trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
9.7.2005
 
Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ Việt Bắc
Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn (3/15)
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15 
 
6. Hoàng Yến

Tập thơ Việt Bắc có hiện thực không?

Tập thơ Việt Bắc, sau khi xuất bản đã gợi ra một số thắc mắc văn nghệ làm đầu đề cho những cuộc bàn cãi sôi nổi.

Thơ Tố Hữu đã trở thành một vấn đề văn nghệ nóng hổi của chúng ta hiện nay. Và một triển vọng có thể đạt tới là việc nghiên cứu, phê bình tập thơ Việt Bắc nếu mở rộng, đào sâu thì nhất định sẽ đẩy mạnh sáng tác và soi rõ thêm cho đường lối của thi ca Việt Nam.

Ðể bắt đầu cuộc thảo luận, chúng tôi đăng bài dưới đây của Hoàng Yến, [1] một bạn công tác văn nghệ trong quân đội, tiếp theo bài của Xuân Diệu đăng hai kỳ trước. Sau bài này sẽ còn nhiều bài khác và chúng tôi mong anh chị em văn nghệ cũng như độc giả thuộc các giới tham gia đông đảo. Chúng tôi mở một "tự do diễn đàn" và yêu cầu các bạn tích cực tỏ bày ý kiến riêng, theo đúng tác phong "nói thật, nói thẳng, nói hết", dù có những điểm mà chúng tôi không đồng ý, chúng tôi cũng hoan nghênh.

Văn nghệ


Tập thơ Việt Bắc chủ yếu là tập thơ kháng chiến. Sự sống trong thơ là sự sống nhiều mặt của cuộc kháng chiến toàn diện, toàn dân. Tình cảm trong thơ là những tình cảm lớn của con người kháng chiến đồng thời cũng là những tình cảm lớn của thời đại.

Vấn đề đặt ra là tôi muốn biết tác giả đã đi đến với sự sống nhiều mặt đó như thế nào? Ðã xúc cảm người đọc đến mức độ nào? Hay nói một cách khác, tôi muốn thử nghiên cứu, xác định, đánh giá khả năng hiện thực trong thơ Việt Bắc của Tố Hữu.

Qua tám năm kháng chiến, cuộc sống lớn mạnh và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc ta có tất cả các hình thức sinh động, muôn vẻ muôn màu. Chưa bao giờ tâm hồn của con người chúng ta luôn luôn có những biến chuyển lớn lao như vậy. Những tình cảm ươn hèn của con người cũ rụng dần vào dĩ vãng. Ngày ngày những tình cảm mới phát triển và sinh thành. Cái quá trình tiến triển ấy dĩ nhiên là không phải thẳng tuột mà ngoằn ngoèo, phức tạp. Chỉ nhìn giản đơn một chiều, sẽ không hiểu thấu được cuộc sống. Tính chất hiện thực của sáng tác do đấy sẽ bị hạn chế và giảm sút đi nhiều. Với một quan niệm như vậy tôi đi vào phân tích một vài tình cảm lớn đã thể hiện qua thơ Tố Hữu.

Tôi bắt đầu với tình cảm phá đường trong bài thơ “Phá đường”, một bài thơ được phổ biến rộng khắp từ Bắc chí Nam. Tình cảm phá đường là một tình cảm tiêu biểu trong một giai đoạn chiến tranh nhất định. Tình cảm ấy đã được tác giả đào sâu và lột tả như thế nào? Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đưa ra hình ảnh một người phụ nữ nông thôn, mặc dù trăm công nghìn việc, con bế con bồng vẫn vui vẻ theo chồng đi phá đường quan. Cái tinh thần hăng hái phục vụ, cái nhiệt tình kháng chiến quên mình ấy, tác giả đã khéo đưa lên với những câu thơ mộc mạc và ý nhị. Nhưng cái tinh thần và tình cảm ấy không chỉ riêng gì trong công việc phá đường mà nó biểu hiện trong mọi công tác phục vụ khác bất kỳ ở đâu, lúc nào, khi mà kháng chiến cần những bàn tay chiến đấu sáng tạo của người nông dân lao động.

Ðoạn sau tác giả mô tả cảnh phá đường bao trùm trong không khí phấn khởi thi đua làm việc. Ðây cũng lại là những cảnh lao động thông thường chung chung mà người ta thường bắt gặp bất kỳ ở hậu phương hay tiền tuyến, trong công tác phá hoại hay kiến thiết. Cái đặc trưng của tình cảm phá đường vẫn chưa được lột tả.

Cách đây không lâu, tôi nhớ có đọc một bài thơ của người anh em mô tả cảnh đắp đường. Nội dung, bố cục cũng giống na ná như bài “Phá đường”. Tuy cách nói có khác nhau nhưng ý tình cũng vẫn là: "Nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi (đắp) đường quan", cũng: "Hì hà, hì hục, lục cục, lào cào" cũng thi đua phấn khởi: "Anh tài thì em cũng tài, đường dài ta (lấp) sức dai ngại gì".

Tôi bỗng tự hỏi thế thì tình cảm của con người "phá đường" trong kháng chiến và "đắp đường" trong hòa bình khác nhau ở chỗ nào? Câu hỏi ấy, tác giả bài “Phá đường” trong một vài câu đơn sơ để vào đoạn cuối:

Thằng gian Tây mày cứ vẩn vơ
Có hố này chờ chôn sống mày đây...
Ớ anh, ớ chị nhanh tay
Nhanh tay ta cuốc chôn thây quân thù

chưa giải đáp được thỏa đáng.

Dĩ nhiên trong hai sự việc ấy, trông bên ngoài đều có những hiện tượng, những động tác giống nhau. Lưỡi cuốc phá đường chặn giặc và lưỡi cuốc đào mương khai nước cùng là một lưỡi cuốc. Nhưng trong mỗi sự việc, có những ý tình khác nhau, những tâm tư khác nhau. Tuy trong hai sự việc đều dạt dào một niềm phấn khởi cách mạng, nhưng mức độ tình cảm khác nhau, khía cạnh tình cảm khác nhau, cái đặc tính của tình cảm và lý trí ở mỗi sự việc khác nhau.

Tình cảm phá đường là tình cảm tiêu biểu trong một giai đoạn kháng chiến. Người nông dân kháng chiến chính tự tay mình phải hủy hoại con đường của mình, của đất nước yêu dấu của mình để chặn đường giặc tiến không phải không thấy lòng đau xót. Và chính cái niềm đau xót lành mạnh ấy đã khởi bùng thêm ngọn lửa căm thù để biến thành hành động. Cái ý chí diệt thù, người dân phá đường đem trút trên từng nhát cuốc, đường gân. Có thế, cái khía tích cực của tình cảm phá đường mới khơi động được sâu sắc.

Cái khía tích cực của tình cảm ấy, cái đau xót chân thành ấy tôi tưởng đã lột tả được trong mấy câu mở đầu của một bài ca dao kháng chiến ở Liên khu Năm:

Lấy búa mà bửa chân trời
Lấy dao mà chặt lìa đôi nhịp cầu
Thà rằng cách trở sông sâu...

Con đường ấy, cái cầu ấy thường ngày đã in bao dấu vết của cuộc sống thân yêu, thế mà bây giờ phải lấy dao mà chặt lìa đôi nhịp cầu. Và thà rằng đó đây có cách trở sông sâu đi nữa, còn hơn là để cho giặc có cầu giặc qua.

Một câu thơ phá đường khác của một người du kích Nam Bộ nói lên tình cảm ấy một cách gọn ghẽ, trọn vẹn và tài tình hơn:

Con đường số Bẩy của tao
Nó đi theo giặc tao đào nó đây

Con đường đó trước kia là con đường của tao, một khúc ruột của đất nước tao. Nhưng giặc đã dùng được nó, nó đã đi theo giặc nên tao phải đào nó đấy. Thấm thía xót xa nhưng cũng quyết liệt mạnh mẽ xiết bao! Tay đào con đường mà lòng tưởng như phải giết chết một người thân yêu phản bội đi theo giặc. Có thế mới phản ảnh đúng được cuộc sống sinh động muôn vẻ, muôn màu. Có thế mới gợi lên được những tình cảm vĩ đại kết tinh từ trong máu lửa, nước mắt mồ hôi, rèn luyện qua bao nhiêu thử thách trong cuộc kháng chiến anh dũng trường kỳ.

Trong hầu hết các bài thơ đầu kháng chiến của Tố Hữu một hình ảnh nổi bật lên: hình ảnh anh bộ đội chiến đấu. Tác giả đã dành riêng cho anh bộ đội một góc thơ, một góc lòng, ấm cúng và thân yêu nhất của mình.

Mang theo tấm nhiệt tình ấy, tác giả vác ba-lô, tay dao, tay súng, đạp rừng gai, đá sắc, lội suối trèo đèo, lên Tây Bắc, sát cánh cùng người chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở mặt trận. Nhưng bài “Lên Tây Bắc” đã làm ta hơi thất vọng. Thi sĩ còn xa cách người chiến sĩ. Tác giả còn đương đi tìm anh bộ đội.

Anh đi tìm giặc, tôi tìm anh
Người lính trường chinh áo mỏng manh

Hình ảnh anh bộ đội, thi sĩ thấy rất đẹp:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo.

Nhưng đó là cái đẹp bên ngoài, cái đẹp hiên ngang, bóng dài trên đỉnh dốc, trong ánh nắng chiều.

Và qua bao ngày lặn lội, thông cảm nỗi gian khổ của người bộ đội, tác giả viết:

Lại những ngày đi vắt với sương
Ngô bung xôi nhạt, nước lưng bương
Ðêm mưa rình giặc tai thao thức
Mùa lại mùa qua rét nhức xương

Trước cái "vô cùng gian khổ", cái gian khổ cao độ và trường kỳ của người lính chiến đấu, mấy câu thơ trên quả đã bàng quan và bất lực.

Và ở đây tôi cũng lấy làm lạ tại sao tác giả đã cùng chiến sĩ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong hành quân, lúc chiến đấu, đã từng "vắt cơm thấm nước, tàu lá lót lưng" mà không hề đả động đến mối tình đồng đội ruột thịt ấy. Tôi tưởng đó là một tình cảm mới nhất, tình cảm của những người chiến đấu sống chết có nhau từng chia nhau củ sắn trên đồi chè, múi bưởi trong rừng cọ, một mảnh chăn đơn, một tàu lá chuối, trong giá rét, trong mưa dầm.

Ðêm nay gió rét lạnh lùng
Cắt tàu lá chuối lót lưng đỡ đầu...
Anh ơi! ôm lấy lưng tôi
Chúng ta đùi cặp lấy đùi cho nhau
(Thơ chiến sĩ)

Cái tình keo sơn gắn bó, máu chảy ruột mềm, cái tình đoàn kết tương trợ cao quí và thiêng liêng ấy tôi tưởng thắm thiết hơn cả tình đào viên kết nghĩa, đạo nghĩa vợ chồng. Tôi nghĩ đến anh Phần lấy thân bắc cầu cho đồng đội bước qua. Tôi nghĩ đến anh Hàn miệng cổ cháy khô vẫn nhịn chút nước cho đồng chí bị thương rồi bò đi liếm từng giọt sương trên cỏ lá. Tôi nghĩ đến câu nói “đào cho nó thêm vài xuổng, liệm thêm cho nó cái màn để cho nó mồ yên mả đẹp”. Nằm trong tình giai cấp rộng lớn, được chủ nghĩa soi đường, cái tình ấy trở nên sáng suốt lạ thường đến đỗi khi thấy một đồng đội đào ngũ đã nói lên:

Chém cha cái bọn giặc Tây
Cái mùi tôi tớ đến nay vẫn còn
(Thơ chiến sĩ)

Nói đến con người bộ đội chiến đấu mà không nói đến tình cảm ấy, tôi tưởng đó là một thiếu sót. Vẫn còn rất xa lạ với tâm tình người chiến sĩ. Nhưng một khi Tố Hữu đi sâu vào tình cảm của người "nông dân mặc áo lính", đi sâu vào cái nguồn tiếp tế tinh thần dồi dào vô tận của người chiến sĩ, cái tình gửi về hậu phương, nơi chôn rau cắt rốn, nơi mái thôn nếp rạ, vách đất bờ tre, ở đấy có người mẹ già tóc bạc hoa râm, thì câu thơ trở nên thắm thiết, ấm cúng lạ lùng.

Không phải thơ Tố Hữu nữa mà là nỗi lòng nhớ thương của người chiến sĩ đương thánh thót:

Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu

Trên con đường chiến đấu gay go ác liệt mỗi khi nhớ đến bầm, đến cả cuộc đời đầy nước mắt mồ hôi, còng lưng dưới ách đế quốc địa chủ cường hào, thắt lưng buộc bụng nuôi con, thì bao nhiêu gian lao khổ ải trước mắt như chửa thấm vào đâu.

Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khổ nhọc đời bầm sáu mươi

Nhưng con là con đẻ của nhân dân lao động, nên tuy xa bầm, mà lòng con vẫn được ấp ủ trong tình thương của bao nhiêu bầm:

Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm

Chỉ hai câu thơ thôi, thi sĩ đã truyền vào lòng mọi người chiến sĩ cả một nguồn an ủi, khuyến khích, mến thương, sâu rộng.

Nhưng một khi nhà thơ không đi sâu vào tâm hồn mà trở lại làm người khách của bộ đội để: "Chúc anh pháo binh bắn thẳng vào đồn cho đúng", để "anh đại bác, tôi chờ anh để hát" thì giòng thơ lại trở nên dửng dưng, thiếu sinh khí.

Phút công đồn là phút quyết liệt nhất trong cuộc đời người lính chiến đấu. Cái nhiệm vụ cao nhất của người chiến sĩ đã sắp đến tay rồi. Nhân dân nuôi cơm nghìn bữa để hôm nay đánh giặc một giờ. Bao hồi hộp lo âu, tin tưởng phấn khởi và quyết tâm cùng đổ dồn trong một lúc. Nhưng tình cảm ấy tác giả chưa thông cảm. Ðọc xong bài “Bắn” chúng ta thấy không gợi được một cảm giác gì, không để lại một ấn tượng gì dù là không sâu sắc. Con mắt nhìn đồn địch trên khoảnh đồi đỏ "ngon như miếng thịt bò tươi" thì thật là xa lạ với chiến sĩ. Vả lại người nông dân mặc áo lính cũng ít khi được thấy đĩa thịt bò tươi. Không kể đoạn giữa bài thơ mô tả một cách tự nhiên và thô sơ cảnh trông đợi khai hỏa và cảnh chào cờ trong đồn địch, ngay đoạn tác giả gợi căm thù cũng rất chung chung, đại khái, không sôi sục được lòng người đọc:

Bao đồng chí của ta bay đã giết
Chặt đầu cắm cọc phơi khô
Chị em ta, bay căng thịt lõa lồ
Con em ta bay quẳng chân vào lửa
Lúa ngô ta bay cướp về cho ngựa
Xóm làng ta bay đốt cháy tan hoang

Tác giả đã nói đúng và đủ. Nhưng chất thơ không phải ở chỗ đúng và đủ. Ðặc tính của thơ là nói ít mà gợi nhiều. Có thể nói tác giả đã tổng kết sự việc trên tài liệu chứ chưa kinh qua thực tế của cuộc sống để tổng kết chất thơ. Cũng vì vậy những câu thơ mô tả những chiến công lịch sử ở Ðiện Biên tuy đôi đoạn hơi thơ có vẻ mạnh, khí thơ có vẻ hùng nhưng người đọc, nhất là những đồng chí đã dự mặt trận Ðiện Biên thấy chưa thỏa mãn và còn giả tạo.

Thiếu tính chất cụ thể, thiếu chi tiết sống điển hình, thơ sẽ mất nhiều hiệu năng gợi cảm. Mà những tính chất cụ thể ấy những chi tiết điển hình ấy chỉ có thể có trong sự sống. Tôi nghĩ rằng, thơ cũng phải kinh qua giai đoạn sống, thu thập "tất cả cái văn học nghệ thuật dưới hình thái tự nhiên" thì thơ mới biểu hiện được cuộc sống một cách sâu sắc và trọn vẹn. Cái nhược điểm trên đây đã làm một số bài thơ trong tập Việt Bắc ít rung cảm được người đọc và làm yếu tác dụng hiện thực đi nhiều.

Tập thơ Việt Bắc nói đến những tình cảm lớn của thời đại. Nhưng nó đã kết tinh trọn vẹn được tình cảm của thời đại chưa? Nó đã nói được tiếng nói tiêu biểu của thời đại chưa?

Thời đại đó như thế nào? Nó có những đặc điểm gì?

Rõ ràng thời đại chúng ta là thời đại quần chúng đương chuyển biến, mạnh mẽ và dồn dập. Dưới sự lãnh của Ðảng, cả một dân tộc nhất tề đứng dậy bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước; hàng triệu nông dân lao động vùng lên thét căm thù vào mặt địa chủ cường hào. Bước đi rầm rập tưởng như chuyển đất rung trời.

Thời đại chúng ta cũng lại là thời đại có nhiều mất mát, chia ly và đau xót. Tiếng nói bao trùm cả thời đại là tiếng nói giận dữ căm hờn thúc giục chiến đấu.

Tôi tưởng một thi phẩm phản ảnh được thời đại phải trào lên những giòng thơ hừng hực chiến đấu, đỏ rực căm thù, có mãnh lực động viên kích thích hàng triệu người ra mặt trận đấu tranh.

Ðọc xong Việt Bắc, hình ảnh để lại trong lòng ta là những hình ảnh đẹp, ý nhị, nhẹ nhàng. Khía rung động sâu sắc nhất là khía mến thương thắm thiết, tâm tình. Phần lớn các câu thơ đều có dáng dấp hiền lành dìu dịu.

Ðối chiếu với cuộc sống mãnh liệt đi băng băng như con ngựa phi, cuồn cuộn như giòng thác đổ, thơ Tố Hữu còn bước những bước đi thong thả, giòng thơ còn trôi chảy lặng lờ. Ðôi lúc cũng có sông xáo [2] nhưng đó chỉ là những sóng nhỏ vỗ bờ.

Có một điều tôi tưởng cần phân biệt là không phải trong thơ Tố Hữu không nói đến căm thù, chiến đấu, nhưng nói trong thơ là một việc còn thơ tự nó nói lên lại là một việc khác.

Bài thơ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ thắm thiết nhất của Tố Hữu.

Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

Cái tình thương người mến cảnh nồng nàn ấy đã biến thành một tiếng hát trong ngần, "tiếng hát ân tình thuỷ chung". Cả một đoạn thơ dài:

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Ðáy, suối Lê vơi đầy...
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa...
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng...

Ta tưởng như nghe tiếng nói thầm lặng rì rào của đất nước thân yêu từ ngàn xưa vọng lại.

Nhưng khi Tố Hữu nói đến cái Việt Bắc oai hùng, cái đất thần thánh, thiêng liêng của cách mạng thì hơi thơ đuối, khí thơ đoản, cái nhiệt tình nóng cháy trên kia tưởng như giảm sút đi. Những câu:

Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh đao [3] đầu súng, bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc những đoàn.
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

Và những đoạn như:

Ai về ai có nhớ không
Ta về ta nhớ Phủ Thông, Ðèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ Phố Ràng
Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà

chưa dựng được trong lòng ta cái Việt Bắc tôn kính, khởi điểm của cách mạng, chủ não của kháng chiến, miếng đất lịch sử đã ghi những chiến thắng lịch sử quyết định bước chuyển biến cả một giai đoạn chiến tranh.

Nhưng điểm cần chú ý trong bài thơ “Việt Bắc”, là cách đặt vấn đề, cách nhìn cái khía tình cảm của tác giả. Cái việc từ Việt Bắc tiến về Thủ Ðô là một sự kiện lịch sử lớn lao, đánh dấu một bước thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Ðó là ngày mong đợi thiết tha nhất của mọi tấm lòng, trong đó có cả tấm lòng Việt Bắc. Việt Bắc anh dũng oai hùng cũng để cho Thủ Ðô có ngày giải phóng. Thủ Ðô lộng lẫy đẹp tươi càng làm cho Việt Bắc thêm anh dũng oai hùng. Việt Bắc - Thủ Ðô không mâu thuẫn mà thống nhất khăng khít trong bước trưởng thành chung của dân tộc. Tôi tưởng người Việt Bắc không phải chỉ vì chút tình riêng tây mà quên cái vui tưng bừng chiến thắng, không vì cái ủy mị tình cảm nhất thời mà quyến luyến phân ly "bước đi một bước, giây giây lại dừng", "Mình về mình có nhớ ta".

Tôi quan niệm cái việc tiến về Thủ Ðô là cả một khí thế xuất sơn tiến về đồng bằng, cái khí thế "Nam hạ" mạnh mẽ, bừng bừng không sức gì cản nổi. Những câu thơ:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son...
Nước trôi nước có về nguồn
Mây đi mây có cùng non trở về

đã không gợi đến cái khí thế bừng bừng ấy mà làm ta thêm ái ngại ngậm ngùi với cảnh heo hút đìu hiu của Việt Bắc sau lúc cơ quan bộ đội rút về xuôi. Khác với câu thơ lục bát trong sáng hồn nhiên trong bài “Bầm ơi!”, câu thơ trong bài “Việt Bắc” uốn éo với một lời duyên dáng nửa cũ nửa mới thiếu thành thực. Kỹ thuật thơ trong bài “Việt Bắc” rất điêu xảo nhưng nội dung tình cảm rất yếu đuối và có chiều đi xuống. Và khi về Thủ Ðô, những câu thơ sau đây trong bài “Lại về”:

Hà Nội ta không khuất
Hoả Lò thêm Nhà Tiền
Những đứa con vào chật
Hà Nội ơi vùng lên!...

chưa lột tả được sức đấu tranh sôi sục trong lòng Thủ đô, sức chịu đựng dũng cảm của người dân Hà Nội, tinh thần quật khởi của người công nhân Hà Nội. Nói chung cái khía tích cực của tình cảm mới, Tố Hữu chưa khơi động hết.

Viết đến đây tôi sực nhớ lại câu chuyện ở một trạm xá quân y hỏa tuyến trên mặt trận phối hợp Hà Nam Ninh, thu đông 52. Trận đánh đương ở thời kỳ gay go quyết liệt, thuốc men lại thiếu thốn vô cùng. Mổ xẻ, cưa chân cưa tay thường là không có thuốc tê. Buổi sáng ấy trời mưa dầm. Tôi vừa bước chân vào trạm xá thì nghe một giọng ngâm thơ sang sảng, bài thơ rất quen thuộc. Tôi thấy một chiến sĩ trẻ măng bị thương ngồi để y sĩ cưa chân, vừa ngâm thơ Tố Hữu.

........................
Thì em hỡi đi tìm cảnh lạ
Ở làm chi nấn ná cho thêm phiền
Ði đi! Vui vẻ với hồn yên
Vì đói khổ phải đâu là tội lỗi......................

Ra về tôi nghĩ thầm: "Sung sướng thay cho độc giả chúng ta có một nhà thơ như vậy. Và cũng vinh dự thay cho nhà thơ có những độc giả như vậy".

Thời đại chúng ta là một thời đại có nhiều đau xót. Bọn giặc thú dữ không còn một chút nhân tính đã chà đạp lên tất cả cái gì thân yêu cao quý nhất của con người. Bao tang tóc, chia ly và tan vỡ. Bao giọt nước mắt thương yêu, căm thù và phẫn nộ. Những giọt nước mắt ấy, tác giả không phải không thông cảm nhưng tác giả không nói, mà phải nói qua những giọt nước mắt của A-liêu-sa (dịch thơ Xi-mô-nốp).

Tôi nghĩ rằng thơ thời đại phải dựng được cái quá trình sinh thành của những tình cảm mới. Ðiểm này thơ Tố Hữu chưa tiêu biểu được một cách đầy đủ.

Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ so sánh thơ Tố Hữu trong thời kỳ trước với thơ Tố Hữu trong thời kỳ này. Trong thời kỳ trước cách mạng với nhu cầu cụ thể của nó, thơ Tố Hữu là lá cờ tiền phong hướng dẫn đấu tranh. Với thời đại kháng chiến bây giờ, với những đòi hỏi lớn lao gấp bội thơ Tố Hữu quả chưa làm tròn được nhiệm vụ tiền phong chiến đấu như thời kỳ trước. Nếu đem so sánh đối chiếu với mỗi thời đại, cái tỷ lệ tương xứng ấy cho ta thấy thơ Tố Hữu ngày nay còn bé hơn thơ Tố Hữu trước kia. Bé vì Tố Hữu chưa thổi được vào thơ ngọn lửa hừng hực chiến đấu của thời đại để đốt cháy lòng người đọc. Bé vì chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo và công thức.

Bàn về thơ Tố Hữu là một vấn đề lớn có nhiều mặt nhiều phương diện. Trong một bài báo ngắn không thể nói hết được ưu điểm cũng như khuyến điểm. Tôi chỉ đề cập đến một vấn đề chính là chủ nghĩa hiện thực trong thơ Tố Hữu qua một số bài thơ trong toàn bộ tập thơ Việt Bắc. Mấy ý kiến ấy, tôi mạnh dạn trình bày, mong các bạn tham gia thảo luận.

28-2-55

Văn nghệ, số 65 (11.3.1955)




7. Hoàng Yến

Ðọc thơ Việt Bắc của Tố Hữu

L.T.S. - Cuộc phê bình truyện Vượt Côn Ðảo của Phùng Quán và cuộc phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu hiện nay đang tiến hành song song trong giới văn nghệ.

Tiếp theo hai bài phê bình truyện Vượt Côn Ðảo của Ðức Minh và Thúc Ðạt, hôm nay chúng tôi đăng lại bài dưới đây của bạn Hoàng Yến phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu đã đăng trong báo Sinh hoạt văn nghệ số 35 của quân đội, để góp phần đẩy mạnh phong trào phê bình văn nghệ và mở rộng dư luận đối với hai tác phẩm nói trên.

Chúng tôi rất hoan nghênh các bạn gửi bài tiếp tục góp thêm ý kiến về hai tác phẩm nói trên. [4]

Nói đến thơ Tố Hữu tôi nhớ đến một người bạn đồng đội rất yêu thơ thường nói với tôi: "Thơ Tố Hữu hay thật!" Nhưng khi tôi hỏi: "Hay ở chỗ nào?” thì anh bạn không đi vào câu hỏi của tôi mà chỉ trả lời chung chung: "Bài nào cũng hay mà đúng đường lối không chê vào đâu được." Tôi hỏi thêm: "Thế
anh có thấy khuyết điểm nào không?" Anh ngẫm nghĩ rồi tặc lưỡi: "Khó nói quá!".

Mà quả khó nói thật. Nhất là đối với thơ của Tố Hữu. Câu chuyện trên phản ánh đúng cái tâm trạng mà hầu như thành thói quen của phần đông anh em chúng tôi khi đọc được một tác phẩm bao trùm những chủ đề lớn lao của thời đại. Nội dung chính trị và tư tưởng của tác phẩm lắm khi làm cho ta quáng mắt. Không ai chối cãi rằng ý nghĩa xã hội và chính trị là tiêu chuẩn quyết định của một tác phẩm văn nghệ. Nhưng một điều chúng ta ít chú ý là chủ đề càng rộng lớn bao nhiêu thì phương pháp sáng tạo và kỹ thuật biểu hiện càng quan trọng bấy nhiêu. Tác phẩm đã đề cập đến những vấn đề mấu chốt trong cuộc sống hiện thực thì tác giả càng phải hiểu biết sự sống hiện thực ấy một cách thuần thục, sâu sắc và trọn vẹn. Có thế, tác phẩm mới phản ánh trung thành được cuộc sống. Riêng thơ mới truyền được những xúc cảm mạnh mẽ, những rung động sâu sắc vào lòng người.

Tập thơ Việt Bắc chủ yếu là tập thơ kháng chiến. Sự sống trong thơ là sự sống nhiều mặt của cuộc kháng chiến toàn diện, toàn dân. Tình cảm trong thơ là những tình cảm lớn của con người kháng chiến, đồng thời cũng là những tình cảm lớn của thời đại.

Vấn đề đặt ra là tôi muốn biết tác giả đã đi đến với sự sống nhiều mặt đó như thế nào? Ðã xúc cảm người đọc đến mức độ nào? Hay nói một cách khác, tôi muốn thử nghiên cứu, xác định, đánh giá khả năng hiện thực trong thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Qua 8 năm kháng chiến, cuộc sống lớn mạnh và cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc ta có tất cả các hình thức sinh động muôn vẻ, muôn màu. Chưa bao giờ tâm hồn của con người chúng ta luôn luôn có những biến chuyển lớn lao như vậy. Những tình cảm ươn hèn của con người cũ rụng dần vào dĩ vãng. Ngày ngày những tình cảm mới phát triển và sinh thành. Cái quá trình tiến triển ấy dĩ nhiên là không phải thẳng tuột mà ngoằn ngoèo, phức tạp. Chỉ nhìn giản đơn một chiều sẽ không hiểu thấu được cuộc sống. Tính chất hiện thực của sáng tác đó đây sẽ bị hạn chế và giảm sút đi nhiều. Với một quan niệm như vậy, tôi đi vào phân tích một vài tình cảm lớn đã thể hiện quanh thơ Tố Hữu.

Tôi bắt đầu với tình cảm phá đường trong bài thơ “Phá đường”. Một bài thơ được phổ biến rộng khắp từ Bắc chí Nam. Tình cảm phá đường là một tình cảm tiêu biểu trong một giai đoạn chiến tranh nhất định. Tình cảm ấy đã được tác giả đào sâu và lột tả như thế nào? Trong đoạn đầu bài thơ, tác giả đưa ra hình ảnh một người phụ nữ nông thôn, mặc dù trăm công nghìn việc, con bế con bống vẫn vui vẻ theo chồng đi phá đường quan.

Cái tinh thần hăng hái phục vụ, cái nhiệt tình kháng chiến quên mình ấy, tác giả đã khéo đưa lên với những câu thơ mộc mạc và ý nhị. Nhưng cái tinh thần và tình cảm ấy không chỉ riêng gì trong công việc phá đường mà nó còn biểu hiện trong mọi công tác phục vụ khác bất kỳ ở đâu lúc nào, khi mà kháng chiến cần những bàn tay chiến đấu sáng tạo của người nông dân lao động.

Ðoạn sau, tác giả miêu tả cảnh phá đường bao trùm trong không khí phấn khởi thi đua làm việc. Ðây cũng lại là những cảnh lao động thông thường chung chung mà người ta thường bắt gặp bất kỳ ở hậu phương hay tiền tuyến, trong công tác phá hoại hay kiến thiết. Các đặc trưng của tình cảm phá đường vẫn chưa lột tả.

Cách đây không lâu tôi nhớ có đọc một bài của người anh em miêu tả cảnh đắp đường. Nội dung bố cục cũng giống na ná như bài “Phá đường”. Tuy cách nói có khác nhau, nhưng ý tình cũng vẫn là "nhà em con bế con bồng, em cũng theo chồng đi đắp đường quan", cũng "hì hà, hì hục, lục cục, lào cào", cũng thi đua phấn khởi - "Anh tài thì em cũng tài. Ðường dài ta lấp sức giai ngại gì".

Tôi bỗng tự hỏi thế thì tình cảm của con người phá đường trong kháng chiến và đắp đường trong hòa bình khác nhau ở chỗ nào? Câu hỏi ấy, tác giả bài “Phá đường” trong một vài câu đơn sơ thêm vào đoạn cuối:

Thằng Tây mày cứ vẩn vơ
Có hố này chờ chông sống mày đây...
Nhanh tay ta cuốc chôn thây quân thù

chưa giải đáp được thỏa đáng.

Dĩ nhiên trong hai việc ấy, trông bên ngoài đều có những hiện tượng, những động tác giống nhau. Lưỡi cuốc phá đường chặn giặc và lưỡi cuốc đào mương khai nước cũng là một lưỡi cuốc. Nhưng trong mỗi việc có những ý tình khác nhau, những tâm tư khác nhau. Tuy trong hai việc đều dạt dào một niềm phấn khởi cách mạng, nhưng mức độ tình cảm khác nhau, khía cạnh tình cảm khác nhau, cái đặc tính của tình cảm và lý trí ở mỗi việc khác nhau.

Bạn đọc mong đợi ở bài thơ nói lên không những chỉ ở cái không khí phấn khởi của lao động mà cả cái tâm sự kín đáo, những tình cảm sâu sắc của con người nông dân kháng chiến phá đường. Tiếng nói thầm kín của lòng người dân phá đường, tác giả không đả động đến.

Tình cảm phá đường là tình cảm tiêu biểu trong một giai đoạn kháng chiến. Người nông dân kháng chiến tự tay mình phải hủy hoại con đường của mình, của đất nước yêu dấu của mình để chặn đường giặc tiến không phải không thấy lòng đau xót. Và chính cái niềm đau xót lành mạnh ấy đã khơi bừng thêm ngọn lửa căm thù để biến thành hành động. Cái ý chí diệt thù người dân phá đường đem trút trên từng nhát cuốc, đường gân. Có thế, cái khía tích cực của tình cảm phá đường mới khơi động được sâu sắc.

Cái khía tích cực của tình cảm ấy, cái đau xót chân thành ấy, tôi tưởng đã lột tả được trong mấy câu mở đầu của một bài ca dao kháng chiến ở Liên khu 5:

Lấy búa mà bửa chân trời
Lấy dao mà chặt lìa đôi nhịp cầu
Thà rằng cách trở sông sâu...

Con đường ấy, cái cầu ấy thường ngày đã in bao dấu vết của cuộc sống thân yêu, thế mà bây giờ phải lấy dao mà chặt lìa đôi nhịp cầu. Và thà rằng đó đây có cách trở sông sâu đi nữa còn hơn là để cho giặc có cầu giặc qua.

Một câu thơ phá đường khác của một du kích Nam Bộ nói lên tình cảm ấy một cách gọn ghẽ, trọn vẹn và tài tình hơn:

Con đường số bảy của tau
Nó đi theo giặc tau đào nó đây

Con đường đó trước kia là con đường của tau, một khúc ruột của đất nước tau. Nhưng giặc đã dùng được nó, "nó đã đi theo giặc" nên tau phải đào nó đây. Thấm thía xót xa nhưng cũng quyết liệt, mạnh mẽ xiết bao. Tay đào con đường mà lòng tưởng như phải giết chết một người thân yêu phản bội đi theo giặc.

Có thế mới phản ánh đúng được cuộc sống sinh động muôn vẻ muôn màu, có thế mới gợi lên được những tình cảm vĩ đại kết tinh từ trong máu lửa, nước mắt, mồ hôi, rèn luyện qua bao nhiêu thử thách trong cuộc kháng chiến trường kỳ và anh dũng.

Cái niềm đau xót ấy đôi lúc tác giả cũng cảm thấy thấm thía khi đi "giữa thành phố trụi". Nhưng cái đau xót ấy chưa thật bắt nguồn trong cuộc sống, chưa bước thẳng chân vào cảnh, vào tình nên kém phần sâu sắc. Xúc cảm của tác giả chưa đến mức độ để biến thành những giòng thơ rung động của lòng người. Vì thế khi tác giả chuyển qua ca ngợi cảnh tiêu thổ thì câu thơ trở nên gượng gạo, thiếu hồn nhiên:

A! Các anh chiến lũy!
Sắt gỗ giăng thành
Cả các anh
Những di lăng, sấu, gạo
Không liếc lá cành xanh
Vật ngang đường cản giặc

Tôi tin rằng một người thị dân khi tự tay mình phá từng mảnh tường, nạy từng viên gạch, xô bẹp mái nhà thân yêu, nơi đọng bóng cả một cuộc đời từ thuở ấu thơ qua thời niên thiếu để trọn đường với kháng chiến, với dân tộc, tôi tưởng khi nhìn lại miếng đất hoang tàn giữa thành phố trụi, tình cảm của họ chắc sẽ cụ thể và thấm thía hơn nhiều. Và chắc không dễ dàng gì trong chốc giây họ có thể bình thản:

Gõ gót vui nghe tiếng hát
Của mỗi hòn gạch nát mỗi cành khô.

Tình cảm của thi sĩ trong “Giữa thành phố trụi” đã xuất phát từ khái niệm nhiều hơn là từ thực tế của cuộc sống.

Trong hầu hết các bài thơ đầu kháng chiến của Tố Hữu, một hình ảnh nổi bật lên: hình ảnh anh bộ đội chiến đấu. Tác giả đã dành riêng cho anh bộ đội một góc thơ, một góc lòng, ấm cúng và thân yêu nhất của mình.

Trang thơ mở đầu cũng là mở đầu cuộc gặp gỡ giữa nhà thơ và anh bộ đội, cuộc gặp gỡ bất ngờ mà tưởng chừng như một cuộc hò hẹn có tiền duyên của đôi lứa nhân tình. Mới "một thoáng lặng nhìn nhau", hai tâm hồn đã "âm thầm thương mến". Nhìn:

Giọt giọt mồ hôi rơi
Trên má anh vàng nghệ

Thi sĩ nói lên một cách hồn nhiên tiếng nói của lòng mình:

Anh vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!

Câu nói ấy chúng ta rất đồng tình. Mà chúng ta cũng đã đồng tình ngay trước lúc thi sĩ chưa nói. Hình ảnh của người vệ quốc thân yêu quả đã in bóng trong tấm lòng của người dân từ những ngày đầu kháng chiến. Tình mến thương ấy, người đọc muốn thi sĩ nâng cao lên và khắc sâu mãi trong lòng mình. Hình ảnh ấy, người đọc muốn được tô bằng những nét đậm hơn, sâu hơn, cụ thể hơn. Những câu thơ:

Anh kể chuyện tôi nghe,
Trận chợ Ðồn chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha hả.
Mồm anh nở rất tươi
Mặt anh vàng thắm lại
Cánh đồng quê tháng mười
Thơm nức mùa gặt hái

mới tả cái dáng dấp bên ngoài của anh bộ đội. Sự thông cảm của tác giả mới ở trên cảm giác.

Chúng ta muốn biết cái tâm hồn đẹp đẽ, cái phẩm chất cao quý của người chiến sĩ giết giặc để xây dựng cho tình mến thương nồng nàn của ta một cơ sở vững bền. Chúng ta muốn có những giòng thơ đi sâu vào những góc sâu kín nhất của tâm tư, làm lòng chúng ta rung lên khi thầm nhắc đến tên anh bộ đội.

Nhưng mỗi phút giây gặp nhau, chưa dễ đi sâu vào tình cảm, tác giả còn phải đi sát và đi sâu vào cuộc sống hơn nữa. Mang theo tấm nhiệt tình ấy, tác giả vác ba lô, tay dao, tay súng, đạp rừng gai đá sắc, lội suối trèo đèo, lên Tây Bắc, sát cánh cùng người chiến sĩ trực tiếp chiến đấu ở mặt trận. Nhưng bài “Lên Tây Bắc” đã làm ta hơi thất vọng. Thi sĩ còn xa cách người chiến sĩ. Tác giả còn đang đi tìm anh bộ đội:

Anh đi tìm giặc, tôi tìm anh
Người lính trường chinh áo mỏng manh.

Hình ảnh anh bộ đội, thi sĩ thấy rất đẹp:

Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới,
Lá nguỵ trang reo với gió đèo.

Nhưng đó là cái đẹp bên ngoài "bóng dài trên đỉnh dốc, trong ánh nắng chiều".

Và qua bao ngày lặn lội, thông cảm nỗi gian khổ của người bộ đội, tác giả viết:

Lại những ngày đi vắt với sương
Ngô bung xôi nhạt nước lưng bương
Ðêm mưa rình giặc tai thao thức
Mùa lại mùa qua rét nhức xương

Trước cái "vô cùng gian khổ", cái gian khổ cao độ và trường kỳ của người lính chiến, mấy câu thơ trên quả đã bàng quan và bất lực. Thi sĩ không nói được cái mình muốn nói, không gợi được một trong trăm nghìn phần cái thực tế gian khổ và sức chịu đựng phi thường của người chiến sĩ trên chiến trường rừng núi.

Và ở đây, tôi cũng lấy làm lạ tại sao tác giả đã cùng chiến sĩ đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi trong hành quân, lúc chiến đấu, đã từng vắt cơm thấm nước, tàu lá lót lưng, mà không hề đả động đến mối tình đồng đội ruột thịt ấy. Tôi tưởng đó là tình cảm mới nhất, tình cảm của những người chiến đấu sống chết có nhau, từng chia nhau củ sắn trên đồi chè, múi bưởi trong rừng cọ, một mảnh chăn đơn, một tàu lá chuối, trong giá rét, trong mưa dầm:

Ðêm nay gió rét lạnh lùng
Cắt tầu lá chuối lót lưng đỡ đầu
Anh ơi! Ôm lấy lưng tôi
Chúng ta đùi cặp lấy đùi cho nhau.
(Thơ chiến sĩ)

Cái tình keo sơn gắn bó, máu chảy ruột mềm; cái tình đoàn kết tương trợ cao quý thiêng liêng ấy, tôi tưởng thắm thiết hơn cả tình đào viên kết nghĩa, đạo nghĩa vợ chồng. Tôi nghĩ đến anh Phấn lấy thân bắc cầu cho đồng đội bước qua. Tôi nghĩ đến anh Hàn miệng cổ cháy khô vẫn nhịn chút nước cho đồng chí bị thương rồi bỏ đi liếm từng giọt sương trên cỏ lá. Tôi nghĩ đến câu nói "Ðào cho nó thêm vài xuổng, liệm thêm cho nó cái màn để cho nó mồ yên mả đẹp". Nằm trong tình giai cấp rộng lớn, được chủ nghĩa soi đường, cái tình ấy trở nên sáng suốt lạ thường đến đỗi khi thấy một đồng đội đào ngũ đã nói lên:

Chém cha cái bọn giặc Tây
Cái mùi tôi tớ đến nay vẫn còn
(Thơ chiến sĩ)

Nói đến con người bộ đội chiến đấu mà không nói đến tình cảm ấy, tôi tưởng đó là một thiếu sót.

Và 4 câu thơ tỏ tình của chiến sĩ:

Ai biết trưa nay giữa bụi bờ
Anh nằm sưởi nắng mắt lơ mơ
Tôi ngồi không ngủ nghe anh thở
Khe khẽ lòng ngâm lên tiếng thơ

vẫn còn rất xa lạ với tâm tình người chiến sĩ.

Nhưng một khi Tố Hữu đi sâu vào tình cảm của người "nông dân mặc áo lính", đi sâu vào cái nguồn tiếp tế tinh thần dồi dào vô tận của người chiến sĩ, cái tình gửi về hậu phương, nơi chôn nhau cắt rốn, nơi mái thôn nếp rạ, vách đất bờ tre, ở đấy có người mẹ già tóc bạc hoa râm, thì câu thơ trở nên thắm thiết, ấm cùng lạ lùng.

Không phải thơ Tố Hữu nữa, mà là nỗi lòng nhớ thương của người chiến sĩ đang thánh thót:

Mạ non bầm cấy mấy đon
Ruột gan bầm lại thương con mấy lần
Mưa phùn ướt áo tứ thân
Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu

Trên con đường chiến đấu gay go, ác liệt, mỗi khi nhớ đến bầm, đến cả cuộc đời đầy nước mắt, mồ hôi, còng lưng dưới ách đế quốc, địa chủ cường hào, thắt lưng buộc bụng nuôi con, thì bao nhiêu gian lao khổ ải trước mặt như chưa thấm vào đâu:

Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi

Nhưng con là con đẻ của nhân dân lao động, nên tuy xa bầm, mà lòng con vẫn được ấp ủ trong tình thương của bao nhiêu bầm:

Con đi mỗi bước gian lao
Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm

Chỉ hai câu thơ thôi thi sĩ đã truyền vào lòng mọi người chiến sĩ cả một nguồn an ủi, khuyến khích, mến thương sâu rộng.

Và ở nơi đồng ruộng xa xôi, đêm đêm lòng bầm cũng theo con từng bước:

Ðêm nay bộ đội rừng khe
Mưa ướt dầm dề gió buốt chân tay
Nó đi đánh giặc đêm nay
Bước run bước ngã bước lầy bước trơn

Ta tưởng như lòng thương của người mẹ đang hướng theo bóng trăng buồn trong hơi gió, theo từng "bước run bước ngã bước lầy bước trơn" của người con đêm nay đi đánh giặc ở phương xa.

Và nỗi vui mừng của nhân dân khi bộ đội về bản đã dệt nên những câu thơ tươi đẹp và không kém phần thắm thiết:

Anh về cối lại vang lừng
Chim reo quanh mái, gà mừng dưới sân
Anh về sáo lại ái ân
Ðêm trăng hò hẹn trong ngần tiếng ca

Và hiện nay trong hoàn cảnh hòa bình trở lại, tư tưởng hòa bình đang biến diễn phức tạp, tôi tưởng những câu sau đây:

Mắt nó đỏ nọc
Nó cầm tay tôi:
“Mẹ ơi! đừng khóc
Nước độc lập rồi!”
Tôi bảo con tôi:
“Mày đi tao nhớ
Tuổi đã lớn rồi
Liệu mà cưới vợ”
Nó chỉ cười khì:
"Vợ con gì gấp
Con còn phải đi
Giữ gìn độc lập"

còn có nhiều tác dụng góp vào việc nâng cao ý chí chiến đấu không ngừng, không mỏi của người chiến sĩ, quân nhân cách mạng.

Nhưng một khi nhà thơ không đi sâu vào tâm hồn mà trở lại làm người khách của bộ đội để "chúc anh em pháo binh bắn thẳng vào đồn cho đúng", để "anh đại bác, tôi chờ anh để hát" thì giòng thơ lại trở nên dửng dưng, thiếu sinh khí.

Phút công đồn là phút quyết liệt nhất trong cuộc đời người lính chiến đấu. Cái nhiệm vụ cao nhất của người chiến sĩ đã sắp đến tay rồi. Nhân dân nuôi cơm nghìn bữa để hôm nay đánh giặc một giờ. Bao hồi hộp lo âu, tin tưởng, phấn khởi và quyết tâm cùng đổ dồn trong một lúc. Những tình cảm ấy tác giả chưa thông cảm.

Ðọc xong bài “Bắn”, chúng ta thấy không gợi được một cảm giác gì, không để lại một ấn tượng gì dù là không sâu sắc. Con mắt nhìn đồn địch trên khoảnh đồi đỏ "ngon như một miếng thịt bò tươi" thì thật là xa lạ với chiến sĩ. Vả lại người nông dân mặc áo lính cũng ít khi được thấy đĩa thịt bò tươi. Không kể đoạn giữa bài thơ mô tả một cách tự nhiên và thô sơ cảnh trông đợi khai hỏa và cảnh chào cờ trong đồn địch, ngay đoạn tác giả gợi căm thù cũng rất chung chung đại khái, không sôi sục được lòng người đọc:

Bao đồng chí của ta bay đã giết
Chặt đầu cắm cọc phơi khô
Chị em ta, bay căng thịt lõa lồ
Con em ta bay quẳng chân vào lửa
Lúa ngô ta bay cướp về cho ngựa
Xóm làng ta bay đốt cháy tan hoang

Có thể nói tác giả đã nói đúng và đủ. Nhưng chất thơ không phải ở chỗ đúng và đủ. Ðặc tính của thơ là nói ít mà gợi nhiều, nói hiện tại mà ấp ủ tương lai. Có thể nói tác giả đã tổng kết các việc trên tài liệu chứ chưa kinh qua thực tế của cuộc sống để tổng kết chất thơ. Sự sống có thiên hình vạn trạng. Mọi người dân kháng chiến ít hay nhiều đều mang trong lòng một mối căm thù với quân giặc cướp nước, dằng dặc có, nhức nhối có, sâu sắc có. Trong muôn nghìn sự việc ấy, trong muôn nghìn khía cạnh của tình cảm ấy, nhà thơ sẽ chọn cái nào điển hình nhất, xúc cảm nhất. Trong trăm nghìn sợi tơ ấy, nhà thơ sẽ chọn cung bậc nào để khi gõ vào như một ngọn đũa thần gợi lên cả một bầu trời tình cảm. Tiếng thơ đã dứt mà âm hưởng còn ngân nga quyện vào từng nếp nhỏ trong tâm hồn. Vì thế nhà thơ xúc cảm mãnh liệt với đề tài chưa đủ, tuy đó là điều kiện căn bản để làm thơ, mà việc chính là làm cho những đề tài ấy xúc động mãnh liệt vào lòng người đọc.

Cũng vì vậy những câu thơ miêu tả những chiến công lịch sử ở Ðiện Biên tuy đôi đoạn hơi thơ có vẻ mạnh, khí thơ có vẻ hùng nhưng người đọc, nhất là những đồng chí đã dự mặt trận Ðiện Biên, thấy chưa thỏa mãn và còn thấy là giả tạo. Những câu thơ ấy mới nói chung quanh khái quát, còn thiếu những tính chất cụ thể điển hình để nâng cao hiệu lực gợi cảm lên nữa. Thi sĩ mới tổng kết những việc xảy ra thành vần thành thơ, chứ chưa thật tổng kết chất thơ của sự việc.

Thiếu tính chất cụ thể, thiếu chi tiết sống điển hình, thơ sẽ mất nhiều hiệu năng gợi cảm. Mà những tính chất cụ thể ấy, những chi tiết điển hình ấy chỉ có thể có trong sự sống. Tôi nghĩ rằng thơ cũng phải kinh qua giai đoạn sống, thu thập "tất cả cái văn học, nghệ thuật dưới hình thái tự nhiên", thì thơ mới biểu hiện được cuộc sống một cách sâu sắc và trọn vẹn. Cái nhược điểm trên đây đã làm một số bài thơ trong tập Việt Bắc ít rung cảm được người đọc và làm yếu tác dụng hiện thực đi nhiều.

Tập thơ Việt Bắc nói đến những tình cảm lớn của thời đại. Nhưng nó đã kết tinh trọn vẹn được tình cảm của thời đại chưa? Nó đã nói được tiếng nói tiêu biểu của thời đại chưa? - Nó là vấn đề thứ hai tôi đề ra để chúng ta cùng nghiên cứu.

Trước khi đi vào vấn đề, chúng ta hãy thử nhìn lại thời đại chúng ta đang sống. Thời đại đó như thế nào? Nó có những đặc điểm gì?

Rõ ràng thời đại chúng ta là thời đại quần chúng đang chuyển biến, mạnh mẽ và dồn dập. Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, cả một dân tộc muôn người như một, bừng bừng sát khí, nhất trí đứng dậy bảo vệ quê hương, bảo vệ đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, hàng triệu nông dân lao động vùng lên thét căm thù vào mặt địa chủ cường hào. Bước đi rầm rập tưởng như chuyển đất rung trời, xô non lấp biển.

Thời đại chúng ta cũng lại là thời đại có nhiều mất mát chia ly và đau xót.

Với những điểm trên, chúng ta có thể nói thời đại chúng ta là thời đại yêu nước nồng nàn, căm thù sôi sục, tin tưởng sâu sắc, chiến đấu quyết liệt. Tiếng nói bao trùm cả thời đại là tiếng nói giận dữ, căm hờn, thúc giục chiến đấu của một dân tộc bị áp bức bóc lột đang vươn mình dậy. Cơn "giận dữ lôi đình" chính đáng ấy là đặc điểm của thời đại chúng ta đang sống.

Tôi tưởng một thi phẩm phản ánh được thời đại phải trào lên những dòng thơ hừng hực chiến đấu, đỏ rực căm thù, có mãnh lực động viên, kích thích hàng triệu người ra mặt trận đấu tranh.

Ðọc xong tập thơ Việt Bắc, chúng ta gấp sách lại. - Hình ảnh để lại trong lòng ta là những hình ảnh đẹp ý nhị, nhẹ nhàng. Khía rung động sâu sắc nhất là khía mến thương thắm thiết tâm tình. Phần lớn các câu thơ đều có dáng điệu hiền lành, dìu dịu. Chúng ta bỗng thấy thơ Tố Hữu còn thiếu một chất gì để thỏa đáp những tình cảm mạnh mẽ đang sôi sục trong lòng chúng ta. Và tôi nghĩ rằng cái chất thiếu ấy là "tiếng nói lôi đình" của thời đại. Thơ Tố Hữu chưa toát lên được cái hơi thở dồn dập, sôi nổi, nóng rực của thời đại. Thơ Tố Hữu còn thiếu một tiếng thét căm hờn, một tiếng kèn xung trận, một tiếng gọi lên đường thúc giục hành động, thúc giục đấu tranh.

Ðối chiếu với cuộc sống mãnh liệt đi băng băng như con ngựa phi, cuồn cuộn như dòng thác đổ, thơ Tố Hữu còn bước những bước đi thong thả, dòng thơ còn trôi chẩy lững lờ. Ðôi lúc cũng có xông xáo [5] nhưng đó chỉ là những gợn sóng nhỏ vỗ bờ.

Có một điều tôi tưởng cần phân biệt là không phải trong thơ Tố Hữu không nói đến căm thù, chiến đấu, nhưng nói trong thơ là một việc, còn thơ tự nó nói lại là một việc khác.

Bài thơ “Việt Bắc” là một trong những bài thơ thắm thiết nhất của Tố Hữu.

Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

Cái tình thương người mến cảnh nồng nàn ấy sẽ biến thành một tiếng hát trong ngân, "tiếng hát ân tình chung thủy". Cả một đoạn thơ dài:

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Ðáy, suối Lê vơi đầy…
Nhớ ai tiếng mõ rừng chiều
Chày đêm nện cối đều đều suối xa…
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng
Ngày xuân mơ nở trắng rừng…

Ta tưởng như nghe tiếng nói thầm nặng [6] rì rào của đất nước thân yêu từ nghìn xưa vọng lại.

Nhưng khi Tố Hữu nói đến cái Việt Bắc oai hùng, cái đất thần thánh, thiêng liêng của cách mạng thì hơi thơ đuối, khí thơ đoản, cái nhiệt tình nồng cháy trên kia tưởng như giảm sút đi. Những câu:

Những đường Việt Bắc của ta
Ðêm đâm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan
Dân công đỏ đuốc những đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

Và những đoạn như:

Ai về ai có nhớ không
Ta về ta nhớ Phủ Thông đèo Giàng
Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
Nhớ từ Cao-Lạng, nhớ sang Nhị Hà

chưa dựng được trong lòng ta cái Việt Bắc tôn kính, khởi điểm của cách mạng, chủ não của kháng chiến, miếng đất lịch sử đã ghi những chiến thắng lịch sử quyết định bước chuyển biến cả một giai đoạn chiến tranh.

Những điểm cần chú ý trong bài thơ “Việt Bắc” là cách đặt vấn đề, cách nhìn cái khía tình cảm của tác giả. Cái việc từ Việt Bắc tiến về thủ đô là một sự kiện lịch sử lớn lao, đánh dấu một bước thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Ðó là ngày mong đợi thiết tha nhất của mỗi tấm lòng, trong đó có cả tấm lòng Việt Bắc. Việt Bắc anh dũng, oai hùng cũng để cho thủ đô có ngày giải phóng. Thủ đô lộng lẫy đẹp tươi càng làm cho Việt Bắc thêm dũng, oai hùng. Việt Bắc - thủ đô không mâu thuẫn mà thống nhất khăng khít trong trưởng thành chung của dân tộc. Tôi tưởng người Việt Bắc không phải chỉ vì chút tình riêng tây mà quên cái vui tưng bừng chiến thắng, không vì cái ủy mị tình cảm nhất thời mà quyến luyến phân ly "bước đi một bước, giây giây lại dừng" "mình về mình có nhớ ta".

Tôi quan niệm cái việc tiến về thủ đô là cả một khí thế xuất sơn tiến về đồng bằng, cái khí thế "Nam hạ" mạnh mẽ bừng bừng không sức gì cản nổi. Những câu thơ:

Mình về rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son…
Nước trôi nước có về nguồn
Mây đi mây có cùng non trở về…
Mình về thành thị xa xôi
Nhà cao còn thấy núi đồi nữa chăng
Phố đông còn nhớ bản làng
Sáng đèn còn nhớ mảnh trăng giữa rừng
Mình đi ta hỏi thăm chừng
Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui.

đã không gợi đến cái khí thế bừng bừng ấy mà làm ta thêm ái ngại với cảnh heo hút đìu hiu của Việt Bắc sau lúc cơ quan rút về xuôi. Khác với câu thơ lục bát trong sáng hồn nhiên trong bài “Bầm ơi!”, câu thơ trong bài Việt Bắc uốn éo với một lối duyên dáng nửa mới nửa cũ đến khó chịu.

Và khi về thủ đô, những câu thơ sau đây trong bài “Lại về”:

Hà Nội ta không khuất
Hỏa Lò thêm Nhà Tiền
Những đứa con vào chật
Hà Nội ơi vùng lên!
Giành lại bao năm tháng
Giành lại mọi người con
Từng ngọn đèn tươi sáng
Từng giọt nước lành ngon!

chưa lột được sức đấu tranh sôi sục trong lòng thủ đô, sức chịu đựng dũng cảm của người Hà Nội, tinh thần quật khởi của người thợ Hà Nội, những người còn ưu tú tuy xa Bác, xa Trung ương, nằm trong nanh vuốt của giặc vẫn không hề lỏng tay chiến đấu một phút, một giây. Nói chung cái khía tích cực của tình cảm mới, Tố Hữu chưa khơi động hết.

Thời đại chúng ta không chỉ là "thời đại giận dữ" mà còn là một thời đại có nhiều đau xót. Bọn giặc cướp nước thú dữ không còn một chút nhân tính đã chà đạp lên tất cả cái gì thân yêu, cao quý nhất của con người. Bao tang tóc, chia ly và tan vỡ. Bao giọt nước mắt thân yêu, căm thù và phẫn nộ, lúc kín đáo âm thầm, lúc lộ liễu, lúc ráo hoảnh.

Những giọt những mắt ấy, tác giả không phải không thông cảm, nhưng tác giả không nói mà phải nói qua những giọt nước mắt của A-liêu-sa, người con gái vùng Smô-len.

Tôi nghĩ rằng thơ thời đại phải dựng được cái quá trình sinh thành của những tình cảm mới. Có yêu mến thắm thiết mới có đau xót chân thành. Có đau xót chân thành mới có căm thù sâu sắc. Có căm thù sâu sắc mới có chiến đấu năng nổ. Và qua chiến đấu, tình cảm con người được nâng cao mãi lên và rộng lớn mãi lên. Từ chỗ mến yêu mảnh vườn, thửa ruộng đến tình yêu đất nước, Tổ quốc, từ chỗ căm thù riêng tây, đến căm thù giai cấp, căm thù dân tộc. Sự sâu sắc và lớn mạnh của những tình cảm ấy là bản chất của những tình cảm mới của thời đại, của chủ nghĩa anh hùng mới cần thể hiện trong văn thơ. Ðiểm này thơ Tố Hữu chưa tiêu biểu một cách đầy đủ được thời đại.

Tôi bỗng nảy ra ý nghĩ so sánh trong thời kỳ trước với Tố Hữu trong thời kỳ này. Trong thời kỳ trước cách mạng, với nhu cầu cụ thể của nó, thơ Tố Hữu là lá cờ tiên phong hướng dẫn đấu tranh. Tố Hữu với thời đại kháng chiến và bây giờ, một thời đại có nhiều đòi hỏi lớn lao gấp bội, thơ Tố Hữu quả chưa làm trọn được nhiệm vụ tiên phong chiến đấu như thời kỳ trước. Nếu đem so sánh đối chiếu với mỗi thời đại, cái tỷ lệ tương xứng ấy cho ta thấy Tố Hữu ngày nay bé hơn Tố Hữu trước kia. Bởi vì Tố Hữu chưa thổi được vào thơ ngọn lửa hừng hực chiến đấu của thời đại để đốt cháy lòng người đọc. Bé vì chất sống chưa thật sâu sắc nên ý thơ nhiều đoạn còn giả tạo và công thức.

Bàn về thơ Tố Hữu là một vấn đề lớn, có nhiều mặt. Trong một bài báo ngắn không nói hết được ưu điểm cũng như khuyết điểm. Tôi chỉ đề cập một vấn đề chính là chủ nghĩa hiện thực trong thơ Tố Hữu qua một số bài thơ trong toàn bộ tập thơ Việt Bắc. Mấy ý kiến ấy, tôi mạnh dạn trình bày, mong các bạn tham gia thảo luận.

Hà Nội, 28-2-1955



[1]Bài của Hoàng Yến, một trong những ý kiến gây nên cuộc tranh luận, được đăng trên một số tờ báo ở Hà Nội đương thời, sớm nhất có lẽ là trên tờ Sinh hoạt văn nghệ (tiền thân của tạp chí Văn nghệ quân đội). Như ta sẽ thấy, dạng văn bản đăng báo Văn nghệ được biên tập lại, ngắn gọn hơn so với dạng văn bản đăng trên báo Nhân dân. Do tính tư liệu của cuốn sách này, người sưu tầm in cả hai văn bản, cùng với lời dẫn của tòa soạn hai tờ báo trên (NST).
[2]Có lẽ là “sóng xao” (bản gốc in lầm?).
[3]ánh đao: có lẽ tác giả trích dẫn sai, hoặc báo in sai; đáng ra là “ánh sao”.
[4]Ðây là lời Tòa soạn báo Nhân dân khi đăng lại bài này (NST).
[5]Có lẽ là “sóng xao” thì cả câu mới hợp lý (bản gốc xếp chữ sai?).
[6]Phải chăng là “thầm lặng”? (bản gốc xếp chữ sai?)