trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 482 bài
  1 - 20 / 482 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcThơ và Thơ Trẻ
11.10.2006
Lý Đợi
Thơ đến từ đâu 
Nguyễn Đức Tùng thực hiện
 1   2 
 
Nguyễn Đức Tùng: Làm thơ thời nay có vẻ phụ thuộc nhiều vào ý thức chọn lựa, chứ không phải cảm xúc, cảm hứng.Ý thức công dân của nhà thơ có phải là một vấn đề của tác phẩm văn học (và thơ) không?

Lý Đợi: Ý thức công dân là một khái niệm rất xa xỉ tại Việt Nam hiện nay. Bởi thực tế, khái niệm này đang bị xuyên tạc và không được nhìn nhận, hay tôn trọng đúng mực. Một xã hội không có từng cá thể công dân [theo nghĩa được hưởng mọi công minh, công bằng và được tôn trọng trước pháp luật], mà chỉ có giới lãnh đạo, cầm quyền và người dân bị cầm quyền thì làm sao nói tới ý thức của công dân.

Nhưng nếu giả sử phải mở miệng để nói về ý thức của công dân, thì nó không chỉ là một vấn đề của văn học, mà còn là vấn đề của tất cả các vấn đề. Anh thử đơn cử một vấn đề nào không liên quan thử xem, lúc ấy chúng ta sẽ bàn lại; còn vấn đề nào cũng có liên quan, mà liên quan một cách thiết yếu, cận kề thì làm sao mà luận bàn hết cho được.

Nguyễn Đức Tùng: Nói thế, theo anh thì trong văn học Việt Nam hiện nay, điều gì là quan trọng nhất?

Lý Đợi: Đây cũng lại là một câu hỏi khó bởi vì nó rất dễ gây tranh chấp một cách triệt để, sâu sắc. Tôi xin nói lại một ý cũ, mà có lần đã phát biểu: Điều quan trọng nhất không phải là hay-dở, tốt-xấu, đúng-sai, mới-cũ… mà là thật-giả. Một nền văn học mà thật-giả không được phân biệt, không được định vị, chưa nói bị cái giả cầm trịch [như văn học Việt Nam hiện nay] thì đâu còn gì đáng phải tranh luận, suy xét.

Sự ngụy tạo đang bào mòn tài năng, nhân cách và nhiệt huyết những người cầm bút viết tiếng Việt.

Nguyễn Đức Tùng: Để rõ ý hơn và cũng là một ví dụ minh chứng. Anh thử trình bày cách đọc của mình về một bài thơ?

Lý Đợi: Nằm trong mạch suy nghĩ, và cũng đang nằm trong “mối quan hệ” của công việc hỏi và trả lời phỏng vấn, tôi chọn ngay một bài thơ của chính anh [Nguyễn Đức Tùng], vừa in trên Tiền Vệ:

Một con đường ở Phnom Penh

Tháng 9 năm 2006 tôi ra bưu điện nhận một thùng quà lớn
Của người anh bà con thất lạc đã lâu
Từ Phnom Penh
Khi đọc địa chỉ trên gói hàng
4314 Mao Tse Tung Boulevard

Một điều gì đó chạy xuyên qua
Mắt tôi
Trên võng mạc
Nó đảo ngược
Rồi xuyên qua óc tôi

Làm óc tôi vọt ra

Không còn gì phải phàn nàn về thơ quá khó hiểu hay là thơ quá dễ hiểu nữa. Một ý niệm thẳng, căng, mạch lạc, trực tiếp và gây hiệu quả về cảm thụ tức thời. Một bài thơ về sự sụp đổ trong nhận thức, suy tưởng và tư tưởng. Nói như các nhà phê bình Mác-xít, nó rất rõ ràng về quan điểm chính trị. Tôi cho rằng đây là một trong số rất ít những bài thơ thành công của Nguyễn Đức Tùng. Gặp những bài thơ như thế này, người ta sẽ rất ít khi còn băn khoăn về cách đọc; dù để đọc và giải mã hiệu ứng về ý niệm của nó cũng là cả một vấn đề.

Tuy nhiên, về ý niệm, tác phẩm thơ đơn giản hay phức tạp, nông hay sâu, rộng hay hẹp, ngắn hay dài… đều tạo ra một chiều kích về nhận thức.

Nguyễn Đức Tùng: Cảm ơn anh. Tập thể những người làm thơ Việt Nam hiện nay sinh hoạt với nhau ra sao?

Lý Đợi: Tôi cho rằng hiện nay không có một tập thể thực sự như thế. Bởi khi nói đến tập thể nghĩa là chúng ta nói đến một sự định hướng và mối tương liên quyền lợi – nghĩa vụ chung. Là một tác giả ở ngoại vi, tôi không có đủ cơ sở để nhìn nhận các tác giả chính lưu – trong hoạt động của họ, ở trong hội. Anh nên phỏng vấn một vài người có thẩm quyền phát ngôn trong giới chính lưu [ví dụ như bài của Thanh Thảo vừa rồi], để xem họ trả lời ra sao. Còn các tác giả bên ngoài, tác giả ngoại lưu, vỉa hè…, tôi thấy mỗi người mỗi hướng, ai làm việc nấy, nhiều khi cũng giẫm chân vào nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Nhóm Mở Miệng của anh thì thế nào?

Lý Đợi: Chúng tôi có may mắn là số lượng người không nhiều, cùng chung điểm xuất phát, và luôn tôn trọng kế hoạch chung, thường được đề ra trước cả năm, cứ thế thực hiện. Về đường lối và định hướng lâu dài, chúng tôi cũng luôn xác định được mình phải làm gì trong 1 hay 5 năm tới, có những kế hoạch được đề ra cho năm 2008 thì không có lý do gì phải thực hiện trong năm nay, dù cho năm nay chúng tôi chỉ làm những kế hoạch nho nhỏ, không có nhiều tác động. Tuy nhiên, kế hoạch cụ thể ra sao thì tôi nghĩ nên cần một dịp khác, vả lại, cũng cần phải thương lượng trong nội bộ xem có được phép trả lời hay không.

Nguyễn Đức Tùng: Xã hội Việt Nam đang đặt ra những vấn đề cấp thiết, ở cả trong nước lẫn hải ngoại, như vấn đề dân chủ, vấn đề tham nhũng, giáo dục xuống cấp, đạo lý suy đồi, các tệ nạn xã hội, sự mất dần tiếng Việt của thanh niên ở hải ngoại v.v… Trong khi các nhà thơ Việt Nam có khuynh hướng chọn con đường văn học thuần túy và ít đụng chạm đến các vấn đề chính trị xã hội nói trên. Theo anh, thì tại sao? Điều này tốt hay xấu?

Lý Đợi: Nói đa phần các nhà thơ thì đúng hơn, bởi đa phần họ sợ các hệ lụy về đời sống và chính trị. Kinh nghiệm tại Việt Nam cho thấy cơm áo gạo tiền và các tệ nạn về chính trị đã đẩy nhiều nhà thơ, trí thức… đến sự bần cùng hoá. Nhưng tại Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, điều gì cũng bị chính trị hoá, ngay cả khi im lặng. Cho nên im lặng hay mở miệng, cũng đồng nghĩa với ngu, vì mọi việc đều có thể bị quy chụp theo hướng chính trị. Mà công cụ của chính trị thì gồm cả quân đội, công an, nhà tù. Trong quá khứ những lực lượng này đã giết chết nhiều nhà thơ Việt Nam, còn hiện nay các nhà thơ chết vì nỗi sợ nhà tù [vô cớ]. Tuy nhiên, cũng có khá nhiều người im lặng, nín thở qua cầu và tự cảm thấy mình khôn, mình tạm thời an toàn, nhưng với nhiều người khác thì im lặng là hèn nhát.

Còn điều này là tốt hay xấu ư? Tôi nghĩ nó không tốt, cũng không xấu. Bởi trong sự suy nhược đến cùng cực, đâu phải ai cũng còn đủ sức để nói về những điều hệ trọng như anh vừa nêu ra. Ví dụ việc phê phán giáo dục, nếu có chuyên môn, tôi chắc cũng không thể nào viết một trang hay vài ngàn trang mà đủ được. Bởi trong một hiện tượng giả tạo đến mê hoặc, băng hoại đến hoàn mỹ, thì sự phê phán thường phải lẽo đẽo theo sau. Một chuyên viên về giáo dục quốc tế sau khi đến Việt Nam khảo sát trong 3 tháng, trước khi lên máy bay về nước, bà đã phát biểu: “Giá như có đôi đũa thần!”. Với hiện trạng như vậy thì trong các nhà thơ, theo anh, ai có đủ chuyên môn để lý giải?

Nguyễn Đức Tùng: Trong thời gian gần đây, một tháng, một năm, năm năm, có một sự kiện xã hội, chính trị, văn học, lịch sử nào đã tạo nên cảm xúc làm nền cho một bài thơ của anh?

Lý Đợi: Có nhiều tác phẩm như vậy. Bởi tôi hay làm tác phẩm theo kiểu đó, trong một hai năm qua. Trong những tác phẩm của tôi luôn có sự liên đới đến các tác phẩm, các văn bản, các văn kiện, các văn cảnh khác. Thử xem một vài tác phẩm mới tại: http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=161

Tôi luôn cố nhúng chân vào thực tế, nhưng thực tế thì không dễ dàng gì để cho tôi làm việc đó. Nó giống như một con (một thằng) điếm, rất sòng phẳng, rất ranh ma, tráo trở.

Nguyễn Đức Tùng: Mở Miệng luôn thể nghiệm những thủ pháp như giễu nhại, cắt dán, lắp ghép… và xuyên tạc những giá trị đã định vị. Sự thể nghiệm đó nhằm mục đích gì?

Lý Đợi: Một câu hỏi hay, nhưng thực lòng mà nói, tôi không có hứng thú, hay chưa có đủ dũng cảm để trả lời – đó là bí mật nội gia. Đơn giản thì đó là một cách làm mà chúng tôi đã lựa chọn, đã thực hiện – mà văn học, nghệ thuật thì có nhiều cách làm lắm, không nhất thiết phải theo cách của bất kì ai. Điều sai lầm mang tính căn đế của những người quản lý văn hoá, nghệ thuật ở Việt Nam là tưởng rằng chỉ có một cách.

Nguyễn Đức Tùng: Xin cho nghe một bài thơ của một nhà thơ Việt Nam đương thời khác mà anh thích nhất hay nhớ nhất. Xin nói về bài thơ đó?

Lý Đợi: Một bài thì khó quá, bởi tôi không đủ cực đoan để nói được ngay rằng mình thích bài nào nhất. Theo tôi thì trong khoảng 5 năm qua, tính luôn bên ngoài Việt Nam, những tên tuổi như Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Quốc Chánh, Đinh Linh, Đỗ Kh., Inrasara, Trần Tiến Dũng, Mộng Lan, Barbara Trần, Phan Bá Thọ, Vương Huy, Vương Văn Quang, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Bùi Chát, Khúc Duy, Miên Đáng, Lynh Bacardi, Huỳnh Lê Nhật Tấn, Nguyễn Quán, Lê Vĩnh Tài, Đặng Thân, Nguyễn Hoàng Tranh, Nguyễn Tôn Hiệt, Mai Văn Phấn, Trà Đoá, Bình Võ, Đỗ Lê Anh Đào, Thanh Xuân, Phương Lan… [còn nhiều nữa] đều có bài thơ đáng đọc. Với thực tế bừa bộn như hiện nay, tìm một bài thơ, một tác phẩm thơ đơn lẻ đáng đọc không khó; tìm một tập thơ, một ý niệm thơ hoàn chỉnh thì khó hơn.

Vì là chỗ quen biết, tôi chủ động tiếp thị 1 tác phẩm đơn lẻ [không phải mới viết] của Bùi Chát, có tên “Cái lồn què” để làm ví dụ. Nguyên văn tác phẩm như sau:

Cái lồn què

Là cái lồn có kinh, ngoài ra còn có thể hiểu như sau:

Ngày xưa, cách đây thật nhiều nhiều năm. Các loài đều chung sống, đối đãi với nhau như bạn bè, riêng đàn bà & lồn là 2 loài ăn chơi đàn đúm & nhậu nhẹt bê tha hơn cả

Vì mắc nợ một món tiền khá lớn, lồn buộc phải ở đợ cho đàn bà. Suốt ngày quanh quẩn trên cơ thể, làm lụng vất vả: từ chăm sóc sắc đẹp cho đến vệ sinh các thứ…

Một hôm. Nhớ giang hồ không chịu nổi, lồn bỏ trốn vài ngày. Chính thế mà đàn bà biết, loài đàn ông yêu thương, đắm đuối mình cũng chỉ vì lồn

Để giữ lồn lại bên mình. Đàn bà tìm mọi cách giăng bẫy, đánh đập lồn tàn nhẫn đến què cả hai chân… sau đó xiềng luôn ở háng

Từ đó, phần bị thiên hạ đàm tiếu, phần vì đi đứng không tiện. Chẳng ai biết lồn ở đâu

Duy bọn trẻ lúc nào cũng nghĩ: đàn bà & lồn, nhất định là một

Chú: Thế mới dại dột

Tôi thích tác phẩm này vì nó rất dễ hiểu, tuy không phải dễ đọc, nhất là với những độc giả sính bệnh đạo đức giả - đạo đức hình thức. “Cái lồn què”, câu cửa miệng của nhiều người Việt, nhất là dân miền Nam, nhưng đúng tích tuồng như thế này thì không phải mấy người tỏ tường. Nhất là câu kết, rất gây ấn tượng, nhất là với những ai trẻ người non dạ, từng vấp nạn ngoại tình hay bị cắm sừng. Câu khẩu hiệu về ý tưởng quảng cáo được xác lập: Cái lồn què, cách nhìn căn nguyên và vui thú về cái lồn.

Nguyễn Đức Tùng: Xin nói ngay, tôi cũng thích bài thơ này.Trong những bài viết của anh rải rác đó đây mà tôi được đọc, dễ nhận ra sự quan tâm chân thành của tác giả đối với các vấn đề xã hội và lịch sử. Trong khi đó, thơ của Lý Đợi và của bạn bè trong nhóm Mở Miệng lại đặt ra những vấn đề khác về nghệ thuật. Bài thơ trên đây của Bùi Chát và nhiều bài khác của Mở Miệng thường có những đề tài hay những ám ảnh về sex và tục. Một số tác giả viết bài phê bình nhóm Mở Miệng, như ta có thể đọc trên talawas, cũng có thể là vì họ cảm thấy lẫn lộn (confused) không hiểu là thơ phá phách, với nghĩa là ít trách nhiệm hơn, hay là thơ mang tính phản kháng xã hội, nghĩa là có trách nhiệm hơn. Anh nghĩ sao?

Lý Đợi: Tôi lại phải trích hai tác phẩm thơ để minh hoạ, bài trên của Khúc Duy:

Canh mướp đắng

Thắp nhang sau ót, rằm không có police,
ăn thịt chó lủng lẳng lắm. Hổm rày thèm
món bà chủ tiềm thuốc Bắc. Ừ! nước trà
sao không rửa cu. Tại trời đen, trình diễn
hửi vớ, ruồi tắm rượu tây. Đô-la đổi
da heo viết lên mạng, mày không có cửa
mình. 3 thằng kiếm tài liệu 3 tháng, không
dám viết, làm sao chịu nổi. Xúm lại rẽ
mồng gà nó, thương quá cái bẹn xuôi ngược
diễn đàn. Luyện em nhỏ bằng hai con tít
xào khô. Ai đẻ ra nó, nửa đêm hứng
tình thọc tay vô háng triết lý cái búa.
Moi được bóp được. Em chỉ chơi mấy tờ
giấy vụn, có làm chi mô. Nứng thì nứng.
văn hóa đầy quần, anh muốn hửi. Tụi bây
Mần ăn sống nhăn.

Tối ngủ sợ cà-fê phở bò mỗi sáng,
sợ lũ chim táo bón, sợ mặc quần, mùi
giầy không phai.

Và tác phẩm dưới đây của tôi, Lý Đợi:

Những gì không đến từ Việt Nam...

+ với Marek Hlasko [1] , và các môn đệ


Những gì [xấu] không đến từ Ba Lan...
Thì đến từ Việt Nam… thế đấy.

Những gì [xấu] không đến từ Đông Âu
Thì đến từ Việt Nam… thế đấy.

Những gì [xấu] không đến từ xã hội chủ nghĩa
Thì đến từ Việt Nam… thế đấy.



Những gì [tốt] không đến từ Ba Lan
Thì cũng không đến từ Việt Nam… thế đấy.

Những gì [tốt] không đến từ Đông Âu
Thì cũng không đến từ Việt Nam… thế đấy.

Những gì [tốt] không đến từ xã hội chủ nghĩa
Thì cũng không đến từ Việt Nam… thế đấy.



Và đây, một tờ giấy chứng nhận rằng:
Hoặc tất cả chúng ta được quyền tự phanh thây
hoặc tự ăn cứt, hoặc tự tủi nhục, hoặc tự tự tử… đều được

Thế đấy… một tờ giấy đỏ đến từ Việt Nam.

Tôi cam đoan, hai tác phẩm này có thể minh hoạ được những thắc mắc trong câu hỏi của anh. “Không hiểu là thơ phá phách, với nghĩa là ít trách nhiệm hơn, hay là thơ mang tính phản kháng xã hội, nghĩa là có trách nhiệm hơn.” Quan trọng, trong vai trò của người đọc, chúng ta đang đứng từ “chiến tuyến” nào để nhìn. Ví dụ trong tác phẩm của Khúc Duy, cái ý niệm quan trọng nhất đến ngay ở câu đầu tiên: “Thắp nhang sau ót, rằm không có police,” – ai đó sờ lại sau ót mình – kiểm điểm lại mình, thắp lên niềm tin, và vì rằm này không có công an theo dõi, mọi việc đều được phép, ngay cả những chuyện riêng tư, nhảm nhí. Sống ở những nơi mà cá nhân bị dòm ngó theo dõi triệt để, cái cảm giác một ngày “không có police” mang lại cho chúng ta điều gì? Tôi nghĩ tác phẩm này đã nói lên được tính “trách nhiệm” của nó.

Còn vấn đề Mở Miệng, lại là chỗ người nhà, cũng thật khó nói tường tận. Những bài trên talawas, chắc anh nói đến bài của Khánh Hoà, Trần Ngọc Hiếu, Đỗ Lê Anh Đào, An Vân, Phan Nhiên Hạo… Về các bài viết này, tôi nghĩ cũng cần một sự bình tĩnh và kiên nhẫn khi đọc, vì mỗi người mỗi quan điểm, không ai chịu ai, mà có vẻ như ai cũng có cái lý của mình. Là một người trực tiếp bị đề cập đến, lần này tôi không có ý kiến, như thế sẽ khách quan hơn chăng?

Xin nói thêm, vì ở trên anh cũng đã có hỏi rồi, tôi lại quyết nói thêm về Mở Miệng. Tôi nghĩ, với Mở Miệng, mọi sự lẫn lộn đều có thể xảy ra. Theo tôi thì có mấy lý do: Một, do không đủ thông tin, vì chúng tôi chỉ công bố khoảng 40% tác phẩm và dự định công việc của mình. Mà 40% đó lại là kết quả của Ý niệm, lại bị triệt để hiểu là “có những đề tài hay những ám ảnh về sex và tục.” Bài công kích của báo Công An Tp. HCM mà anh có thể đọc lại tại Spectrum của talawas lại cố tình hiểu khác đi, hay làm lơ trước những vấn đề khác [có vẻ hệ trọng hơn] mà chúng tôi muốn đề cập đến. Trả lời bài này, cách tốt nhất, mời anh cùng đọc lại tác phẩm mà tôi đã gởi cho chính báo Công An, tất nhiên, họ sẽ không bao giờ in.

Những người đáng trọng & những kẻ đáng khinh
(Nhân đọc bài “Nhóm Mở Miệng với thứ rác rưởi được gọi là thơ” trên trang 3, báo CA.TPHCM, số 1406, 22-12-2005.
Và: http://www.baocongantphcm.com.vn/detail_news.php?a=art010995&b=2)

Nòi giống nào đáng trọng?
Thưa nòi giống con người.

Giống nòi nào đáng quý?
Thưa giống nòi biết tôn trọng dân chủ.

Nòi giống nào đáng khinh?
Thưa, cũng nòi giống con người.

Nòi giống nào đáng phỉ nhổ?
Thưa nòi giống làm chó săn.

Giống nòi nào đáng loại bỏ?
Thưa giống nòi miệt thị tự do, miệt thị nhân tính và khoe khang sự ngu dốt…

Còn nữa?
Thưa, làm sao kể hết.

Tại sao?
Thưa, vì bọn chúng chỉ cần tiền-cần quyền-cần danh
Nên sẵn sàng bán rẻ lương tâm
Bán rẻ liêm sỉ
Bán rẻ danh tiết cùng sự hàm hồ…
Để lấy vài xu lẻ của giới quyền lực.

Bọn nó có biết điều này?
Thưa, ban đầu thì biết
Sau thì hết biết, vì bọn nó biến thành máy
Bọn nó biến thành gậy trong tay kẻ khác.

Lời của Doi Ly:
Hỡi những kẻ vi phạm các quy ước về quyền tự do làm người
Hỡi những kẻ không biết kính trọng dân chủ
Hỡi những kẻ khinh miệt tự do ngôn luận
Hỡi những kẻ miệt thị tầng lớp lao động bình dân
Hỡi bọn cơ hội mà bị mất cơ hội…

Rồi bọn bay sẽ được toại nguyện vì được đóng hai chữ: 'đần độn' trên trán
Rồi bọn bay sẽ được toại nguyện vì lương tri thối rữa…

Ta luôn chờ bọn ngươi bên bờ vực thẳm
Ta luôn thấy bọn ngươi dưới đáy chảo dầu…

Nòi giống nào đáng trọng? Giống nòi nào đáng khinh?
Dân tộc này sẽ thay bọn ngươi để chọn.

(Nguồn: Hc, 10, 12)

Lý do thứ hai của Mở Miệng là chúng tôi có nhiều may mắn hơn những thế hệ trước đó, vì chúng tôi xuất hiện đúng thời cơ hơn, và chọn thái độ sòng phẳng hơn. Vì quan tâm sâu sát tới thế hệ trước, chúng tôi đã có thời gian để chuẩn bị và rút kinh nghiệm. Thay vì gởi tác phẩm đến các Nxb nhà nước để chờ mua giấy phép, và thường không mua được cái tươi sống, y như Nguyễn Quốc Chánh viết trong lời vào tập Của căn cước ẩn dụ: “Thật ngô nghê khi vừa muốn tự do vừa muốn cơ chế chuyên chính cho phép. Tôi đã hơn hai lần ngu như vậy. Và trớ trêu cả hai lần (tuy nhọc nhằn) nhưng đều được phép. [bỏ qua 7 đoạn] Viết, in, & phát hành trong sự cho phép, là một cách tiếp tay với sự phản động theo nghĩa là kéo dài những biến tướng. Bởi nó ít có tác dụng thúc đẩy, mà chỉ thêm những kẻ đồng loã với âm mưu bóp chết tự do cá nhân.” [tr.5 & 7]. Với sự sòng phẳng ngay từ đầu, chúng tôi lập Nxb Giấy Vụn để in những tác phẩm của mình và cả của những tác giả khác. Tuyển tập Khoan cắt bê tông với 23 tác giả từ Nam ra Bắc, cùng với hải ngoại, ra mắt năm 2005 là một minh chứng. Về tác phẩm này, anh có thể đọc thêm bài viết của Nguyễn Tiến Văn, hay là Đoàn Cầm Thi.

Và vì xuất hiện đúng thời cơ, chọn đúng thái độ, và đây cũng là lý do thứ ba, chúng tôi có may mắn là mình nhanh chóng có dịp để triển khai các Ý niệm trong cách xây dựng tác phẩm. Điều mà các tác giả trước chúng tôi thường làm rất mờ nhạt; hay gần như không có ý niệm. Họ chỉ nỗ lực làm ra những bài thơ hay, những tập thơ xuất sắc, biệt lập. Tác phẩm, với chúng tôi, là một Ý niệm, một Quá trình hơn là một Kết quả. Nếu chỉ dựa vào kết quả, mọi sự hiểu lầm đều có thể xảy ra… Chúng tôi có đông người hơn nên thuận lợi hơn trong việc lập kế hoạch, “lập thuyết”, phát ngôn, chia công việc và thực hiện nó, liên tục trong nhiều năm. 5 năm hành trình của Mở Miệng và Nxb Giấy Vụn, chúng tôi nghĩ rằng mình đã rất may mắn khi các ý niệm được triển khai một cách đồng bộ và các kế hoạch thì luôn được tuân thủ.

Thêm một lý do nữa, trách nhiệm của Mở Miệng chẳng có gì ghê gớm: Khơi dậy sự vui đùa! Trong một thời gian dài, người ta không biết đùa, không thích đùa; người ta phải sống trong sự nghiêm trọng giả tạo, trong đời sống giả tạo. Mở Miệng xuất hiện ngay lúc mà người ta mới bắt đầu quan tâm tới sự giải trí, tới sự vui đùa, từ chính trị cho đến văn hoá xã hội, văn học nghệ thuật… Cái cách Mở Miệng giễu nhại, đùa cợt, giải nghiêm trọng… có người cho đó là phá cách; có người cho đó là phá phách; có người cho đó là trách nhiệm; có người cho đó là phản kháng; có người cho đó là làm khác, là đổi mới, là nhảm nhí, là tục tĩu, là đa nghĩa, là vô nghĩa... Tùy! Chúng tôi, nói như khẩu hiệu chương trình hài của một MC hàng đầu Việt Nam, Thanh Bạch: “Những người thích đùa”.

Cuối cùng, chúng tôi cũng có may mắn là cùng trang lứa với nhau, có trình độ nhận thức ngang nhau, có một sự quan tâm giống nhau, nên dễ thông hiểu. Và khi chúng tôi xuất hiện, cũng là lúc các phong trào Tân hình thức, chủ nghĩa Hậu hiện đại, Internet, vấn đề nhân quyền, dân quyền… đã đặt chân vào Việt Nam, cơ hội để mở rộng biên độ nhận thức và cập nhật thông tin cũng nhiều hơn. Theo chúng tôi, sự xuất hiện của Internet tại Việt Nam cũng quan trọng như sự xuất hiện của máy in, của chữ Quốc ngữ, của báo chí… trước đó. Nếu báo chí chữ Quốc ngữ góp phần quyết định sinh ra Thơ Mới, sinh ra Tự Lực Văn Đàn, thì Internet cũng sinh ra một thế hệ tác giả, tác phẩm mới của mình, rất quan trọng. Ngoài ra, cũng hoàn toàn do may mắn ngẫu nhiên, chúng tôi có được những tạp chí, website, những diễn đàn của mình, từ Tiền Vệ, talawas, Tạp chí Thơ, eVăn, Hợp Lưu, Văn… cho đến các tạp chí, báo in trong nước “quan tâm”. Chúng tôi may mắn có được sự đưa tin của nhiều cơ quan thông tin ngôn luận trong nước và quốc tế; và đặc biệt, được sự quan tâm tức thời của những người có chuyên môn sâu trong giới phê bình, nhận định văn học. Tất cả những điều này, có khi là rất bình thường ở các nước văn minh, có nền văn học phát triển, nhưng lại là một ngoại lệ ít gặp trong mấy chục năm qua tại Việt Nam vì rất nhiều các rào cản, trong đó có chính trị.

Anh hỏi đi hỏi lại vài lần. Tiện thể đây, anh thấy tôi có biết cướp diễn đàn không?

Nguyễn Đức Tùng: Thế nào là một ý niệm thơ hoàn chỉnh?

Lý Đợi: Theo quan điểm của tôi, không có ý niệm thơ hoàn chỉnh, tác giả không bao giờ có được tập thơ hoàn chỉnh. Ý niệm phải phát xuất từ cái đề cương khởi điểm mà tác giả nghĩ về tập thơ, sau đó là quá trình hoàn tất tập thơ (cả về thời gian thực hiện và cấu trúc) và công bố tập thơ (thời khắc và phương cách cũng rất quan trọng)… Nhiều người đọc thông thường cứ nghĩ một tập thơ hoàn chỉnh là tập hợp của hầu hết những bài thơ hay, tôi thì không nghĩ thế, bởi những bài thơ hay đơn lẻ thường mâu thuẫn với nhau về ý niệm.

Những tác giả nào không có ý niệm hoàn chỉnh thì các tác phẩm sau thường không thành công bằng các tác phẩm trước, hoặc lặp lại các tác phẩm trước. Nói như thời Thơ Mới, đó là định mệnh từ tác phẩm đầu tiên. Những ý niệm này, thông qua tác phẩm, có thể được “đề ra” từ trước như kiểu Đinh Linh, Bùi Chát…; được “đạt” đến ngưỡng như Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Quốc Chánh, Đỗ Kh., Trần Tiến Dũng…; được “xô” đến như Inrasara, Mai Văn Phấn, Lê Vĩnh Tài… Những tác giả này, ở nhiều cấp độ khác nhau, những tác phẩm sau của họ đều đáng đọc hơn tác phẩm trước, dù mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một sự ràng buộc khác nhau.

Nguyễn Đức Tùng: Thơ có thể làm được gì cho con người?

Lý Đợi: Nhiều chứ. Với một số người, thơ là cách để giết bớt thời gian dư thừa; với một số người khác, thơ là cách để gây dựng ảo tưởng, mua danh, tìm kiếm sự bất tử... Tại Việt Nam, trong các nhà, nhà thơ gần như được nhắc đến nhiều nhất, số lượng cũng khá đông. Có nhiều bài thơ được viết phục vụ cho các mặt trận, có những bài thơ minh hoạ cho đường lối chính sách, có những bài thơ tuyên truyền, có những bài thơ tỏ tình, có những bài thơ đạo lý, có những bài thơ nhảm nhí… bao nhiêu là lợi ích, làm sao nói hết. Trở lại với câu hỏi của anh: Thơ đến từ đâu? Đến đây thì càng bội phần không biết, vì thơ vị điều này, vị điều kia quá nhiều. Thơ đang bị lợi dụng, đang bị xuyên tạc, đang bị bôi nhọ, đang bị tắc kinh, đang bị liệt dương, đang bị xiển dương... kiểu nào cũng có.

Nguyễn Đức Tùng: Anh nghĩ sao về chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn chương? Nó đã tác như thế nào đến sáng tác của anh?

Lý Đợi: Thêm một phương tiện, thêm một thách thức, thêm một sự nghiêm trọng, và thêm nhiều kẻ khùng điên. Có vài người chứng minh tác phẩm của tôi chịu ảnh hưởng tinh thần hậu hiện đại, tôi nghĩ họ nói đúng. Trong tác phẩm của mình, tôi cố gắng giải nghiêm trọng, dù đôi khi các vấn đề mà tác phẩm đặt ra cũng không tránh khỏi sự nghiêm trọng.

Tuy nhiên, tôi nghĩ để nói về điều này, chúng ta cần phải có một cuộc trò chuyện khác, với các câu hỏi kiểu khác. Và tất nhiên, về diễn đàn cũng như độc giả, cũng cần chuẩn bị một dịp và một tâm thế khác.

Nguyễn Đức Tùng: Đồng ý với anh. Tuy nhiên, tôi có cảm giác rằng nó đã không được giới thiệu đến người Việt Nam theo đúng tinh thần và thái độ nhân bản của nó. Chủ nghĩa hậu hiện đại vừa là thái độ chống lại chủ nghĩa hiện đại vừa là sự nối dài và bổ sung của nó, trước hết là trong cách tiếp cận dân chủ hơn, bình dân hơn, ngoại vi hơn. Có một ngộ nhận ở đây là: đối với những kẻ non nớt, nó gây cảm giác là mọi chuyện trên đời đều được phép và không có chuyện gì là quan trọng cả. Theo anh, đây có phải là điều nguy hiểm không?

Lý Đợi: Tôi nghĩ chủ nghĩa hậu hiện đại, như anh nói là “dân chủ hơn, bình dân hơn, ngoại vi hơn”, nên vấn đề “non nớt” hay không non nớt, chẳng có gì là quan trọng hay nguy hiểm cả - mọi người đều được quyền mà, không phải chỉ là đặc quyền và độc quyền của riêng ai. Sự nguy hiểm, có chăng, là sự đóng băng lâu năm về mặt ý thức hệ, về thói quen nhận thức và nếp nghĩ văn học một chiều, độc tuyến. Có những thứ như luật giao thông, luật nhân quyền, đáng lý phải được tôn trọng triệt để, vậy mà người ta vẫn vi phạm hà rầm, huống chi ba cái lăng nhăng, chẳng có gì là quan trọng như chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học.

Vấn đề thiết yếu lúc này là sự chọn lựa, cái chúng ta cần quan tâm ngay bây giờ là mỗi cá nhân đơn lẻ [trong một thể chế toàn quyền và toàn trị] đang chọn lựa điều gì. Sự chọn lựa ấy có thật sự được bình đẳng hay không, mới là điều quan trọng. Như đã nói ở trên, vấn đề của chúng ta bây giờ là thật-giả, còn những thứ khác như tai nạn hay an toàn, nguy hiểm hay bình yên, thì chưa cần đề cập.

Nguyễn Đức Tùng: Nhà thơ lừng danh W. C. Williams có nói: không thể tìm ra các tin tức trong thơ, thế nhưng hằng ngày, con người vẫn chết thê thảm vì họ thiếu những điều chỉ tìm thấy trong thơ. Theo anh, đó là điều gì?

Lý Đợi: Con người khùng điên, con người hủy diệt không phải vì thiếu hay thừa thông tin, không phải vì thiếu hay thừa thơ. Thơ và thông tin chẳng có liên quan, hay quyết định gì nhiều trong chuyện này – tất cả phụ thuộc vào 3 chữ mà nhà Phật đã xài rất lâu rồi: Tham – Sân – Si. Không hệ lụy vào 3 chữ này, thế giới không có gì đáng phàn nàn. Nước Mỹ hiện nay là một ví dụ, họ có tập đoàn công nghệ thông tin lớn số 1 thế giới, thế nhưng chiến tranh cũng đến từ họ rất nhiều. Bởi vì họ quá tham sân si nên tìm mọi cách để chinh phục thế giới phục vụ cho mình; bắt thế giới sống giống như mình. Việt Nam hiện nay cũng thế, được xem là Nước Thơ, thế nhưng mỗi ngày có khoảng 40 người bị chết do tai nạn giao thông, hàng chục ngàn người bị cửa quyền ngược đãi. Vấn đề của xã hội hiện nay không phải là có thông tin hay không, mà vấn đề là phải giải quyết, xử lý các thông tin đó như thế nào. Quan trọng hơn nữa, các thông tin đó có chuyên chở những yếu tố nhân vị, có bồi dưỡng tâm tính-nhân tính của con người, có thúc đẩy sự phát triển các môi trường tự do, dân chủ, hướng đến quyền lợi số đông hay không thì mới đáng nói. Mọi sự độc quyền, tập quyền… đều dẫn đến sự mâu thuẫn, sự thê thảm.

Nguyễn Đức Tùng: Cuối cùng, anh nghĩ gì khi trả lời bài phỏng vấn này? Anh sẽ làm gì sau khi bài trả lời phỏng vấn này in trên talawas?

Lý Đợi: Quá dài và quá mệt. Chúng ta đã làm việc một mạch, liên tục trong nhiều ngày. Tôi đã gần như không kiểm soát được vấn đề nên phát biểu lung tung, càng về sau càng nhạt, càng về sau càng muốn quẹo sang hướng khác. Có vẻ như chúng ta đã bị lạc đề, nhưng cũng đâu có sao, đã và sẽ có những người khác đi đúng hơn. Tôi cảm ơn anh vì chúng ta đã làm việc với nhau vui vẻ. Hoá ra, tôi cũng rất hỉ nộ ái ố!

Còn sau bài phỏng vấn này ư? Tôi sẽ làm một tác phẩm để phục vụ cho những người đánh số đề, vốn là những kẻ mơ mộng và thi vị bậc nhất của các khu ổ chuột. Tôi đang sống trong đó mà. Ví dụ như chuyện giải mã các giấc mơ để đánh số. Thử đọc một tác phẩm:

Ỉa đái nằm ngủ

Phải lội xuống ao ỉa: 07
Cứt bê bết đi mưa: 14, 51
Nhiều hũ nước đái: 96, 69
Cứt bám ngón tay: 00, 05
Chuồng xí: 39, 67
Dọn nhà vệ sinh: 26, 62
Ỉa bậy chùi đít không sạch: 86, 98, 49, 39
Cứt đầy ống quần phải thay: 91, 92
Chim ỉa vào người: 27
Trông thấy hai đống cứt tròn: 01, 02, 20
Đi ỉa: 86, 98
Cứt: 63, 13
Đi đổ cứt: 15, 16, 61
Ngủ lang: 96, 86
Ngủ: 04, 54, 92
Nằm đất: 92
Cứt vứt vào nhà: 63
Nước đái có màu: 43
Đi đái dắt: 98, 99
Đi ỉa chảy: 01, 06
Đi ỉa gặp người: 67, 76
Đi ỉa đông người: 08, 09
Cứt bắn lên mặt: 03, 07
Sửa lại hố xí: 79, 70
Chuyển nhà xí: 09


Tin thì tin, không tin thì thôi
Việt Nam nó thế…!
Mọi sự thắng thua, không liên quan đến tôi.


(Trả lời từ La Hán Phòng, 9/2006)

© 2006 talawas


[1]Marek Hlasko (1934 -1969), nhà văn nổi loạn có tiếng nhất của Ba Lan vào thời hậu Stalin. Tiểu thuyết đầu tay của ông, Ngày thứ tám trong tuần, đã được dịch giả Hoàng Ngọc Nguyên chuyển ngữ và đăng trên trang Tiền Vệ