trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Xã hội
Kinh tế
  1 - 20 / 135 bài
  1 - 20 / 135 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Xã hộiKinh tế
27.9.2005
Ngô Thế Vinh
Ngót nửa thế kỷ từ Uỷ ban sông Mekong tới Tuyên ngôn Côn Minh (1957-2005)
 
Thay lời dẫn nhập

  1. Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonian (Mỹ) đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông. Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.” [9] [1]

  2. Thủ tướng Hunsen trước khi sang dự Hội thượng đỉnh Côn Minh, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong như hiện nay, theo ông “chẳng có vấn đề gì phải quan tâm.” Ông công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh đối với kế hoạch khai thác sông Mekong. Ông còn cho rằng “các ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ họ chú ý tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn sự hợp tác nên có giữa sáu quốc gia.” [4]


Từ Uỷ ban sông Mekong (1957-1976)…

Mekong map Từ những năm 1940 trở đi, các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mekong. Năm 1957, giữa thời kỳ chiến tranh lạnh, với bảo trợ của Liên hiệp quốc, chủ yếu là Mỹ, một Uỷ ban sông Mekong (Mekong River Committee) được thành lập bao gồm bốn nước: Thái Lan, Lào, Cam Bốt và Nam Việt Nam, cùng một văn phòng thường trực đặt tại Bangkok; với kế hoạch phát triển toàn diện vùng hạ lưu sông Mekong nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực. Có một điều lệ gần như cơ bản của Uỷ ban sông Mekong để phân biệt với Uỷ hội sông Mekong (Mekong River Commission) sau này, là quyền phủ quyết. Không một quốc gia thành viên nào có thể thực hiện dự án liên hệ tới con sông Mekong nếu không được sự đồng thuận của các quốc gia thành viên khác.

Tưởng cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây, cho dù có một nửa chiều dài sông Mekong chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia khép kín và ít được nhắc tới.

Nhưng rồi chiến tranh Việt Nam đã lan rộng ra cả ba nước Đông Dương qua hơn ba thập niên (Thái Lan tuy không trực tiếp tham chiến nhưng cũng là một vùng hậu cần của Mỹ trong suốt cuộc chiến), nên kế hoạch xây dựng các đập thủy điện lớn chắn ngang sông Mekong vùng hạ lưu và các chương trình khai thác khác đã phải gián đoạn, khiến cho con sông Mekong còn giữ được vẻ hoang dã và cả sự nguyên vẹn thêm một thời gian nữa.

… Qua Uỷ ban Mekong Lâm thời (1978-1992)…

Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt năm 1975, nhưng vẫn còn một cuộc chiến tranh diệt chủng diễn ra trên xứ Chùa Tháp. Không có Cam Bốt, một Uỷ ban Mekong Lâm thời (Mekong Interim Committee) được thành lập năm 1978 với hoạt động hạn chế. Cũng trong thời gian này, Thái Lan có kế hoạch chuyển dòng sông Mekong nhằm đưa một lượng nước lớn bơm tưới cho cả một vùng đông bắc Thái Lan khô hạn. Đó là một dự án của riêng Thái Lan, không có trong kế hoạch ban đầu của Uỷ ban sông Mekong. Gặp sự chống đối của Việt Nam, Thái Lan đi tới phủ nhận tính cách pháp lý của Uỷ ban sông Mekong, viện lý do là tổ chức này đã không còn phù hợp với những thay đổi về chánh trị, kinh tế và xã hội trong vùng. Trong điều kiện phân hóa như vậy, Uỷ ban Lâm thời Mekong hầu như bị tê liệt.

… Và tới Uỷ hội sông Mekong (1995 - hiện nay)

Bước vào thời bình với nhu cầu phát triển, con sông Mekong đã trở thành mục tiêu khai thác của sáu quốc gia trong vùng Đại lưu vực Mekong (GMS / Greater Mekong Subregion). Cùng là những nước ven sông nhưng mỗi quốc gia lại có những ưu tiên về phát triển khác nhau với những quyền lợi mâu thuẫn. Do đó, phục hồi một tổ chức điều hợp liên quốc gia tương tự như Uỷ ban sông Mekong trước đây là cần thiết.

Ngày 05 tháng 04 năm 1995, bốn nước hội viên gốc của Uỷ ban sông Mekong đã họp tại Chiang Rai, Thái Lan, cùng ký kết một “Hiệp ước Hợp tác Phát triển Bền vững vùng Hạ lưu sông Mekong” và đổi sang một tên mới là Uỷ hội sông Mekong, với một thay đổi cơ bản trong Hiệp ước mới này – thay vì như trước đây trong Uỷ ban sông Mekong, mỗi hội viên có quyền phủ quyết bất cứ một dự án nào bị coi là có ảnh hưởng tác hại tới dòng chính sông Mekong – thì nay, theo nội quy mới không cho một thành viên nào có quyền như vậy, và trong ngôn từ để chuẩn y các dự án cũng rất là mơ hồ, như chỉ qua thông báo và tham khảo.

Có thể nói Uỷ hội sông Mekong là “biến thể và xuống cấp” của Uỷ ban sông Mekong trước kia. Uỷ hội sông Mekong gồm ba cơ cấu:

  • Hội đồng Đại diện (cấp bộ trưởng)
  • Uỷ ban Hỗn hợp
  • Văn phòng Thường trực

Uỷ hội nay có văn phòng đặt tại Vạn Tượng. Khác với tham vọng chiến lược ban đầu của Uỷ ban sông Mekong nhằm khai thác tiềm năng sông Mekong cho sự thịnh vượng chung của toàn lưu vực, mục tiêu của Uỷ hội sông Mekong có phần khiêm tốn và thu hẹp hơn bao gồm [3]:

  • Ba chương trình nòng cốt:

    1. Chương trình sử dụng nước: hình thành một khuôn khổ yểm trợ thích nghi cho phát triển bền vững, các quy định sử dụng nước với một hệ thống theo dõi và quản trị;

    2. Chương trình phát triển lưu vực: xác định những cơ hội phát triển liên quốc gia;

    3. Chương trình môi trường: xác định những thông tin căn bản về môi sinh để từ đó có thể quyết định về những ưu tiên và mức độ thích hợp cho những khu vực để phát triển.

  • Năm chương trình khu vực: 1. Canh nông, 2. Thủy lâm, 3. Ngư nghiệp, 4. Giao thông, và 5. Du lịch.

  • Một chương trình yểm trợ.

Uỷ hội sông Mekong được bảo trợ bởi các tổ chức quốc tế, hội tư nhân, các viện nghiên cứu và tổ chức quốc gia với ngân khoản hàng năm khoảng 15 triệu Mỹ kim.

Uỷ hội sông Mekong đã trải qua những bước khởi đầu chậm chạp do nhiều nguyên nhân như: việc di dời trụ sở từ Bangkok sang Nam Vang, một số thành viên có kinh nghiệm đã từ nhiệm vì lý do an ninh ở Nam Vang, rồi sự yếu kém trong quản trị, các cơ quan bảo trợ tỏ ra thiếu tin tưởng vào Ủy hội trước sự thờ ơ của các nước thành viên cũng như thiếu mục tiêu rõ ràng lúc ban đầu.

Nhưng rồi từng bước, Văn phòng Thường trực của Uỷ hội sông Mekong đã được cải thiện, tạo dựng được một hình ảnh mới tích cực hơn, đón nhận được sự tài trợ cũng lớn hơn, lên tới 28 triệu Mỹ kim vào năm 2000.

Ủy hội đã hoàn tất được vài thành quả ban đầu như: đạt được thỏa thuận chia sẻ thông tin giữa bốn nước thành viên, thiết lập đưa vào sử dụng “mạng lưới internet” tiên đoán lũ lụt và theo dõi dòng chảy mùa khô; và nhất là đạt được thỏa ước (ký kết tháng 4.2002) - có thể gọi là lịch sử - về trao đổi dữ kiện thủy văn (hydrological data exchange agreement) giữa Trung Quốc và Uỷ hội sông Mekong, v.v. [7]

Yếu tố Trung Quốc như một nhân tai

Qua thời kỳ chiến tranh lạnh, Trung Quốc đã thực sự mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Không còn ảnh hưởng thống trị của Mỹ ở Đông Nam Á, Trung Quốc nghiễm nhiên trở thành yếu tố mới năng động với ảnh hưởng bao trùm trên toàn vùng Đại lưu vực Mekong (GMS).

Sự thịnh vượng cho lưu vực là điều hứa hẹn nhưng chưa tới, trong khi đã tới những hậu quả nhãn tiền của các bước khai thác tự hủy nguồn tài nguyên sông Mekong, ảnh hưởng trực tiếp tới 70 triệu dân cư sống trong lưu vực.

Trong mấy thập niên vừa qua, Trung Quốc đã ào ạt khai thác con sông Mekong, không ngừng xây thêm những con đập thủy điện khổng lồ ngang dòng chính, làm ảnh hưởng tới nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa và cả gây ô nhiễm cho hạ nguồn.

Chưa bao giờ trong mùa khô, mực nước con sông Mekong lại có thể xuống thấp đến như vậy từ ngày có những con đập ở Vân Nam (mới 3 trong dự án 14 đập). Ở một số nơi có những khúc sông đã trơ đáy và hầu như cạn dòng. Nguồn cá và nông nghiệp đã trực tiếp bị ảnh hưởng. Không chỉ đơn giản vì “thiếu mưa”, sự kiện sông Mekong cạn dòng năm 1993 mà không vào mùa khô, trùng hợp với thời điểm Trung Quốc bắt đầu lấy nước vào con đập thủy điện đầu tiên,Mạn Loan (Manwan), ngang dòng chính sông Mekong trên Vân Nam.

Odd Bootha, 38 tuổi, anh lái đò bến Chiang Khong Bắc Thái Lan, đã than thở: “Nếu Trung Quốc cứ xây thêm đập thì sông Mekong chỉ còn là một con lạch.” Tình cảm bài Trung Quốc rất mạnh ở vùng Bắc Thái, chính dân làng đã công khai chống lại kế hoạch phá đá phá ghềnh thác khai thông sông Mekong của Trung Quốc.

Để có đủ nước vận hành hai đập thủy điện Vân Nam, Trung Quốc đã thường xuyên đóng các cửa đập khiến mực nước sông đã xuống tới mức thấp nhất. Phía tả ngạn bên Lào, chỉ riêng trong tháng 3.2004, tổ chức du lịch đã phải hủy bỏ mười chuyến du ngoạn trên sông chỉ vì những khúc sông quá cạn. Chainarong Sretthachau, giám đốc Mạng lưới sông vùng Đông Nam Á (Southeast Asia Rivers Network) cho rằng “Trung Quốc đã có quyền lực để kiểm soát dòng sông Mekong.” [10]

Sự chối từ của Trung Quốc tham gia vào Uỷ hội sông Mekong khiến tổ chức này trở nên vô nghĩa trong nỗ lực điều hợp khai thác và phát triển bền vững nguồn tài nguyên của con sông Mekong.

Do nhu cầu điện của Trung Quốc tăng 5-6% / năm, để đáp ứng tốc độ phát triển kinh tế, trước viễn tượng nguồn dầu khí ngày càng cạn kiệt, Trung Quốc ngoài việc gia tăng tốc độ xây thêm các lò điện nguyên tử, từ một tới hai lò mới mỗi năm, bất chấp mọi hậu quả [National Geographic, Aug 2005].

Đi xa hơn nữa, chỉ mới đây thôi, nếu không gặp sự chống đối mạnh mẽ từ các nhà lập pháp Mỹ ở Hoa Thịnh Đốn, Công ty Dầu khí Nhà nước Trung Quốc (CNOOC / Chinese National Offshore Oil Corp.) đã thành công trong việc mua đứt Unocal, công ty dầu khí lớn thứ hai của Mỹ với giá 18,5 tỉ Mỹ kim để sở hữu nguồn dầu khí chiến lược và cả khống chế quyền khai thác các trúi dầu trên toàn Biển Đông. [NY Times, Aug 3, 2005].

Với khát vọng vô hạn về năng lượng, rõ ràng không có dấu hiệu nào cho thấy Trung Quốc sẽ dừng bước hay làm chậm lại kế hoạch khai thác nguồn thủy điện phong phú của con sông Mekong.

Nhận định về các kế hoạch khai thác sông Mekong của Trung Quốc, Tyson Roberts thuộc Viện Nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonian (Mỹ) đã phát biểu: “Xây các đập thủy điện, khai thông thủy lộ, với tàu bè thương mại quá tải sẽ giết chết dòng sông... Các bước khai thác của Trung Quốc sẽ làm suy thoái hệ sinh thái, gây ô nhiễm tệ hại, khiến con sông Mekong đang chết dần, cũng giống như con sông Dương Tử và các con sông lớn khác của Trung Quốc.” [9]

Như một điệp khúc, phía chánh quyền Trung Quốc lúc nào cũng khăng khăng với lập luận là ảnh hưởng chuỗi đập Vân Nam trên sông Mekong là không đáng kể và còn có lợi nữa. Các con đập sẽ tạo thuận cho chu kỳ lũ - hạn hàng năm, khai thông dòng sông sẽ làm gia tăng trao đổi thương mại trong vùng và giúp giảm nghèo.

Deng Jiarong, viên chức phụ trách Mekong Sự vụ, vẫn lặp lại những khẩu hiệu như một điệp khúc trấn an: “Phát triển sông Mekong là một quyết định chung của tất cả các quốc gia liên hệ. Sự tổn hại và ảnh hưởng tiêu cực là rất nhỏ so với những lợi ích của cộng đồng dân cư lớn hơn.”

Nhưng cũng không thiếu tiếng nói chỉ trích ngay tại Trung Quốc, như Xu Xiaogang, chuyên viên nghiên cứu hậu quả các con đập trên các cộng đồng người Hoa, nói: “Trên con sông quốc tế, không một quốc gia nào có thể vị kỷ. Họ phải quan tâm tới ảnh hưởng trên các quốc gia khác và trên con sông như một toàn thể.” [9]

Công bằng mà nói, không phải tất cả suy thoái của con sông Mekong là đến từ Trung Quốc. Cũng phải kể tới phần ảnh hưởng cộng thêm vào từ các con đập phụ lưu sông Mekong của Thái Lan, Lào và Việt Nam, càng làm suy thoái thêm toàn hệ sinh thái của dòng sông.

Tổng thống Bush, Mekong thêm cạn dòng

Tổ chức WWF (World Wide Fund) đã đưa ra lời cảnh báo là hiện tượng hâm nóng toàn cầu (Global Warming) đã khiến những khối băng trên rặng Hy Mã Lạp Sơn mau chóng thu nhỏ lại, có thể gây ảnh hưởng thiếu hụt nước của hàng trăm triệu cư dân sống phụ thuộc vào những con sông có nguồn nước từ những khối băng tuyết này. Khối băng tuyết Hy Mã Lạp Sơn (chỉ đứng thứ hai sau Bắc Cực) đang bị thu nhỏ lại với vận tốc 10-15m/năm. Với hậu quả ban đầu là gia tăng lưu lượng nước sông. Nhưng theo Jennifer Morgan, giám đốc Chương trình Biến đổi Khí hậu Toàn cầu (WWF for Nature’s Global Climate Change Programme) thì chỉ vài thập niên sau đó, tình hình sẽ đảo ngược. Khối băng tuyết Hy Mã Lạp Sơn cấp nguồn nước cho bảy con sông lớn của Châu Á trong đó có sông Mekong (các con sông còn lại là sông Hằng, sông Indus, sông Brahmaputra, sông Salween, sông Dương Tử, và Hoàng Hà) sẽ không còn được như trước, và mực nước các con sông sẽ xuống rất thấp. [6]

WWF đã báo động tới nhóm các quốc gia kỹ nghệ G8 là: “thế giới sẽ phải đương đầu với thảm họa về kinh tế và phát triển nếu mức độ hâm nóng toàn cầu không được giảm thiểu.” Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, siêu cường kỹ nghệ Hoa Kỳ dưới triều đại Bush là nước duy nhất trong số 155 quốc gia từ chối ký tên vào Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol). Không phải chỉ có Trung Quốc, chính sách môi sinh thiển cận của Tổng Thống Bush, trong một tương lai xa, cũng góp phần khiến con sông Mekong thêm cạn dòng.

Giải pháp ngắn hạn để sống còn

Với Việt Nam, trong cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt thuộc RFI (12/2004), khi được hỏi về tình trạng nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam, Giáo sư Võ Tòng Xuân, một tên tuổi được biết tới trước 1975 như cha đẻ của giống lúa cao sản Thần Nông, đã phát biểu:

“Nông dân ĐBSCL thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp: bỏ hẳn giống lúa cổ truyền chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, vùng nước lợ, thay vì trồng lúa thì chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm sú chịu được nước lợ; rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa. Hiện nay Viện Lúa ĐBSCL đang vận dụng công nghệ sinh học, tìm những gene chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường (chứ không phải là chịu nước mặn hoàn toàn). Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng với nhóm MEREM (Mekong Resources Economic Management) do Nhật Bản tài trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi môi trường nước cũng như của đa dạng sinh học trên sông Mekong để từ đó có thể khuyến cáo những chánh phủ liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn.” [8]

Với Cam Bốt, ai cũng biết rằng trái tim Biển Hồ chỉ còn đập khi sông Mekong còn đủ nước chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa lũ, như một bảo đảm cho nguồn cá và vựa lúa của người dân xứ Chùa Tháp. Và chưa hề có bảo đảm nào cho một tương lai như vậy; nhưng với ông Thủ tướng Hunsen, nhân buổi lễ thả cá giống vào một hồ ở phía đông Cam Bốt, đã tỏ ra thỏa mãn với tình hình khai thác con sông Mekong như hiện nay, nhất là với nước lớn Trung Quốc, theo ông “sẽ chẳng có vấn đề gì phải quan tâm.”

Trước khi bay sang dự Hội nghị Thượng đỉnh Côn Minh, ông Husen đã công khai lên tiếng ủng hộ Bắc Kinh, gần như vô điều kiện đối với kế hoạch khai thác sông Mekong, cho dù điều ấy đi ngược lại ý kiến quan ngại gần như báo động của các chuyên gia bảo vệ môi sinh. Đi xa hơn thế nữa, ông Hunsen còn cho rằng “ý kiến chỉ trích chỉ để chứng tỏ là họ chú ý tới môi sinh, và đôi khi họ dùng đó như thứ rào cản nhằm ngăn chặn sự hợp tác nên có giữa sáu quốc gia.” [AFP, 6.29.05].

Chỉ vì sự thiển cận và chút quyền lợi rất ngắn hạn (trước đó Bắc Kinh cho Nam Vang vay 30 triệu Mỹ kim, cộng thêm với 70 triệu Mỹ kim nữa để cải thiện hệ thống quốc lộ). Hunsen đã dễ dàng hy sinh một dòng sông và một Biển Hồ như mạch sống và trái tim của cả một đất nước Cam Bốt. [4]

Mạch sống Mekong, máu của đất

Qua những hội nghị từ thượng đỉnh, tới cấp bộ trưởng rồi giám đốc các uỷ ban, với bao nhiêu là tuyên ngôn rồi tuyên cáo, tất cả chỉ như những khẩu hiệu, có tính cách hình thức, “với nhiều chữ nhưng lại ít thông tin”, và trong thực tế vẫn mạnh ai nấy làm, và Uỷ hội sông Mekong chưa hề là một tổ chức đoàn kết có tầm vóc để được coi là đối trọng đối với nước lớn Trung Quốc. Nhất là sự chia rẽ phân hóa đã có ngay trong cấp lãnh đạo cao nhất các quốc gia hạ nguồn.

Nói gì đi nữa thì Bắc Kinh vẫn cứ đi thênh thang trên con đường đã vạch ra của mình. Trong hai ngày 4-5 tháng Bảy vừa qua (2005), từ thủ phủ tỉnh Vân Nam, trong ánh điện rực sáng tỏa ra từ những tòa nhà cao ốc do nguồn thủy điện từ con đập Mạn Loan trên sông Mekong, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nói thẳng trước Hội nghị Thượng đỉnh sáu nước thuộc Đại lưu vực sông Mekong họp lần hai (Second GMS Summit) tại Côn Minh rằng:

“Đừng quá trông cậy lệ thuộc vào Trung Quốc trong khi Trung Quốc chủ yếu dựa vào sức mình là chính trong tiến trình phát triển... Cho dù có tiến bộ kinh tế đã đạt được nhưng cũng phải khiêm tốn để thấy rằng lợi tức tính trên mỗi đầu người ở Trung Quốc vẫn chỉ được sắp hạng dưới 100 so với các nước phát triển khác trên thế giới.” [5]

Bảo vệ môi trường, nếu có được nhắc tới hơn một lần trong hội nghị, chỉ “như một khẩu hiệu”, trong khi Trung Quốc vẫn không ngừng xây hàng loạt những con đập thủy điện khổng lồ trên dòng chính sông Mekong, đang gây rất nhiều tranh cãi và quan ngại của các chuyên gia môi sinh (ngoại trừ niềm tin lạc quan vô căn cứ của ông Hunsen, thủ tướng Cam Bốt) đối với ảnh hưởng tác hại khó lường đối với nguồn nước sử dụng nơi hạ nguồn.

Thách đố của thế kỷ 21

Chiến tranh nóng rồi chiến tranh lạnh cũng qua đi, Trung Quốc mau chóng hội nhập với thế giới bên ngoài. Tất cả sáu nước ven sông (hai nước Trung Quốc và Miến Điện không là thành viên Uỷ hội sông Mekong) với những định chế chánh trị, xã hội và văn hóa khác nhau, nhưng cùng có chung một nhu cầu khẩn thiết là khai thác con sông Mekong để phát triển. Không phải là không có những mâu thuẫn quyền lợi và tranh chấp khi tới với nguồn nước và tài nguyên không phải là vô hạn của dòng sông.

Thực tế cho thấy dễ dàng để thỏa thuận với nhau trên một số nguyên tắc khái quát như “sử dụng nước và các nguồn tài nguyên phải đáp ứng với nhu cầu bảo vệ, bảo tồn, thăng tiến môi sinh và duy trì cân bằng hệ sinh thái”, nhưng đi vào thực hiện với chi tiết còn cả một “khoảng cách đại dương”.

Chẳng hạn ai sẽ thực sự trách nhiệm “duy trì dòng chảy tối thiểu” của con sông Mekong trong mùa khô cũng như dòng chảy mùa lũ để có dòng chảy ngược từ con sông Mekong vào Biển Hồ, để nước mặn từ ngoài Biển Đông không tiếp tục lấn vào sâu và xa hơn nữa nơi ĐBSCL?

Dĩ nhiên sẽ có những diễn dịch khác nhau và phản ứng hành động khác nhau theo hoàn cảnh của mỗi nước ven sông.

Rồi nhìn về Việt Nam với hình ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một Đồng bằng sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng - thì nay tất cả đã đi vào quá khứ. Chỉ mới đây thôi có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một ĐBSCL đang suy thoái và cứ nghèo dần đi.”

California, 08.2005


Tham khảo:

  1. Kunming Declaration, Second Greater Mekong Subregion Summit, 4-5 July 2005
  2. Phnom Penh Declaration, First Greater Mekong Subregion Summit, 03 Nov 2002
  3. Agreement on the Cooperation for the Sustainable Development of The Mekong River Basin, Chiang Rai, Thailand 05 Apr 1995
  4. Hunsen backed China’s often-criticized development plans for the Mekong River, Phnom Penh, Jun 29, 2005 , [AFP]
  5. Chinese Premier Wen Jiabao opened the Second Greater Mekong Subregion Summit, Beijing, Jul 4, 2005, [AFP]
  6. Global Warming is causing Hymalayan glaciers retreat, threatening to cause water shoratges, Geneva, Mar 14, 2005, [AFP]
  7. Progress In Water Management at the Mekong River Basin, MRC Presentation at Third WWF, INBO Official Session 20 Mar 2004
  8. Ánh Nguyệt, phóng viên RFI phỏng vấn Giáo sư Võ Tòng Xuân, 03.12.2004
  9. Chinese Dam Project may spell disater for mighty Mekong River, Denis Gray, Nov 2, 2002, [AP]
  10. Mekong River At Risk, Bary Wain, FEER, Aug 26, 2004




[1]Số thứ tự của tài liệu tham khảo.
Nguồn: Tạp chí Thế kỷ 21, số tháng 9.2005