trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
2.1.2006
Tiểu Ngọc
Võ lâm ngoại sử
tiểu thuyết võ hiệp (7 kì)
 1   2   3   4   5   6   7 
 

Ông giăng kia ông ở trên giời
Hỏi ông có biết sự đời cho chăng?
Sự đời nhít nhít nhăng nhăng
Xem ra chẳng biết mần răng nực cười

(Câu hát cổ)

Quyền đả cước thích (tay chân đấm đá) chỉ là thuật nhỏ, chỉ có nhất lý là thông thiên địa.

(Lời người học võ)


Mục lục

Lời giới thiệu của Nguyễn Huy Thiệp

Chương 1:
Điểm mặt anh hùng Thần đồng ló dạng
Chương 2:
Thâu đệ tử, anh hùng thêm vây cánh
Lên kinh kỳ, so sánh được tài cao
Chương 3:
Chốn võ đường, đánh cho phải đạo
Ngọc Kỳ Khôi cũng thật kỳ khôi
Chương 4:
Chốn giang hồ vừa khóc vừa luyện chưởng
Nơi chùa chiền nhận thức nhận chân như
Chương 5:
Đánh nhau với sói
Nữ hiệp nổi danh
Chương 6:
Nháo nhác anh hùng một thuở
Cái thời lãng mạn qua đi
Chương 7:
Hàn vi làm thợ đấu
Công thành bởi bắn tên
Chương 8:
Bến Tiên, khoả thân luyện chưởng
Xác thối, biến hoá thành thơm
Chương 9:
Núi Hoa Đào, anh hùng luận kiếm
Ngôi tam bảo bóc mẽ công danh
Chương 10:
Hành phương Nam, dở cười dở khóc
Tự đánh mình, khó nhọc công phu
Chương 11:
Đại Võ Đài lừng danh một thuở
Nương dâu bãi biển, chìm nổi anh hùng
Chương 12:
Tầm sư học đạo
Lạc vào cung mê
Chương 13:
Gặp sư phụ, anh hùng thoả chí
Đường công danh, tỉ mỉ bắt sâu
Chương 14:
Giấc mộng tế trời, võ lâm định phận
Tìm người ấn chứng, thiên cổ lưu danh
Chương 15:
Võ lâm danh bất hư truyền
Chung cuộc từ bi hỷ xả





Lời giới thiệu

Tiểu thuyết võ hiệp là một thể loại văn học đặc biệt bắt nguồn từ Trung Quốc. Kim Dung - với những bộ tiểu thuyết võ hiệp lẫy lừng đã là một hiện tượng văn học có một không hai trong thời hiện đại. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn băn khoăn liệu tiểu thuyết võ hiệp có phải là “văn học chính danh” không hay chỉ là một thể loại “cận văn học”, “á văn học”?

Sự say mê của rất nhiều độc giả với tiểu thuyết võ hiệp và các bộ phim võ hiệp chuyển thể từ tiểu thuyết võ hiệp đã là một thực tế phải được nhìn nhận tích cực. Ở Việt Nam, chúng ta không thể phủ nhận ảnh hưởng to lớn của văn hoá Trung Hoa nói chung và văn học Trung Hoa nói riêng với toàn bộ đời sống tinh thần và vật chất của người Việt Nam, chính nó đã là một phần tạo nên tính cách Việt Nam và bản sắc Việt Nam.

Tôi rất thú vị khi biết Tiểu Ngọc viết tiểu thuyết chưởng. Cả tôi và Tiểu Ngọc gần như chưa bao giờ đọc truyện chưởng, vì thực ra cũng... hơi sợ nó! Vì sao vậy? Vì lối viết của các nhà văn viết truyện chưởng rất dễ làm lung lay các quan niệm văn chương “chính thống” (khái niệm văn chương “chính thống” ở đây có phần tương đương đồng nghĩa với các khái niệm cổ truyền, phổ thông mà các nhà lý luận văn học cũng như các nhà văn vẫn thường quen dùng). Tính chất ma giáo, quái dị có phần nào “bác học” kiểu dân giã có thể làm đảo lộn tùng phèo tất cả các trật tự và giá trị “cổ điển”. Chỉ khi nào gần như hoàn toàn “vô chiêu”, không có thành kiến, lúc ấy người cầm bút mới có thể hoà được vào dòng tâm thức hồn nhiên của thể loại tiểu thuyết này. Tôi và Tiểu Ngọc đã trao đổi với nhau nhiều lần về thể loại tiểu thuyết võ hiệp. Dưới đây xin ghi lại một đôi điều để giúp cho độc giả có thể hiểu thêm về cuốn tiểu thuyết võ hiệp thú vị và có phần kỳ cục này. Cần nói thêm rằng đây có thể là cuốn tiểu thuyết chưởng hiện đại đầu tiên ở Việt Nam.

“Anh ký là Tiểu Ngọc, có ý bắt chước Kim Dung chăng?”

“Đúng thế! Có rất nhiều thứ ở ta bắt nguồn, bắt chước từ Trung Quốc. Nhưng Việt Nam là Việt Nam. Thực ra tôi thích Ngô Thừa Ân tác giả của Tây Du ký hơn Kim Dung rất nhiều.”

“Cả tôi và anh đều chưa bao giờ đọc Kim Dung cả.”

“Chúng ta đều ‘sợ’ thứ văn học mà Kim Dung sáng tạo ra. Đó là một thứ văn học khác, thậm chí không phải là văn học nữa. Chính Kim Dung đã từng khiêm tốn coi nó là ‘á văn học’ nhưng xét về hiệu quả thì nhiều khi cái mà ta gọi là ‘giá trị văn học’ (mỗi cá nhân) so sánh với các bộ sách chưởng của Kim Dung thì không thể nào so sánh được. Tính hiệu quả trong các bộ sách chưởng của Kim Dung khôn lường.

“Đúng thế!”

“Tôi chỉ là một học trò nhỏ từ xa của Kim Dung đại hiệp văn sĩ.”

“Việc chúng ta không đọc Kim Dung có thể sẽ có một tác dụng tốt nào đấy khi viết tiểu thuyết võ hiệp chăng?”

“Có thể! Chính sự bắt chước không đến nơi đến chốn cũng có thể là một nét nhấn tạo nên tính cách Việt Nam, bản sắc Việt Nam. Ở trong văn hoá, trong kinh tế, thậm chí trong tôn giáo và chính trị cũng từng có rất nhiều trường hợp như thế. Tính chất nôm na mách qué là một thứ đặc sản đặc biệt Việt Nam. Ở đây chứa đựng rất nhiều yếu tố tự nhiên, dân chủ.”

“Tính chất nôm na mách qué có thể làm người ta liên tưởng đến rất nhiều điều, thậm chí văn võ có khi là một.”

“Thực ra chỉ có một. Chúa từng nói: ‘Lời’”.

“Ý nghĩa tối thượng trong cuốn tiểu thuyết võ hiệp này là gì?”

“Vạn pháp quy tâm. Điều đó có ở trong tất cả mọi cảnh giới.”

“Vạn pháp quy tâm?”

“Nói rõ tức là dung tục nó. Nhưng không sao. Tôi viết tiểu thuyết này chí ít liên quan tới ba cảnh giới, một là viết để viết, để tập suy nghĩ, hai là viết để giáo hoá chúng nhân, hoằng dương võ pháp, sĩ khí, ba là viết để ngộ thiền văn pháp, minh tâm kiến tính. Toàn là những lời lẽ đao to búa lớn nhưng cũng chỉ là ‘vạn pháp quy tâm’ mà thôi.”

“Công việc thật chẳng dễ dàng?”

“Phải viết trong tâm thức dễ. Làm việc khó trong tâm thức dễ. Võ lâm quyền pháp chủ ý: ‘Có tính mới có khí, có khí mới có thần, có thần mới có lực’. Tính, khí, thần, lực thiếu một sẽ không thành.”

“Chúng ta đang đi trên con đường của số phận.”

“Chắc là như thế! ”

Hà Nội ngày 30/8/2005

Nguyễn Huy Thiệp



*


Chương 1: Điểm mặt anh hùng, thần đồng ló dạng

Về đại lược, trong võ lâm, thường chia ra hai môn phái chính là Bắc tông và Nam tông. Bắc tông tổ chức quy củ, có trường lớp, bài bản. Người của Bắc tông ở trong công sở, trong cung đình, nhiều người giữ chức vụ lớn. Thanh thế của Bắc tông lớn đến nỗi tự coi là môn phái chính thống.

Ngược với Bắc tông, Nam tông tổ chức lỏng lẻo, gần như không có tổ chức, tự phát, hoà lẫn trong dân gian. Nam tông không nệ sách vở, thường ỷ vào trực giác, lấy sự đốn ngộ làm trọng. Trong khi đó, Bắc tông coi trọng phương pháp giáo dục dần dần, tiệm ngộ, có phần nào đề cao lý trí...

Tuy có sự phân biệt môn phái, nhưng giữa Bắc tông và Nam tông vẫn có sự giao thoa, ảnh hưởng đôi khi rất khó phân biệt. Khi lâm sự, một khi cao thủ ra đòn, nhiều khi cũng không thể biết đâu là chiêu pháp của Bắc tông hay Nam tông nữa.

Mỗi một nơi, mỗi một vùng, do phong tục tập quán khác nhau, địa lý khác nhau nên lại hình thành ra những băng nhóm khác nhau. Ví dụ như ở kinh thành, nhóm con ông cháu cha khác, nhóm nha lại đầu sai khác, nhóm buôn thúng bán mẹt khác. Ở vùng biển cũng thế, vùng núi cũng thế, vô cùng phong phú, vô cùng sôi động, hấp dẫn vô cùng. Hết lớp này đến lớp khác, không thể nói đâu là bắt đầu, đâu là kết thúc. Tất cả hoà quyện vào nhau, liên chi hồ điệp, tràng giang đại hải, như sông chảy ra biển, hết nắng lại mưa, năm kế năm, tháng kế tháng, kết thúc lại khởi đầu, khởi đầu lại kết thúc, cứ như thế mãi.

Có thơ rằng:

Võ lâm danh bất hư truyền,
Nào ai biết được căn nguyên thế nào?
Dưới đất thấp, trên trời cao,
“Quy tâm vạn pháp” dồi dào bấy nay.
Chuyện xưa cũng thể chuyện nay
Ngõ quê lời cũ có hay vẫn là?
Vận vào rồi lại vận ra,
Kiếp người cũng thể như là gió bay.
Thưa rằng văn đấy, võ đây,
Thấp cao cũng vẫn một tay anh hùng!

Câu chuyện trong tiểu thuyết này lấy bối cảnh xa thì cũng khoảng 50 đến 70 năm, gần thì sờ sờ trước mặt, như chuyện hôm qua, như chuyện hôm nay, như ông đi qua như bà đi lại, chính ngay tác giả cũng chỉ hình dung mơ hồ để vẽ lên bức tranh vân cẩu như mình vừa trông thấy đấy, thoắt cái lại đi, hiện thực rờ rỡ, ngụ ý tài tình, thực thực đùa đùa, đùa đùa thực thực, gọi là chuyện thế nhân cũng được, chẳng sai, nhưng gọi là chuyện bông đùa cũng có lý.

Trong võ lâm, điểm mặt anh hùng trong vòng mấy chục năm, nhiều thì có đến vài chục nghìn, nhưng nổi lên thực sự cũng chỉ đếm ở trên đầu ngón tay. Võ lâm có minh chủ không? Có đấy! Thường minh chủ võ lâm do đại hội võ lâm bầu ra, định kỳ năm năm một lần đại hội. Nhưng không phải lúc nào cũng thế, cũng có thể có kỳ đại hội bất thường nhưng cũng có khi tới bảy, tám năm mới có một kỳ đại hội. Trong từng môn phái cũng lại có những đại hội riêng, minh chủ riêng. Ở từng vùng, ở từng địa phương cũng vậy. Nhưng không phải hễ là minh chủ do các đại hội võ lâm bầu ra đã là minh chủ được cả giới võ lâm thừa nhận, biết đến. Nhiều người đi đi lại lại ở trên giang hồ, cũng đao cũng kiếm nhưng phần đông chỉ có hư danh chứ không có thực.

Khoảng hai mươi năm trước các môn phái Bắc tông lúc này rất mạnh, thực sự kiêu hùng, tinh thần chính thống ngặt nghèo, các cao thủ ở trong giang hồ muốn ngoi lên khẳng định danh tiếng khó khăn vô cùng. Minh chủ môn phái Võ Đang Toàn Chân trong Bắc tông bấy giờ là Trương Học Công Thi, ngồi ghế minh chủ qua ba, bốn kỳ đại hội. Môn phái này đứng đầu uy danh lừng lẫy khắp Bắc Trung Nam, chỗ nào cũng có, khuynh đảo thiên hạ.

Trò đời, những cái gì tồn tại lâu năm đã quá ổn định, ắt chứa trong nó nhiều mâu thuẫn. Trong môn phái Võ Đang Toàn Chân cũng thế, trải qua tới năm, sáu thập kỷ mọi sự tưởng như đã đạt tới đại công thành, kỳ tích ngời ngời, đâu đâu cũng là khuôn vàng thước ngọc, không ai dám bắt bẻ một ly một tí, người của môn phái Võ Đang Toàn Chân gần như khóa hết các cửa, không để cho một môn phái nào khác tự phát có thể khởi nghiệp lập danh lên được. Điều ấy khiến cho không phải không có nhiều kẻ uất ức, âm thầm tu luyện võ công, tìm cách nhảy ra thi thố với đời.

Khoảng năm Mậu Thân, ở vùng Hải Dương xuất hiện một thần đồng võ hiệp là Trần Đăng Tài. Nhà này có hai anh em là Trần Đăng Tai và Trần Đăng Tài. Trần Đăng Tai cũng biết một chút võ vẽ, từng thụ giáo mấy cao thủ trong môn phái Võ Đang Toàn Chân ờ trên kinh thành. Trần Đăng Tài thấy anh mình hàng ngày luyện tập võ công, hứng lên cũng bắt chước học theo. Khoảng chín, mười tuổi, căn cứ vào sự quan sát những con vật ở xung quanh mình như con kiến, con cua, con giun, con mèo, con chó... - vốn thông minh đĩnh ngộ, Trần Đăng Tài tự nghĩ ra được những thế võ, những chiêu đòn rất kỳ lạ, đánh ngã người nhanh như chớp. Được anh trai Trần Đăng Tai tự đứng ra làm bia đỡ khi luyện tập hàng ngày, võ công của Trần Đăng Tài tiến bộ rất nhanh, ngày thêm thâm hậu. Một đồn mười, mười đồn trăm, tiếng vang ầm ầm cả nước, lên cả tới kinh thành. Bấy giờ bọn trông coi môn phái Võ Đang Toàn Chân thiếu niên là đám Phạm Dần rất lấy làm thích thú bèn cử người về tận Hải Dương xem xét. Các cao thủ đứng đầu môn phái Võ Đang Toàn Chân như bọn Ngô Xuân, Huy Viễn rất lấy làm thích thú, cũng định về xem.

Khi Phạm Dần tìm đến nhà hai anh em họ Trần ở Hải Dương thì trời đã chiều, cả nhà đi làm đồng chưa về. Phạm Dần đi loanh quanh trong sân, ngẩng lên nhìn khoảng trời xanh, chặc lưỡi:

“Chỗ tầm thường này mà nảy sinh ra nhân tài ư?’’

Y vừa nói xong thì xuất hiện một đứa bé trai chừng độ 10 tuổi, người thấp bé, chắc nịch ở đâu bỗng chạy về vung nắm đấm, quát to:

“Lão tặc kia, tên là gì, ở đâu ra, lải nhải gì ở cửa nhà ta?’’
Phạm Dần cười to, thích chí nói:

“Oắt con! Có biết ta không:

Hổ ở triều đình đích thực là ta!
Quanh năm suốt tháng,
Đi đứng vào ra.
Mua vui thiên hạ,
Chẳng sợ tuổi già.
Xoa đầu trẻ nhỏ,
Kể chuyện quả, hoa.
Nơi nào mở hội,
Lại đến cho quà.
Danh vang nức tiếng,
Trong cõi sơn hà!’’

Đứa bé cười khanh khách, gật gù:

“Hoá ra lão chỉ là một con hổ đã được thuần dưỡng, ăn lộc triều đình, sống bằng cách ăn giỗ mua vui cho đám trẻ con. Chẳng ra gì! Chẳng ra gì!’’

Phạm Dần tức khí:

“Thằng lỏi con! Hỗn láo! Thế mày là ai, ở đâu ra?’’

Đứa bé kia quát lớn:

“Hãy nghe ông cụ ngươi nói đây:

Trần Đăng Tài chính thực là ta!
Sinh ra bởi mẹ bởi cha,
Hưởng phúc ông bà.
Ăn toàn lộc cỏ, nhụy hoa,
Khí trời thoả sức hít hà.
Xuống sông tắm mát,
Đùa với ba ba.
Ra đồng mót thóc,
Phụ giúp việc nhà.
Võ công tập luyện,
Tự mình nghĩ ra.
Nắng mưa sấm chớp,
Tôi luyện thịt da.
Thần đồng võ hiệp,
Chính thực là ta!’’

Phạm Dần cười sằng sặc:

“Tưởng mi là ai? Hoá ra mi chỉ là thằng bé con nhà quê lêu lổng, mấy dạy, có chút thiên tài, được hít thở khí thiêng trong lành của vùng núi sông kỳ diệu, chưa biết gì về sự đời nên mới huyênh hoang. Ta đến đây chính là muốn để gặp mi, thử xem võ công của mi cao thấp thế nào để nhận mi làm môn đệ, không mở mắt ra nhìn để bái ta làm sư phụ, còn hỗn láo cái gì?’’

Trần Đăng Tài chẳng nói chẳng rằng thoi ngay nắm đấm vào mặt Phạm Dần. Phạm Dần chủ quan, không thèm đỡ, không ngờ chưởng lực của Trần Đăng Tài mạnh quá làm y ngã quay ra đất. Y vùng dậy, chẳng còn giữ ý tứ gì nữa, giở hết võ công ra đánh nhau với Trần Đăng Tài. Trận đánh to quá:

Một người là cao thủ ở kinh thành!
Một người là thằng bé ở lều gianh!
Một trời một vực,
Ra sức đua tranh.
Kẻ thì lăn lộn như lính cứu hỏa,
Người thì tự nhiên hết sức hiền lành.
Chưởng vung như chớp,
Lực mạnh như thần.
Bụi tung mù mịt,
Hoả bốc xung quanh.
Tối tăm mặt mũi,
Công lực đại thành.

Phạm Dần và Trần Đăng Tài đánh nhau tới vài chục hiệp, Phạm Dần có phần núng thế nhưng vốn có nhiều kinh nghiệm trận mạc nên y đều tránh được những đòn hiểm. Y nghĩ bụng:

“Thằng lỏi con này thực đại tài, tiếc là nó chưa được thụ giáo những bậc tổ sư ở trong các môn phái võ lâm. Nếu cứ để tự phát thế này thì phí quá, phí quá!’’

Hai người đang đánh nhau chưa biết cao thấp ra sao thì vừa lúc ấy anh trai của Trần Đăng Tài là Trần Đăng Tai ở đâu bỗng chạy về. Nhận ra Phạm Dần, Trần Đăng Tai vội quát Trần Đăng Tài lui ra.
Trần Đăng Tai nói với Phạm Dần:

“Thất lễ! Thất lễ! Không biết có sư huynh đến chơi. Thằng em trai tôi hỗn quá!’’

Phạm Dần xua tay:

“Không sao! Trong giang hồ, nhiều khi phải đánh nhau vỡ đầu rồi mới bái nhau làm huynh đệ! Ta cũng không ngờ thằng em trai ngươi mới tí tuổi đầu mà võ công khá thế!’’

Trần Đăng Tai đón Phạm Dần vào nhà, dọn cơm rượu, gọi Trần Đăng Tài ra mắng:

“Chú có biết đây là ai không? Sư huynh Phạm Dần nổi tiếng kinh thành mấy chục năm nay, đứng đầu các lò võ nhí, môn sinh có tới hàng nghìn hàng vạn. Sao không quỳ xuống bái lạy?’’

Trần Đăng Tài nói:

“Đệ sinh ra giữa trời giữa đất, chẳng luỵ phiền ai, ông này ở đâu đến, tự dưng gây sự. Việc gì đệ phải bái lạy?’’

Trần Đăng Tai nói:

“Chú còn ít tuổi, mới biết một mà chẳng biết hai. Võ công của chú là thứ võ công bản năng, tự phát, loanh quanh chỉ có khoảng độ mười chiêu. Sau này đi ra giang hồ, thiên hạ nhân, thiên hạ tài, chú chỉ ỷ vào trực giác, làm sao chú trở thành một đại võ hiệp kỳ tích lẫy lừng được? Sư huynh Phạm Dần đây, võ công cái thế, có ý muốn thu nạp chú làm môn đệ, sao chú không hiểu lòng thành của người ta?’’

Trần Đăng Tài bảo:

“Võ công cái thế gì không biết nhưng đánh nhau với đệ, đệ thấy cũng thường. Phải có bí kíp gì nữa thì đệ mới phục!’’

Phạm Dần cười thích chí, nói:

“Đúng là lỏi con, chẳng biết gì! Bọn ta ở trên kinh thành, vào ra nơi chốn cung đình, ngày ngày luyện tập võ công, bí kíp có đầy, bọn quê mùa chúng bay làm sao biết được? Ta có những bí kíp thần tình như thuật giả kim, bọn các ngươi học hỏi cả đời có khi cũng không biết được!’’

Trần Đăng Tài bảo:

“Ta không tin! Nếu có bí kíp thực thì hãy thi thố cho ta xem, ta mới phục.’’

Phạm Dần cười, chỉ con chó nhỏ vừa đi qua sân, hỏi:

“Đây là con gì?’’

Trần Đăng Tài bảo:

“Đấy là con chó đen, ta vẫn gọi nó là con Mực.’’

Phạm Dần bảo:

“Trông ta đây!’’

Nói rồi chạy ra sân, tóm hai cẳng chân con chó Mực tung lên trời. Phạm Dần xoay ba vòng, tung thần chưởng, khói bay mù mịt, ánh sáng chói mắt. Con chó Mực rơi xuống đất, tự nhiên biến thành một đĩnh vàng choé, Phạm Dần thu nó trên tay, đặt lên bàn, cười hỏi:

“Đã thấy công lực thần kỳ của ta hay chưa?’’

Hai anh em Trần Đăng Tai, Trần Đăng Tài phục lăn ra, bái lạy Phạm Dần.

Trần Đăng Tài hỏi:

“Chẳng lẽ võ công thần diệu đến nỗi có thể biến những thứ vớ vẩn thành tiền bạc như thế được ư?’’

Phạm Dần bảo:

“Về nguyên tắc là như thế, nhưng phải tuỳ duyên, tuỳ cảnh, phụ thuộc vào thần lực của người luyện chưởng. Vừa rồi, ta chỉ khoe một chút tài mọn, giống như ma thuật, cốt để cho bọn các ngươi thuần phục, cũng không phải là thứ bí kíp gì ghê gớm cho lắm. Phép luyện chưởng chân chính thực ra không cần làm trò đó!’’

Trần Đăng Tai bảo:

“Sư huynh chớ khiêm tốn! Biến chó thành vàng, đấy cũng là chuyện hi hữu trong giới giang hồ. Nếu sư huynh chịu thu nạp Trần Đăng Tài làm đệ tử thì thật may mắn cho nó!’’

Phạm Dần bảo:

“Không được! Vừa rồi đánh nhau với nó, ta thấy thực ra võ công của ta chưa chắc gì đã bằng được nó. Để ta nói với sư huynh ta là Ngô Xuân đại hiệp, nếu sư huynh ta chịu nhận nó làm môn đệ thì mới bảo đảm tương lai của nó ngời ngời sáng lạn. Trần Đăng Tài mà được thụ giáo ở các lò luyện võ công trong và ngoài nước ắt sau này sẽ là một đại võ hiệp lừng danh ở trong sử sách.’’

Hai anh em Trần Đăng Tai rất lấy làm vui mừng, ra sức khoản đãi Phạm Dần.

Hôm sau, Phạm Dần trở về kinh thành, gặp các cao thủ ở trong môn phái Võ Đang Toàn Chân, hết sức ca ngợi Trần Đăng Tài là một thần đồng võ thuật.

Bước ngoặt trong cuộc đời Trần Đăng Tài bắt đầu từ đấy.

Thế là:

Chốn quê mùa, thần đồng ló dạng
Lò võ công xếp hạng tài cao

Muốn biết số phận Trần Đăng Tài thế nào, xin giở đọc chương 2.

© 2006 talawas