự gần gũi của nhau), vợ thằng Hồng lập tức bỏ sang phòng khác. Nhà ấy lắm phòng. Nếu chị ta sang thăm vợ tôi, tôi chỉ còn cách lẻn vào nhà xí kéo ri đô kĩ.

Tôi chắc giáo sư triết không tránh mặt Marie Sến. Nếu vợ tôi ghen, cô ấy bảo tại bóc hành cay mắt. Vợ thằng Hồng là loại Hoạn Thư, thế nào cũng mời Sến đến ăn cơm thân mật với gia đình. Cơm thân mật nhà ấy có Trưởng khoa đằng vợ và Viện trưởng Viện phó đằng chồng làm gia vị. Sến sẽ được giới thiệu là cô em nuôi, vợ chồng nó nâng cốc nhìn vào mắt nhau. Bội Lan Bội Hoàn vỗ tay, thằng Hồng có mà nhớ đến những chiều ăn phó-mát ở Lotus như nhớ ác mộng! Tôi biết tỏng chị ta tự cho mình là cái gì: là sự hoàn hảo không hơn không kém. Trí tuệ nhất, đảm đang nhất, thành đạt nhất, giàu sáng kiến nhất, ngoài ra còn là hoa khôi của khu cầu thang vì cái mặt trắng bệch như nhúng nước trong khi vợ tôi da nâu còn vợ ông Thân đã già. Thỉnh thoảng tôi ngứa mồm muốn hỏi thằng Hồng xem ở trên giường vợ y là người thế nào. Có lắm sáng kiến không? Có sạch nhất hành tinh không? Tôi chưa được có diễm phúc với một đàn bà hoàn hảo như thế. Biết đâu cũng quỵ luỵ dịu dàng như ai? Thằng Hồng nhạy lắm. Y cũng ngồi những cuộc đàn ông tầm phào, nhưng cứ đến đoạn chúng tôi thăm hỏi nhau chuyện mây mưa là y đứng dậy. Y đếch liên quan đến mục ái ân truyền miệng.

Còn vợ ông Thân, tên là bà Mùi, tôi ít thấy mặt. Mỗi lần gặp bà đều chào “Cơm chưa?”, tôi đáp “Dạ đã ạ”, là đủ thân mật. Bà bận đi lễ quanh năm. Giữa một đấng chồng và một đấng con, cả hai đều thiên tài ngang trái, bà Mùi phải tự chăm lo đời sống tinh thần của mình như thế nào đó, tôi có thể hiểu được. Một hôm sau khi “Dạ đã ạ” như thường lệ, tôi hỏi bà thờ vị nào. Bà Mùi bảo, Phật này, Quan Âm này, Mẫu này, Cụ Hồ này, với một bà cô chết trẻ hồi Ất Dậu thiêng lắm. Tôi buột miệng bảo năm ấy nhà tôi cũng có người chết. Hôm sau chẳng phải ngày lương vợ tôi cũng luộc ba lạng thịt để lên bàn thờ, rồi tự nhiên thấy bà Mùi khăn áo trịnh trọng vào cúng đỡ, vợ tôi đứng đằng sau tập sự, cúng xong kéo nhau ra cầu thang đốt vàng, đốt xong lại cúng tiếp lần nữa. Vân và Kiều hỏi ai chết hở bố. Tôi bảo hai triệu người, bố không nhớ hết tên. Nghe nói ở nước ngoài phụ nữ rủ nhau đi giải phóng phụ nữ. Ở đây phụ nữ rủ nhau đi tâm linh. Thỉnh thoảng đi viếng đền chùa tôi phải nép sang bên cho những phái đoàn các mẹ các chị tiến vào hành sự. Nếu ra ngoài họ cũng tự tin, nói năng trôi chảy, biết rõ họ ước gì muốn gì như ỏ đền chùa thì đấy là một tập thể mạnh. Nếu ngày thường họ cũng uống rượu, hút thuốc, múa gươm, hào phóng phát tiền và hơi điên điên như lúc ngồi đồng thì bao nhiêu phẩm chất quý nhất của lũ chúng ta đàn ông chạy cả sang phía họ. Cho nên tôi lo ngại canh chừng phong trào tín ngưỡng đang dần nhen nhúm ở cầu thang này. Hai người đàn bà với một que hương là thành một giáo phái. Vợ thằng Hồng chắc không ai dám rủ rê, tôi đoán chiều ba mươi Tết thắp hương tất niên chị ta đứng xa xa bàn thờ mà lẩm bẩm “tôn giáo là thuốc tôn giáo là thuốc, phiện của nhân dân phiện của nhân dân”.

Với bà Mùi, Sến không có gì phải ngại, nhục nhã người đàn bà đáng kính ấy đã nếm đủ những năm chồng đi cải tạo, còn buồn vui bây giờ của bà thuộc cả về thế giới bên kia. Sến là người đi lại lộn xộn giữa cái sướng và cái khổ của mình rồi bắt người khác phải lộn xộn theo, nhưng Sến không thể khuấy đảo bà Mùi được. Sến được nhận làm hội viên mở rộng của giáo phái cầu thang này. Xin bạn đọc đừng cho rằng gia đình chúng tôi văn minh tự do ngoại tình. Theo thiển ý tôi thì nhà tù trên toàn thế giới không thể kiên cố bằng gia đình Việt. Ở đây người ta không cùm nhau lại bằng luật pháp và bạo lực. Người ta giam nhau trong tình thương. Những biểu hiện của tình thương vừa sòng phẳng vừa nhập nhằng. Nhận Sến vào lúc nào và đẩy Sến ra lúc nào là chiến lược tình thương của các bà vợ, chúng tôi không kiểm soát nổi. Tôi chỉ thấy Sến ngày sóc ngày vọng sôi nổi theo đàn chị đi thờ, chắc nhà em cũng có người dự vào năm Ất Dậu. Hoa cúng em cầm hớn hở như hoa cưới. Chương trình tập sự bắt đầu chỉ đơn giản thế thôi, dần dần Sến sẽ có một cuốn lịch con con như của bà Mùi ghi kín các ngày, cộng thêm sổ công tác của nữ điệp viên quốc tế thì em phải sống thật gấp mới đủ hiến mình cho cả người lẫn thánh.

Một tuần trôi đi hai tuần trôi đi. Suýt nữa thì câu chuyện tình tay bảy này bị quẳng vào một xó cũng như cái hội nghị kia, không ai rờ đến nữa. Tất cả chúng tôi đều sẵn một xó lỉnh kỉnh những đồ bỏ thì thương vương thì tội như thế: tất thủng, bút bi rỗng, rất nhiều loại đinh vít và túi ni lông, một đống địa chỉ, những quyển nhật kí thiếu kiên nhẫn, danh thiếp của người khác, mơ mộng của mình… Dường như không còn gì có thể nhổ phăng chúng tôi khỏi những ngày đực rựa lười thối thây và phét lác, mồm thối hoăng thuốc lào… Dường như những cậu bé mặc quần thủng đít đã mệt rồi trò chơi nói giọng nước lớn. Cũng chẳng đáng ngạc nhiên: trong cái nóng nhiệt đới buồn này người ta thật dễ mệt mỏi và bỏ cuộc.

Nhưng tôi đã nói, Marie Sến là một câu đố, một thách thức. Tôi mãi hâm mộ ở em cái bí quyết vực dậy những thằng đàn ông thối chí. Sến cho chúng tôi về nghỉ phép hai tuần, sang tuần thứ ba cuộc phấn đấu cho tiến bộ lại quyết liệt hơn.

Bao giờ Sến cũng mở đầu ở Đoài. Anh cán bộ thoát li chính là mắt xích yếu nhất có thể bẻ gãy. Nhờ Sến tôi mới nhìn ra sự nhạy cảm đặc biệt và cái tiềm năng điên khùng của Đoài; trước đây tôi nghĩ, chấp cả mọi thủ đoạn ranh vặt và những khúc mắc nào đó của tâm hồn thì Đoài chẳng qua là một sinh vật thẳng một lèo như cái ống quần vuốt li của anh ta mà thôi. Và hèn, hèn hơn tất cả lũ chúng tôi. Như đã nói, đời thoát li như anh chàng là đời lí tưởng. Anh ta chẳng dại gì thay đổi cái quan hệ hoàn hảo giữa hậu phương nơi quê nhà và tiền tuyến chốn đô thành. Ai ngờ nghỉ Sến hai tuần, Đoài lập mưu sắp xếp lại cuộc đời. Trong toan tính của anh ta, phần ranh vặt của thằng tiểu nông vẫn lộ ra đáng ghét, nhưng cái tham vọng cải tạo cuộc đời thì trong trắng và dũng cảm. Chúng tôi ngoại tình tay, ngoại tình mồm, ngoại tình đầu, chắc chắn thằng nào cũng nghĩ đến vợ theo một cách nào đó, đơn giản nhất là ra sức nịnh vợ hơn, nhưng cái đạo đức chết tiệt của thằng trí thức trong biên chế không cho phép chúng tôi coi Sến là một trọng lượng đáng để cân bằng với gia đình. Đoài không thế. Dắt cả vợ và kinh nguyệt của vợ vào cơn ghen vì một đàn bà khác, kiếp cán bộ thoát li đẻ ra quả lắm điều trái khoáy. Tôi vẫn thầm khinh anh chàng là hoàn toàn tầm thường nhạt nhẽo, nay bỗng giật mình: Đoài lún sâu trong cuộc tình này hơn tất cả chúng tôi. Sự yêu của anh chàng thoạt trông thì tức cười, nhưng là một sự yêu mù quáng nghiêm trọng. Khi ấy tôi vẫn còn chưa biết nó sẽ thê thảm, và ngay trong thê thảm vẫn có phần tức cười như thế nào.
Đoài quyết đưa Sến về quê Tứ Kì. Anh ta cần một mức độ chính thức hoá nào đó, anh ta cần một ràng buộc. Tôi được mời đi hộ tống và nghi binh. Đoài về trước, anh ta gọi là đi tiền trạm, mẹ kiếp, chẳng khác nào cái thời hắn đi tiền trạm Thái Bình mua lợn cho Viện. Tôi hỏi: “Ông tính chuyện chết người đấy à?” Đoài đáp nghiêm trọng: “Tôi phải để nàng nàm quen với bà xã ông ạ, không thì nàng thiếu nòng tin.” Tôi hỏi vì sao hắn chọn mặt tôi gửi vàng. Đoài đáp: “Nhìn chung cậu chẳng có ní tưởng gì nhưng nà một người bạn tốt.” Tôi nghĩ đến những chiều theo Đoài và nàng của hắn cặp kè ở tiệm phở. Tôi nghĩ đến những cuộc ngồi ở Apocalypse Now khi Sến đặt ngực lên bàn. Nàng biết vú nàng là một kì quan. Nàng dâm đãng quá, làm sao tôi là thằng bạn tốt được và cũng chẳng tin thằng nào tốt với tôi. Nếu những lúc ấy thay vì ghen suông, tôi lùa tay xuống dưới thì cái mu tình đầm đìa của nàng sẽ ngoạm lấy không chịu buông tha.

Nhưng suốt ba tiếng đồng hồ trong xe khách chật, tôi làm thằng bạn tốt cho Sến ngủ trên vai, nàng thả bừa tóc vào mặt tôi rồi bỏ đi mơ vài giấc mơ trinh nữ trên những ổ gà khét tiếng của đường Năm, còn tôi thấy mình như Vân Trường đang canh giấc nồng cho một trong hai phu nhân của Lưu Bị.

Rồi phố huyện, rồi con đường làng, cảnh vật tẻ nhạt vừa phải, không văn hoa mà cũng không chất phác, Tứ Kì của anh hàng xóm sát vách tôi là một vùng quê trung bình nhạt nhẽo. Nhưng Đoài không lấy đó bận tâm, bao nhiêu tâm tình và tài trí anh ta dồn cả vào cuộc viếng thăm này. Chúng tôi được thấy nhà Đoài ngăn nắp, lợn trong chuồng không tru chéo đòi ăn, nhạc Trịnh Công Sơn, quạt Điện Cơ, cô con gái út chưa đi lấy chồng thật ngoan và vợ Đoài, người đàn bà vốn “xinh nhất nàng”, thật chậm thật hiền. Tôi ngà ngà say, bỏ mâm đàn ông có gà béo và vị trưởng phòng văn hoá huyện cùng vị phó hiệu trưởng trường trung học. Cô con gái út ngồi nhổ lông mày ở ngoài hiên. Trong bếp vợ Đoài cầm tay Sến bảo: “Chị xin em đừng hắt hủi anh Đoài nhà chị. Đàn ông người ta ai cũng có nòng tự hào, thôi thì, em cho được gì thì cho, em đẹp thế này đừng khinh anh ấy phải tội, chị già rồi.”

Tôi rón rén quay về mâm đàn ông huyên thiên thêm những gì về Tần Thuỷ Hoàng, Quang Trung và Goócbachốp cho xứng mồm một Viện trưởng, về nhà quê thì một thằng vô danh như tôi cũng được thấy mình quan trọng. Cỡ trưởng phòng như Đoài ra đình là ngồi chiếu nhất, mở miệng là thốt ra chân lí ở mức trung ương. Ngoài hiên hai chiếc lông mày của cô gái tên Là đã mảnh như hai sợi chỉ, tôi sợ chúng biến mất, như cái tinh thần gia đình trung cổ sáng suốt mà mù quáng và thiếng liêng nơi đây sẽ bị nhổ đi cho kịp với gu của thời đại. Và tôi run cầm cập hình dung ngay lúc này thằng Đủ có thể về thăm nhà. Nó sẽ đi xuống bếp và mẹ nó lại xin Sến thương thêm cả nó…

Ôi những bà vợ!

Chúng tôi không biết Sến là vợ của ai. Điều ấy chắc là không quan trọng. Sến xuất hiện giữa chúng tôi, giữa những bà vợ của chúng tôi, tất cả rồi sẽ bùng lên trong một cuộc cách tân, trước em tôi đâu ngờ cải cách ở xứ mình nó lẻn vào lòng mỗi người như bị bỏ bùa như vậy. Tôi Viện sĩ tôi nhận xét mạnh rằng xứ mình chưa bao giờ tự canh tân, cuộc cách mạng nào cũng do sáng kiến của những nòi phi Lạc Việt. Nay Sến xúng xính như ma-đam phương xa, tên thì lai, tính tình thì Quỳnh Dao, nhưng chắc chắn là của đất nước này, Sến đẩy chúng tôi vào những cuộc cách mạng cá nhân điên khùng. Rồi mỗi đứa sẽ ra sao? Gia đình sẽ ra sao? Xưa nay hễ bị đòi hỏi là chúng tôi mang gia đình ra xin lỗi. Chỉ có chiến tranh là không cho chúng tôi xin lỗi. Bây giờ em lại châm mồi chiến tranh, Marie Sến!

Lần lượt từng thằng chúng tôi sau đợt nghỉ Sến sẽ lao mình vào cuộc chiến ái tình này. Chúng tôi sẽ liều mình xông lên, đảm đương những việc vượt quá sức chúng tôi. Sẽ thành anh hùng. Sẽ trì hoãn ngày hoà bình. Khi ấy tôi còn chưa biết, ngày hoà bình mới thật Apocalypse Now.
Nguồn: Thanh Văn xuất bản, California 1996, ản đăng trên talawas với sự đồng ý của tác giả