trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 177 bài
  1 - 20 / 177 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcVăn học Việt Nam
Loạt bài: Hồ sơ Nhân văn-Giai phẩm
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40   41   42   43   44   45   46   47   48   49   50   51   52   53   54   55   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65   66   67   68   69   70   71   72   73   74   75   76   77   78   79   80   81   82   83   84   85   86   87   88   89   90   91   92   93   94   95   96   97   98   99   100   101   102   103   104   105   106   107   108   109   110   111   112   113   114   115   116   117   118   119   120   121 
31.5.2005
Nguyễn Đình Thi
Chống chủ nghĩa xét lại trong văn nghệ
 1   2 
 
Trên vấn đề văn nghệ phục vụ công nông binh, chủ nghĩa xét lại đã biểu hiện ở chỗ phủ nhận hoặc xóa mờ ranh giới giai cấp, nêu lên “con người”, “nhân tính”, “nhân phẩm”, “Nhân văn” siêu giai cấp để đề cao chủ nghĩa cá nhân tư sản hoặc tiểu tư sản, bôi nhọ hoặc phủ nhận những đức tính cách mạng tốt đẹp của quần chúng lao động, chống lại hoặc trốn tránh việc đi vào công nông binh và sáng tác phục vụ công nông binh.

Trên báo Nhân văn cũng như các tập sách Giai phẩm luôn luôn nói đến “trái tim, bộ óc, tự do và nhân phẩm”. Ngay cái tên báo Nhân văn cũng là một lá cờ tư tưởng theo phương hướng đó. Một số tác giả như Hoàng-Cầm, Lê-Đạt hay nói đến tình yêu, và công kích cuộc sống chúng ta hiện nay là xâm phạm vào tình cảm con người. Những bài văn, thơ, như “Con người Trần-Dần”, “Nhân câu chuyện mấy người tự tử”, v.v… đều xoáy vào đề tài đó. Trần-Duy, trắng trợn hơn, bôi nhọ những người cộng sản là “khổng lồ không tim”, và để tỏ ra là mình “có tim”, Trần-Duy khóc lóc than vãn với những “tiếng sáo tiền kiếp” đồi trụy, bế tắc. Những thứ luận điệu, “tư tưởng” đó thật ra đã cũ rích trong văn nghệ tư sản từ bao lâu về trước. Gần đây, có một vài bài văn thơ, dưới cờ là mô tả ra “con người”, còn thi vị hóa hình ảnh những nhân vật bán nước, hoặc sa đọa nữa.

Quan niệm của chúng ta về “con người”, “nhân tính”, “nhân phẩm” nhất định không thể giống với quan niệm của báo Nhân văn hoặc các tập sách Giai phẩm: Không phải “yêu ai là cứ bảo yêu, ghét ai là cứ bảo ghét”, hoặc hơn nữa, yêu ai thì cứ “sấn sổ đòi tình yêu”, như vậy là “con người”. Trái lại, theo đạo đức cách mạng đó không phải là “người”. Chúng ta đã học một cách làm người khác: nhiều khi đói mà không ăn, thà chịu khổ để kháng chiến, để làm cách mạng, còn hơn ăn miếng cơm trong cuộc đời nô lệ, hoặc bỉ ổi hơn nữa, ăn cơm thừa canh cặn của quân thù. Và tình yêu tự do của con người mới, không thể nào có nghĩa là tự do làm theo mọi người đòi hỏi, mọi thèm khát của mình. Thứ tự do đó chỉ là tự do của thú tính. Trái lại những cặp người yêu của thời đại ta không coi người yêu là một vật để thỏa mãn mình, không coi tình yêu là chỉ biết có tình yêu. Tình yêu thật của hàng nghìn vạn người thật mà chúng ta gặp trong đời sống ngày nay là tôn trọng giúp đỡ lẫn nhau, hy sinh cho nhau, trung thành, có trách nhiệm với nhau và có trách nhiệm với xã hội, với Tổ quốc, khi cần thì có thể hy sinh cả hạnh phúc riêng cho lợi ích của cách mạng. Như vậy không phải là “dại”, “không biết sống”, cũng không phải là “không tim”. Trái lại những người có “trái tim, bộ óc” tất phải làm như thế. Thời đại lớn của chúng ta đã cho chúng ta có trái tim và bộ óc lớn. Trước trái tim, bộ óc cao quý đó, chỉ có mấy anh lùn, từ dưới thấp lè tè sát đất, đem con mắt ích kỷ và quen hại người mà nhìn lên một cách ngớ ngẩn, rồi giễu cợt: “Kìa, bọn khổng lồ không tim”!

Trong cuộc thảo luận về con người mới, con người thời đại, có một vài ý kiến thắc mắc về vấn đề nhân tính và giai cấp tính, và cho rằng văn nghệ có cái gì ở trên các giai cấp. Vấn đề này cũng là một vấn đề cũ, đã nhiều lần thảo luận trong các tác phẩm của chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Nhân tính cố nhiên có, nhưng trong xã hội phân chia giai cấp, thì nhân tính biểu hiện cụ thể thành giai cấp tính, không có nhân tính trừu tượng nào đứng ngoài giai cấp. Nếu nhà thơ muốn tìm trong tình yêu trai gái chẳng hạn, một cái gì “cao thượng” ở trên các giai cấp giống nhau cho mọi giai cấp, thì có lẽ sẽ chỉ tìm thấy sự “đực cái” nguyên thủy mà thôi!

Thực chất của những lập luận về “con người, nhân phẩm” trừu tượng ở trên các giai cấp, chỉ là để thi vị hóa và bào chữa cho những lối sống dã man và ích kỷ của giai cấp bóc lột, và phủ nhận những đức tính tốt đẹp của quần chúng lao động. Theo quan điểm kỳ quặc về “con người” theo lối ấy, thì lao động quên mình hy sinh dũng cảm, có những tình cảm lành mạnh, tích cực, tức là “công thức, giả tạo” không “con người”, đã xoáy vào những cái xấu, kém, trình bày những con người chiến đấu cách mạng, những người lao động, thành những nhân vật thô bỉ, cục súc. Trái lại, đối với những tư tưởng, tình cảm hèn yếu hoặc bệnh tật, trốn tránh lao động, đấu tranh quay vào vỏ ốc của chủ nghĩa cá nhân, thèm thuồng hưởng thụ, thì lại có một số vần thơ mơn trớn, xoa vuốt, tô son vẽ phấn, cho đó mới thật là “con người”.

Khi chúng ta nêu lên vấn đề văn nghệ phải đi vào lao động, biểu hiện con người lao động thì có những tiếng mai mỉa: “công nông binh lao động sản xuất chủ nghĩa!” Chúng ta không sợ những thứ mai mỉa đó. Đúng là chúng ta đề cao công nông binh lao động! Cũng như trước kia, trong kháng chiến, chúng ta đã nêu lên: văn nghệ phải đi vào kháng chiến, biểu hiện những kháng chiến. Nếu có tiếng nói nào mai mỉa “công nông binh kháng chiến chủ nghĩa”, thì chỉ đáng buồn và đáng ái ngại cho tiếng nói ấy. Đúng, theo quan điểm của chúng ta là người, trước hết nghĩa là đừng bóc lột, ăn bám mà phải lao động. “Nhân tính”, “nhân phẩm”, trước hết là ở đó. Sống bóc lột, ăn bám vào mồ hôi và máu của người khác, theo chúng ta không phải là sống ra con người. Khi nói tới “con người” hoặc “con người mới”, “con người thời đại”, chúng ta không thể tách vấn đề đó ra khỏi những câu hỏi: đó là con người lao động hay là con người bóc lột, ăn bám? Đó là con người tập thể hay là con người cá nhân chủ nghĩa? Đó là con người có tổ chức hay là con người vô kỷ luật, vô chính phủ? Trong thực tế của cách mạng xã hội chủ nghĩa đang tiến lên, đời sống đã đặt câu hỏi đó trước mặt mỗi người. Văn nghệ khi biểu hiện con người cũng không thể trốn tránh những câu hỏi đó.

Vì vậy hiện nay những cách kêu gào trống rỗng phải bảo vệ con người “chung chung”, phải tôn trọng “mọi tình cảm” của “con người”, mà không phân biệt rõ là bảo vệ con người lao động hay con người bóc lột, ăn bám, phải tôn trọng tình cảm đặt mình vào lợi ích tập thể hay đặt mình ở trên lợi ích tập thể, những cách kêu gào đó chỉ là một thứ khói hỏa mù để che mắt người ta, không cho nhìn rõ cuộc đấu tranh xóa bỏ và cải tạo những tầng lớp bóc lột trong xã hội. Nhà văn nghệ yêu sự thật, không thể lừa dối mình và lừa dối mọi người bằng những cách nói như vậy.

Cho nên khi nói đến con người mới, Đảng ta luôn luôn nói rõ: con người mới là con người lao động chân tay và trí óc, những con người mới trước hết là công nông binh. Trong bức thư gửi Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, Trung ương Đảng đã kêu gọi các nhà văn nghệ đi vào những con người lao động quên mình và phấn đấu kiên quyết, hàng ngày sáng tạo, làm cho chủ nghĩa xã hội thành sự thật của đời sống.

Đời sống của công nông binh, đó là máu thịt, là chất sống của văn nghệ cách mạng, bỏ chất sống đó đi thì cũng không còn văn nghệ cách mạng nữa. Ngày nay, không ai còn có thể công khai chống lại đường lối văn nghệ đó, vì đã qua cuộc đấu tranh gian khổ của chín năm kháng chiến, do sự cố gắng của những người văn nghệ, do sự xây dựng kiên trì của Đảng, nền văn nghệ phục vụ công nông binh không phải chỉ là lý thuyết mà đã thành sự thật, nó đã đứng lên đầy sức sống. Song rải rác gần đây trong khi thảo luận về chủ đề sáng tác, chúng ta lại thấy xuất hiện một số ý kiến có thể gây ra lẫn lộn về vấn đề căn bản đó. Có ý kiến nói: viết về tiểu tư sản mà sâu sắc và hay còn phục vụ được công nông binh hơn là viết về công nông binh mà nông cạn và dở. Có ý kiến nói: nhà văn chỉ thành công khi nào viết lên cái mình đã quen thuộc và biết rõ. Cũng có ý kiến nói: tả giọt nước cũng có thể thấy được cái vô cùng của biển cả, trời xanh. Hoặc có ý kiến khác nữa: cái giá trị của tác phẩm là dạy cho người ta cách nhìn mới, làm cho cảm giác thấy những cái mới ngay trong cuộc sống hàng ngày đã quen thuộc, chứ không phải cái giá trị là ở chủ đề mới.

Chúng ta đều đồng ý rằng riêng chủ đề không làm ra được tác phẩm nghệ thuật mà chủ đề ấy phải thể hiện lên thành những con người, những tư tưởng tình cảm có sự sống thật. Viết về công nông binh nhưng nếu diễn tả công nông binh còn nông cạn, cứng nhắc, chưa thành người, hoặc lại diễn tả sai lạc đi theo con mắt nhìn tiểu tư sản thì tác phẩm vẫn không có giá trị. Và cũng đã có trường hợp nhà văn chỉ mượn đề tài công nông binh, hoặc chiến đấu, lao động làm cái cớ để nói lên những tình cảm tiểu tư sản của mình.

Chúng ta công nhận rằng nhà văn hay nhà thơ có thể miêu tả giai cấp tư sản hay tiểu tư sản với lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân. Tác phẩm như vậy có ích lợi cho công nông binh. Và công nông binh còn hoan nghênh cả những bức tranh vẽ phong cảnh bông hoa, tĩnh vật hay người khỏa thân, nếu vẽ lành mạnh, đẹp, đúng với nhu cầu tình cảm của quần chúng. Cho nên chúng ta không hề gạt bỏ đề tài nào, hoặc cấm một đề tài nào. Nhà văn có thể viết về bất cứ đề tài nào mình thấy cần viết và đủ sức viết, miễn là tác phẩm có nội dung tư tưởng tốt, xây dựng được tâm hồn quần chúng, giáo dục được quần chúng, phục vụ cho cách mạng tiến lên.

Song vấn đề đặt ra ở đây không phải đặt ra chung chung cho những nhà văn nghệ lý tưởng đủ sức và đủ trình độ để sáng tác thành công về bất cứ đề tài nào, mà vấn đề đang đặt ra cụ thể cho các văn nghệ sĩ ta, những văn nghệ sĩ Việt - nam, đa số xuất thân ở giai cấp tiểu tư sản, trước đây ít gần quần chúng lao động, mới bước đầu đi vào công, nông, binh, về tư tưởng thì còn vướng mắc nhiều trong những tư tưởng của giai cấp cũ. Đối với thực trạng của đa số chúng ta như vậy, nếu không quyết tâm cải tạo tư tưởng của mình, và không chịu gian khổ lăn vào đời sống của quần chúng, tham gia vào cuộc sống lao động phấn đấu, tìm hiểu cuộc sống đó, thì không thể thoát khỏi con người cũ của mình được, không thể có cách nhìn mới đối với cuộc sống được. Và khi đó không những bất lực không thể viết về công nông binh, mà viết về giai cấp tiểu tư sản hoặc tư sản cũng không thể thành công, không miêu tả được thực chất những giai cấp đó theo đúng lập trường tư sản vô sản. Trong thực trạng hiện nay của đa số chúng ta, nếu kêu la: “Cứ để cho tôi viết cái tôi đã quen”, “cứ để cho tôi tả giọt nước cũng có thể thấy trời xanh biển cả”, nếu chỉ kêu là như vậy thì thực tế nghĩa là nhà văn không cần phải đi đâu, cứ ngồi nhà viết về tiểu tư sản, say sưa với tình cảm tiểu tư sản của mình, tuyên truyền cho tư tưởng, tình cảm tiểu tư sản. Tác phẩm như vậy chỉ có thể sai lầm, có hại, không phục vụ gì cho công nông binh được. Nhà văn như vậy không phải là mượn giọt nước để tả biển cả trời xanh mà thực tế là thu mình trong vỏ ốc, đi vào những thích thủ tủn mủn, bên rìa cuộc sống của quần chúng. Những giọt nước khi đó không phản ánh được biển cả trời xanh nào, mà chỉ phản ánh cái bóng tối om của cái vỏ ốc cá nhân chủ nghĩa. Trong thực tế, thì hơn ba năm nay, một số khá đông văn nghệ sĩ chúng ta đã tách rời đời sống quần chúng một cách nghiêm trọng. Nhìn vào đời sống một số văn nghệ sĩ ở Hà - nội, không khỏi sốt ruột! Đối với cơ quan thì những anh em đó không nhận mình là cán bộ và không tham gia sinh hoạt cơ quan, đối với khu phố thì những anh em đó lại là cán bộ cơ quan, không tham gia sinh hoạt khu phố. Chưa nói tới việc tìm hiểu nhà máy, hầm mỏ, nông thôn, miền núi v.v… ngay sinh hoạt chính trị của nhân dân khu phố mình ở, có văn nghệ sĩ cũng không biết gì. Trong tình trạng như vậy, mà chỉ nói “cứ tả giọt nước cũng thấy biển cả” thì rồi đi tới đâu, chúng ta đã thấy! Một số văn nghệ sĩ chúng ta hiện nay chỉ làm việc “rút ruột tằm”, sáng tác trên cái vốn sống cũ từ trước, mà thiếu hẳn vốn sống trong thực tế mới của quần chúng.

Vấn đề của chúng ta ngày nay không phải là “cứ viết về cái mình quen thuộc”, mà là phải gian khổ đi vào đời sống quần chúng, cho đến quen thuộc quần chúng, thấm nhuần tư tưởng tình cảm mới của đời sống lao động, phấn đấu cách mạng, để có thể sáng tác thành công về công nông binh và về mọi đề tài khác.


*


Về vấn đề Đảng lãnh đạo văn nghệ trên báo Nhân văn và những tập sách Giai phẩm cũng như trong một số bài không tốt còn đăng lén lút ở sách báo gần đây, chưa có tiếng nói nào dám trắng trợn tuyên bố: tôi chống lại sự lãnh đạo của Đảng. Vì nói như vậy là tự lột mặt nạ trước quần chúng và sẽ bị quần chúng dập xuống ngay. Nhưng cái mũi nhọn tiến công của những tư tưởng xấu trước sau vẫn là chĩa vào sự lãnh đạo của Đảng, vì sự lãnh đạo đó là kim chỉ nam, là linh hồn của cách mạng, của mọi mặt đời sống chúng ta, trong văn học nghệ thuật cũng không thể khác. Toàn bộ lý luận của báo Nhân văn và các tập sách Giai phẩm về sự lãnh đạo của Đảng là xuyên tạc và đòi lật đổ hoặc thoát ly sự lãnh đạo đó. Chúng ta thấy rõ như vậy, khi đọc lại những bài về “Trăm hoa đua nở” hoặc đọc loạt bài của Trương-Tửu về “Chống sùng bái cá nhân trong văn nghệ” và “Văn nghệ với chính trị”. Trước hết điểm lý luận mà Trương-Tửu đã tập trung vào nêu lên, tức là: sự lãnh đạo của Đảng là giáo điều, độc đoán, xâm phạm vào tự do của văn nghệ, sai với chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Để chứng minh điều đó, Trương Tửu đã trích dẫn rất nhiều những câu, những đoạn trong các tác phẩm của chủ nghĩa Mác–Lê–nin, nhưng đem cắt câu, xén đuôi, tách ra khỏi ý nghĩa trong nguyên bản, rồi đem chắp lại thành một thứ chủ nghĩa “Mác–Lê –nin” của Trương-Tửu, sặc mùi vị vô chính phủ. Sau đó, Trương–Tửu đem sự lãnh đạo của Đảng ta đối chiếu với thứ chủ nghĩa “Mác–Lê–nin” đã xuyên tạc đó, để kết luận rằng Đảng ta lãnh đạo văn nghệ không theo đúng chủ nghĩa Mác–Lê–nin, Đảng ta không phải Đảng Mác–Lê-nin chân chính. Ví dụ, để bênh vực cho cái lý luận: “Văn nghệ chỉ cần vâng theo sự thúc đẩy của nội tâm mình”, Trương-Tửu thường nhắc đến câu của Lê-nin: “Không thể chối cãi được rằng sự nghiệp văn học ít nhân nhượng hơn cả đối với sự bình quân máy móc, đối với việc san bằng, đối với việc số đông thống trị số ít. Không thể chối cãi được rằng trong sự nghiệp đó tuyệt đối phải đảm bảo phạm vi rộng rãi bao la cho sáng kiến cá nhân, cho chiều hướng cá nhân, bảo đảm phạm vi rộng rãi bao la cho tư tưởng và sức tưởng tượng, cho hình thức và nội dung.”

Song chúng ta đều biết câu nói trên đây là ở trong bài văn nổi tiếng của Lê-nin về “Tổ chức Đảng và văn học Đảng”. Ý nghĩa chính của toàn bài đó không phải ở câu trên, mà ở nguyên tắc về tính đảng của văn học. Lê-nin viết: “Nguyên tắc đó của văn học Đảng là gì? Nguyên tắc đó không phải chỉ ở chỗ đối với giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa, sự nghiệp văn học không những không thể là công cụ kiếm tiền của những cá nhân hoặc những nhóm, mà nói chung, nó không thể là sự nghiệp cá nhân độc lập hẳn với sự nghiệp chung của giai cấp vô sản”. Lê-nin nói rõ thêm: “Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải thành “một cái bánh xe nhỏ và một cái đinh ốc” trong bộ máy xã hội dân chủ chủ nghĩa vĩ đại, thống nhất, do đội tiên phong hoàn toàn giác ngộ của toàn bộ giai cấp công nhân mở máy. Sự nghiệp văn học phải thành một bộ phận khăng khít của công tác Đảng xã hội–dân chủ thống nhất có kế hoạch, có tổ chức”.

Sau khi vạch ra nguyên tắc như trên, Lê-nin mới nói về đặc điểm của sự nghiệp văn học là không thể nhân nhượng với sự bình quân máy móc, và phải bảo đảm phạm vi rộng rãi cho sáng kiến cá nhân. Nhấn vào đặc điểm của văn học rồi, Lê-nin lại nhắc lại nguyên tắc: “Tất cả những điều đó không thể chối được. Nhưng tất cả những điều đó chỉ chứng tỏ rằng: bộ phận văn học trong sự nghiệp Đảng của giai cấp vô sản không thể cùng với những bộ phận khác của giai cấp vô sản dập khuôn như nhau. Tất cả những điều đó cũng không lật đổ cái nguyên lý mà giai cấp tư sản và phái dân chủ của giai cấp tư sản cho là lạ lùng, kỳ quái; sự nghiệp văn học nhất định phải là một bộ phận công tác của Đảng xã hội – dân chủ gắn liền chặt chẽ với các bộ phận khác”.

Chúng ta đều thấy rõ, nếu chỉ nhắc có một đoạn như Trương-Tửu đã làm, mà nêu lên đó là nguyên lý của Lê-nin về văn học thì thật là đổi trắng thay đen đến tột độ. Và nếu căn cứ vào “nguyên lý” đã xuyên tạc đi như vậy mà nhìn, thì Đảng không được quyền dòm ngó gì đến công việc của văn nghệ sĩ nữa, chỉ có việc là “tuyệt đối phải bảo đảm phạm vi rộng rãi bao la cho sáng kiến cá nhân, cho chiều hướng cá nhân”, v.v… tốt nhất là Đảng chỉ có việc cung cấp lương, tiền và điều kiện làm việc, làm một thứ Mạnh-Thường-Quân ù lì của văn nghệ, còn ngoài ra các văn nghệ sĩ muốn làm gì thì làm, Đảng không được phát biểu ý kiến gì. Hễ đảng vạch ra đường lối sáng tác, hễ Đảng phê bình sai lầm khuyết điểm, đấu tranh tư tưởng, thì đều là “giáo điều, can thiệp, thô bạo” trái với Lê-nin! Như vậy mà tuyên bố thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng thì thật là kỳ quặc!

Những “lý luận Trương-Tửu” và các thứ lý luận tương tự trong Nhân văn, Giai phẩm đều nhằm thổi phồng đặc điểm của văn nghệ, xuyên tạc những đặc điểm đó, để phủ nhận bất cứ sự lãnh đạo nào của Đảng, phủ nhận nguyên lý của Lê-nin: sự nghiệp văn học phải là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, do Đảng lãnh đạo. Nhà văn, chiến đấu trong hàng ngũ cách mạng, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là bộ tham mưu chỉ đạo toàn bộ cách mạng.

Cũng trong luồng lý luận như trên, chúng ta còn nhớ Phan-Khôi đưa ra chủ trương “văn nghệ và chính trị vỗ vai nhau: tôi với anh hai bên cùng có lợi”, biến quan hệ giữa văn nghệ với cách mạng, với Đảng thành một thứ mặc cả mua bán.

Về mặt “lý luận” và nguyên tắc Đảng lãnh đạo văn nghệ thì như trên, còn đối với tổ chức của Đảng, đối với các cơ quan và nhất là cán bộ của Đảng thì báo Nhân văn và các tập sách Giai phẩm đã bịa đặt và xuyên tạc sự việc, đả kích một cách hằn học, dùng những danh từ thô bỉ để mạt sát, quên cả lễ độ tối thiểu của ngòi bút. Những người viết các bài đó vảy bùn lên những cán bộ, và có ngụ ý thâm hiểm hơn nữa là trong khi vẽ lên những bức tranh về những cán bộ xấu, ác, dốt, đê hèn, thì họ muốn làm cho người ta nghĩ rằng: Đảng lao động Việt-nam là như vậy, cán bộ là như vậy. Thật ra trong khi họ phun ra tất cả sự hằn học đó, thì thực chất của họ đã lộ rõ trong những bức tranh quái gở mà họ vẽ nên để xuyên tạc về cán bộ của Đảng: những bức tranh đó đã thành tấm gương phản chiếu bộ mặt thật của họ. Đối với cán bộ của Đáng, lập luận của Trương-Tửu và của báo Nhân văn là: không biết chuyên môn không được nói về chuyên môn, không biết văn nghệ không thể có ý kiến về văn nghệ. Bằng lập luận đó, họ muốn bịt miệng, chặn họng quần chúng và cán bộ của Đảng. Nhưng quần chúng làm ra đời sống, đã không im trước những hình ảnh xuyên tạc về đời sống mà họ vẽ ra. Quần chúng đã đem thực tế của đời sống mà đối chiếu với những bức tranh xuyên tạc đó và vạch trần những lập luận giả dối của họ.

Một nét nữa của báo Nhân văn và của Trương-Tửu đối với sự lãnh đạo của Đảng là họ phỉnh nịnh quần chúng, làm như quyền lợi của quần chúng đối lập với Đảng, họ khơi sâu thêm những mâu thuẫn nẩy ra trong quan hệ giữa lãnh đạo và người bị lãnh đạo và khích quần chúng nổi dậy chống lãnh đạo. Họ đòi “trăm hoa đua nở” theo lối “hoa lành hoa độc, hoa thối hoa thơm đều có quyền nở tự do”, phải đưa thẳng tất cả cho quần chúng, không được có “cấp trung gian” nào giữa văn nghệ sĩ và quần chúng, quần chúng sẽ tự định đoạt lấy và chọn lấy. Họ gọi tổ chức của Đảng là cung cấp trung gian, hệ thống quan liêu, là cái “cầu mục nát” làm cho lãnh đạo xa lạ quần chúng, đè lên quần chúng. Trương - Tửu còn hay lợi dụng những người đã chết như đối với họa sĩ Tô-Ngọc-Vân. Bài “Chống sùng bái cá nhân trong văn nghệ” đã nêu Tô-Ngọc-Vân là “dũng cảm” vì dám tranh luận với ý kiến của một lãnh tụ Đảng, Trương-Tửu kêu gọi văn nghệ sĩ phải làm như vậy, có như vậy mới là “dũng cảm”. Sự thật như chúng ta đều biết là Đảng không hề ngăn cấm những ý kiến tranh luận trong văn nghệ, và chính những ý kiến của họa sĩ Tô-Ngọc- Vân đã đăng trên tạp chí Văn nghệ là một tờ báo chịu sự lãnh đạo của Đảng. Những cái dũng cảm thật của Tô-Ngọc-Vân đâu phải ở việc “dám chống lại lãnh đạo”, cái dũng cảm thật của anh là đi theo cách mạng, theo Đảng, rời bỏ Hà-nội, lăn vào kháng chiến, rồi rời bỏ cả một số quan điểm nghệ thuật cũ của mình, nghe theo sự giáo dục của Đảng, lăn mình vào quần chúng mà sáng tác và phục vụ cho đến lúc hi sinh.

Những lối xúc xiểm, nịnh quần chúng của báo Nhân văn và lý luận Trương–Tửu, không khác gì những thủ đoạn của bọn khiêu khích.

Sau khi khuynh hướng của báo Nhân văn bị đánh lui, trên báo chí chúng ta đã thấy một lúc sạch được những lập luận như trên. Nhưng gần đây lại thấy hiện ra lẻ tẻ một vài lập luận tương tự. Một số bài lại nói bóng gió, gây không khí đối lập giữa văn nghệ sĩ với sự lãnh đạo của Đảng. Một số tin văn nghệ đã in ră, không có một ý kiến phê bình, để nói về một cuốn in ở miền Nam nội dung là “ở miền Bắc thì văn nghệ sĩ bị gọi là Việt gian phản quốc, ở miền Nam thì bị gọi là phiến loạn, thật là tuyệt lộ”. Lý luận “không biết học văn chương thì không phê bình văn chương” lại đưa ra trong bài “Ông vỗ ngực”, còn “Ông Năm Chuột” của Phan–Khôi thì triết lý: tôi không dạy ông làm văn chương cũng như ông đừng dạy tôi làm thợ bạc.

Không thể để cho tình trạng đó tiếp tục, chúng ta phải làm sáng rõ nguyên tắc về Đảng lãnh đạo văn nghệ và đập tan những luận điệu Nhân văn, “nguyên tắc Trương–-Tửu”, “lập luận Phan- Khôi” đang tìm cách nhoi lên trở lại.

Điều đáng quan tâm là gần đây trên tuần báo Văn có những ý kiến lệch lạc của một vài đồng chí phụ trách, phủ nhận hoặc coi thường sự lãnh đạo về tư tưởng. Ví dụ như có chủ trương cho rằng hiện nay, phải giải quyết mọi vấn đề văn nghệ bằng sáng tác, lấy sáng tác đọ với sáng tác, còn cãi nhau mãi không đi tới đâu, mọi lý lẽ đã hết cả rồi. Hoặc có chủ trương khác cho rằng đối với một số sáng tác có tư tưởng sai lầm thì cứ nên in ra cho mọi người đọc rồi phê bình sau. Dư luận đã phản đối chủ trương như trên. Theo tôi, những chủ trương đó đã san bằng cái đúng với cái sai, và tước vũ khí đấu tranh tư tưởng hóa và hạ thấp sự lãnh đạo của Đảng trong văn nghệ, thực tế là bỏ trận địa cho những tư tưởng sai lầm nẩy nở và tác hại.

Cũng trên chiều hướng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta thấy xuất hiện một số lập luận dè bỉu và dìm thấp những tác phẩm văn nghệ từ sau Cách mạng tháng Tám, và những tác phẩm của văn nghệ xã hội chủ nghĩa để quay trở về bái phục cái “nghệ thuật”, “kỹ thuật” của văn học tư sản cũ trên thế giới và ở Việt–nam, đòi “khôi phục” những tác phẩm có trào lưu văn học đó. Có nhà văn cũ của ta bị hỏi những câu như sau: Tại sao từ cách mạng đến nay anh viết kém hơn trước? Cái ngụ ý của người đặt ra câu hỏi như vậy không có gì khó thấy: người ấy muốn nói rằng văn học từ khi có Đảng lãnh đạo đã kém đi.

Trong việc tái bản những sách cũ, cũng có khuynh hướng khôi phục những tác phẩm văn học lãng mạn, suy đồi, mà không hề phê phán. Có những tác phẩm cũ mang những tư tưởng phản động hoặc lạc hậu còn được tâng bốc, khen ngợi, như trường hợp cuốn Tiêu sơn tráng sĩ. Dư luận đã phản đối việc làm đó. Sự phản đối ấy hoàn toàn đúng. Trong văn học hiện thực và lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám có không ít tác phẩm có nội dung căn bản tốt, chúng ta phải biết chọn đúng. Nhưng không thể in lại bừa bãi. Và chúng ta đều biết rõ phần lớn những tác phẩm trước cách mạng, cả một số tác phẩm căn bản tốt, cũng còn mang nhiều tư tưởng sai lầm của thời đó, và những tư tưởng phản động nữa. Khi đánh giá lại các tác phẩm cũ, chúng ta hết sức làm nổi bật mọi điểm tốt và tiến bộ, nhưng chúng ta phải phê phán những tư tưởng sai lầm, không thể bỏ qua, lại càng không thể tâng bốc như người ta đã làm.

Chúng ta cần chống lại với khuynh hướng “khôi phục” lại đó, và chống lại với thái dộ dè bỉu nền văn học cách mạng của chúng ta. Nền văn học mới của cách mạng dù còn non trẻ cũng không sợ bất cứ sự so sánh nào với văn học tư sản trước cách mạng. Chúng ta dám nói: Nếu so sánh với văn học lãng mạn tư sản trước đây thì nền văn học mới đã hơn hẳn, hơn về nội dung đã đành nhưng hơn hẳn cả về nghệ thuật nữa, hơn trong sự miêu tả thực chất của đời sống, của nhân vật, hơn trong tình cảm sâu sắc, hơn cả trong sự sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Và nhất định không phải từ sau Cách mạng tháng Tám các nhà văn đã viết kém đi. Có người viết kém đi vì tài năng đã đứng hoặc lùi, đó không phải tại cách mạng. Nhìn chung, ai cũng biết là viết về cách mạng rất khó. Các nhà văn của chúng ta đều hiểu rất rõ những gian khổ của ngòi bút, khi muốn diễn tả cuộc sống mới bao la, ào ạt, chuyển biến lên không ngừng. Ngày nay chúng ta viết khó hơn ngày trước rất nhiều vì thực tế của cách mạng vượt qua mọi sự tưởng tượng và hiểu biết của người cầm bút. Song không vì thề mà các nhà văn của chúng ta không mỗi ngày một tiến bộ. Có một số nhà văn cũ nay viết chưa hay, nhưng cũng rõ ràng có những nhà văn đã viết hay hơn ngày trước rất nhiều. Nền văn học cách mạng của chúng ta còn non trẻ, nhưng nó đã có những tác phẩm tốt, có giá trị, tuy chưa có những tác phẩm lớn thật xứng đáng với thời đại ta. Những tác phẩm đó vang tới, chắc chắn sẽ tớ

Quan điểm căn bản của chủ nghĩa xét lại, tuy tự xưng là “mới”, nhưng đều rút ở cái kho lý luận đã quá thời của văn nghệ tư sản. Mặc dù nó khoác nhiều thứ áo lòe loẹt và tự rêu rao là “phát triển Mác–Lê-nin” v.v…, chủ nghĩa xét lại không thể giấu được bộ mặt thật của nó, và nhất định bị đánh ngã. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ không thể đơn giản, gọn gàng. Nó còn phải trải qua nhiều bước phức tạp, khó khăn. Kinh nghiệm bước đầu của chúng ta, hơn ba năm qua, đã chứng tỏ điều đó. Kinh nghiệm đấu tranh ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng cho ta thấy điều đó.

Một sự thật là nhiều văn nghệ sĩ chúng ta, suốt mấy năm qua, đã loanh quanh ở thành thị, giữa cuộc sống chạy đua kiếm chác, đầu cơ trục lợi, “cá lớn nuốt cá bé”, “khôn sống mống chết” của giai cấp tư sản và những tầng lớp tiểu tư sản. Chúng ta hít thơ cái không khí đó, và quá xa rời cuộc sống lao động phấn đấu lành mạnh của công nông. Cách mạng đã chuyển biến, chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện chung quanh ta, và hàng ngày đang lớn lên, đang đấu tranh trên mọi mặt với chủ nghĩa tư bản. Điều đó chúng ta thường chưa nhận rõ. Hoặc nếu có tìm hiểu cuộc đấu tranh đó thì chúng ta thường mới lo lắng nhìn thấy những cơn sóng gió dồn dập chứ chưa nhận rõ dòng sông to lớn đang chuyển mình lên. Cách mạng đã chuyển biến và đời sống thay đổi, nhưng chúng ta đã thường nhìn đời sống và suy nghĩ theo cách nhìn và những quan niệm của giai đoạn cách mạng cũ. Không những thế, những tư tưởng lạc hậu có gốc rễ trong văn nghệ từ trước cách mạng, nay lại quật dậy và lồng lộn, phá phách. Vì cuộc đấu tranh mới đã chích thẳng vào những tư tưởng đó. Tôi nghĩ rằng công việc sáng tác văn nghệ mà làm đúng thì bắt chúng ta phải lăn lộn vào đời sống, vật lộn với khách quan để tìm hiểu sự thật và diễn tả cho đúng sự thật đó. Nhưng một phía khác thì công việc ấy cũng rất dễ đánh lừa chúng ta. Vì sự sáng tác là một việc làm cá nhân, và không thể khác được. Một nhà tiểu thuyết đã nhận xét: “Khi ở trước trang giấy thì nhà văn dễ thấy mình là trung tâm vũ trụ”. Ý thức tư tưởng cá nhân, chủ quan, đầu óc siêu nhân, vô chính phủ, là những bệnh tư tưởng mà người văn nghệ ít nhiều thường mang trong mình. Đó cũng là một miếng đất tốt cho chủ nghĩa xét lại gieo vào và nảy nở. Nhất là một số đông văn nghệ sĩ, trước cách mạng, học trong trường Pháp, bị ảnh hưởng rất sâu của những quan điểm văn nghệ tư sản phương Tây trong thời kỳ suy đồi cuối cùng của nó. Thời gian vừa qua, nhất là sau Đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản Liên-xô, sau khi Đảng ta phát hiện một số sai lầm khuyết điểm và tự phê bình, trong tư tưởng chúng ta hễ lúc nào và ở nơi nào mất phương hướng của tư tưởng vô sản thì lúc ấy và ở nơi ấy những tư tưởng văn nghệ tư sản sống ngay trở lại. Những tư tưởng sai lầm này khi sống lại thì lập tức được sự cổ vũ, hưởng ứng của cuộc sống cũ và lớp công chúng cũ ở thành thị. Nó cũng được sự hoan nghênh của tất cả những lực lượng chống chủ nghĩa xã hội. Nhưng nó vấp ngay phải sự phê bình đấu tranh của Đảng và của quần chúng lao động. Cuộc đấu tranh ấy mỗi lúc càng gay gắt, nếu không nhận rõ tình hình thì một số văn nghệ sĩ lạc đường không những không nhận thấy mình sai lầm, mà còn quay lại hờn giận bực tức với Đảng, hoặc còn dựa vào những lực lượng lạc hậu để chống lại sự phê bình của Đảng. Tư tưởng tư sản không thể nào dung hòa với tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm văn nghệ tư sản, dù biểu hiện ra dưới hình thức lừa dối của chủ nghĩa xét lại, cũng không trốn đâu được và vẫn là một vật chướng ngại đang ngăn cản bước đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong lĩnh vực tư tưởng và văn nghệ.

Cuộc đấu tranh càng trở nên phức tạp vì kẻ địch không khoanh tay ngồn im mà tìm mọi cách chen vào, lợi dụng phá hoại. Bọn Mỹ–Diệm ở miền Nam và những lực lượng chống chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đã ra sức gieo rắc những tư tưởng thù địch với chế độ ta, với chủ nghĩa xã hội, với Đảng. Cho nên cuộc đấu tranh tư tưởng hiện thời trong văn nghệ không phải chỉ là vấn đề phê bình những lệch lạc, đấu tranh với những sai lầm của một số người. Đó là cuộc giao phong giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, đó cũng là cuộc đấu tranh ráo riết giữa địch và ta trên mặt trận tư tưởng. Câu hỏi: “ai thắng ai ?”, - tư tưởng xã hội chủ nghĩa thắng hay tư tưởng các nhân tư sản thắng – đã đặt ra ở đây. Cuộc đấu tranh đó không những chỉ nhằm đập tan mọi tư tưởng thù địch, đánh bại những khuynh hướng sai lầm. Ý nghĩa chính của nó là mở ra cả một đoạn đường mới cho văn nghệ, xây dựng nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa về nội dung và dân tộc về hình thức, làm cho văn nghệ càng bắt sâu gốc rễ vào đời sống lao động và phấn đấu của quần chúng để có thể phát triển mạnh mẽ, tốt đẹp.

Qua đấu tranh, văn nghệ ta đang tiến lên. Sức sống lành mạnh của nền văn nghệ cách mạng, do Đảng lãnh đạo, đã tỏ rõ trong những năm kháng chiến vẻ vang trước đây, và cả trong hơn ba năm hòa bình vừa qua. Vượt qua nhưng cơn sóng gió mới, nền văn nghệ của chúng ta vẫn tiếp tục lớn lên không ngừng, đầy sức sống và đầy sức chiến đấu. Chúng ta tin chắc điều đó. Cuộc đấu tranh đang diễn ra không làm yêu văn nghệ ta như có người lo ngại, mà trái lại nó đang làm cho hàng ngũ những người văn nghệ yêu nước, yêu chế độ đoàn kết lại, đoàn kết thật sự, đoàn kết cao hơn. Chúng ta quyết tâm đấu tranh để tạo ra bầu không khí mới, trong hoạt động văn nghệ và làm cho xuất hiện ngày một thêm nhiều tác phẩm lành mạnh và có giá trị, xứng đáng với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.

Nguồn: Học Tập, tạp chí lý luận và chính trị của Đảng Lao động Việt Nam, số tháng 3.1958, trang 5-22