trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
19.10.2006
Nguyễn Hữu Hanh
Làm việc với các nhân vật danh tiếng thế giới – Câu chuyện đời tôi
Hồi ký
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10 
 
Nhưng tôi cũng cảm thấy rất cô đơn, bởi tôi biết mình không thể dựa vào ai khác, và cũng không thể thảo luận hay trao đổi ý kiến với ai, bởi vì chẳng có ai trong chính phủ hiểu biết về lãnh vực này. Dự trữ ngoại tệ của Việt Nam vào lúc đó hầu như chỉ gồm toàn đồng Phật-lăng “nội địa” thu được từ mặt hàng cao su xuất cảng qua Pháp và gạo xuất cảng qua các thuộc địa Pháp ở châu Phi. Đồng Phật-lăng của chúng ta không hoán đổi được; mỗi năm Ngân hàng Quốc gia Pháp (Banque de France) chỉ cho chúng ta đổi một số lượng nhỏ lấy những đồng tiền hoán đổi được như đồng Đô-la Mỹ, đồng Bảng Anh, đồng Mác Đức hay đồng Yên Nhật. Nước Pháp đã trải qua một giai đoạn rối loạn chính trị và bất an xã hội kéo dài, kèm theo những khó khăn rất lớn về mặt kinh tế tài chánh, và đồng tiền Pháp cứ liên tục giảm giá. Cứ mỗi lần giảm giá hay chính phủ Pháp phá giá như vậy thì chúng ta lại mất một tỉ lệ phần trăm trị giá ngoại tệ dự trữ. Như vậy tuy chúng ta đã giành được độc lập chính trị từ tay người Pháp năm 1955, nhưng trên bình diện tiền tệ thì chúng ta vẫn còn là một thuộc địa của Pháp. Không ai trong chính phủ tỏ vẻ quan tâm tới sự bất bình đẳng trong hệ thống chi trả với Pháp, tới sự suy yếu của dự trữ ngoại tệ và sự hao hụt trị giá đồng tiền Việt Nam vì liên hệ với hệ thống tiền tệ của Pháp. Hơn thế nữa, số vàng dự trữ của chúng ta (33 tấn rưỡi) mà quân Pháp lấy được từ tay quân Nhật sau khi Nhật bại trận năm 1945 đã bị chở về Pháp khi lính Pháp rút về nước năm 1955, và chúng ta không có vàng để hỗ trợ cho đồng tiền quốc gia kể từ lúc đó.

Tháng 11/1956 sau khi đã hoàn tất việc tổ chức và sắp xếp lại Ngân hàng Quốc gia, tôi quyết định tiến công vào các vấn đề đã ám ảnh tôi hơn một năm qua: sự cần thiết phải thương lượng một hiệp định tiền tệ mới với Pháp, sự cần thiết phải chuyển số dự trữ bằng đồng Phật-lăng Pháp của chúng ta qua các đồng tiền hoán đổi được để tránh bị hao hụt thêm nữa trị giá dự trữ ngoại tệ của chúng ta, sự cần thiết phải thu hồi số trữ kim đang nằm ở Ngân hàng Quốc gia Pháp, sự cần thiết phải đòi lại số nợ của Ngân Khố Pháp và sự cần thiết phải cải thiện mối quan hệ tiền tệ, tài chánh với Pháp để đòi hỏi viện trợ kinh tế tài chánh của họ; đó là những mục đích chính của Việt Nam trong khi đối thoại với nước Pháp. Sau khi thông báo với Tổng thống Diệm, tôi đã đi Pháp một chuyến để viếng thăm Ngân hàng Quốc gia Pháp và Quai de Rivoli, tức Bộ Tài chánh Pháp, và bắt đầu thăm dò quan điểm của người Pháp về các vấn đề này. Tôi nghĩ rằng với tư cách là cố vấn của Tổng thống, với sự am hiểu vấn đề và nhiệt tâm phục vụ đất nước, tôi có thể đạt được một sự đáp ứng nào đó từ phía nhà cầm quyền Pháp. Tôi đã nhầm. Tôi cần phải có được sự uỷ quyền của Tổng thống Diệm. Nhà cầm quyền Pháp biết rõ rằng Diệm tập trung mọi quyền bính trong tay ông, biết tôi là người cố vấn tin cẩn của ông trong lãnh vực kinh tế tài chánh, nhưng họ không được thông báo chính thức về chuyến viếng thăm và công cán của tôi. Điều này chỉ được thực hiện về sau qua toà đại sứ Pháp ở Sài Gòn.

Đầu năm 1957 đồng Phật-lăng Pháp lại bị phá giá một lần nữa; và một lần nữa không ai trong chính phủ tỏ vẻ quan tâm tới những mất mát to lớn trong dự trữ ngoại tệ do việc đồng tiền Pháp mất giá và phá giá nhiều lần gây nên. Tháng 6 năm 1957, cảm thấy được đồng tiền Pháp sắp sửa bị phá giá một lần nữa, tôi vào gặp ông Diệm và cảnh giác ông vụ hao hụt mất mát dự trữ ngoại tệ đang lăm le xảy đến. Tôi khuyên ông nên rời bỏ khu vực đồng Phật-lăng Pháp, có sự thoả thuận hay không có thoả thuận với Pháp cũng được. Nhưng trước khi dùng tới biện pháp cuối cùng này, chúng ta nên thương lượng để đạt được một hiệp định mới giữa hai quốc gia. Tôi nói với ông Diệm rằng ông phải để tôi đi Paris để nêu những vấn đề này và để bắt đầu thương lượng một thoả ước tiền tệ mới với nước Pháp. Tôi mô tả chi tiết những vấn đề đang tồn đọng giữa hai quốc gia. Ông Diệm lắng nghe một cách cẩn thận đoạn bảo tôi khởi hành càng sớm càng tốt để thực hiện cái công việc khổng lồ như kiểu Hercules trong thần thoại đó. Nhưng nhìn vào mắt ông, tôi có thể thấy là tận đáy lòng ông, ông không tin là tôi có thể một mình làm nổi công việc to tát ấy, không tin tôi có thể gặp một nhân vật nào đó đủ quyền lực và uy tín chính trị ở Pháp để thực hiện sự nhượng bộ đầu tiên và hết sức quan trọng cho một nước thuộc địa cũ. May mắn cho đất nước và cho chính tôi, tôi đã gặp nhân vật ấy ở Bộ trưởng Tài chánh Pháp Antoine Pinay.

Những sự kiện bước đầu chứng tỏ là ông Diệm đã sai lầm, vì vậy ông ủng hộ tôi nhiều hơn nữa và tin tôi nhiều hơn nữa khi tôi hoàn toàn lao mình vào các cuộc thương lượng với các cấp thẩm quyền Pháp, đặc biệt là khi tôi tiếp xúc trực tiếp và thảo luận trực tiếp với ông Antoine Pinay. Được vũ trang bằng sự uỷ quyền chính thức của Tổng thống Diệm, và được tăng thêm sức mạnh nhờ lòng tin cậy của ông, tôi qua Pháp và viếng thăm nhiều lần Ngân hàng Quốc gia Pháp và Bộ Tài chánh Pháp. Lần này các viên chức nhà nước Pháp đã nhận được thông báo chính thức về chuyến viếng thăm của tôi qua toà đại sứ Pháp ở Sài Gòn. Họ tiếp đón tôi rất nồng hậu, nhưng không có ai trong chính quyền Pháp tỏ vẻ muốn dấn thân vào những cuộc thảo luận quan trọng như vậy. Đây không phải là một vấn đề kỹ thuật đơn thuần. Đây là một vấn đề chính trị hết sức phức tạp và hết sức gai góc, bởi vì đây sẽ là lần đầu tiên mà nước Pháp thương thuyết về một hiệp ước tiền tệ với một nước thuộc địa cũ: bất cứ một nhượng bộ nào đối với Việt Nam cũng sẽ bị các nước thuộc địa cũ và các nước trong Liên hiệp Pháp ganh tị và đòi hỏi cho chính mình, nó đánh dấu bước khởi đầu của những thay đổi lớn lao trong hệ thống tiền tệ của Pháp. Cần phải có một con người có quyền lực chính trị to lớn và có rất nhiều can đảm để phát động những bước đi quan trọng như vậy.

Rất may là không bao lâu tôi đã tìm ra con người ấy. Trong thời gian ở Paris, tôi thường lui tới gặp gỡ bạn bè cũ trong giới ngân hàng, hy vọng sẽ tìm được một ai đó có thể giới thiệu tôi với một nhân vật chính trị như vậy. Tôi trò chuyện nhiều lần với viên phó Tổng Giám đốc Đông Dương Ngân hàng, ông René Bousquet, và chúng tôi mau chóng trở thành bạn thân vì có khá nhiều điểm tương đồng. René Bousquet đã là Thứ trưởng Bộ Nội vụ khi mới 35 tuổi. Ông đã bắt đầu một sự nghiệp sáng chói ở cái tuổi mà những chính trị gia và viên chức nhà nước lão thành coi là còn quá trẻ. Khi ông biết rằng tôi được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc Ngân hàng Trung ương và Tổng Giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thương tín, đồng thời là cố vấn Tổng thống ở tuổi 31 thì ông nhìn thấy nơi tôi hình ảnh xa xưa của chính ông những năm 40, và ông cũng thèm muốn được như tôi bởi vì mọi hoàn cảnh đều rất thuận tiện cho sự nghiệp của tôi, trong lúc các biến cố năm 1945 lại đột ngột thay đổi sự nghiệp của ông. René Bousquet chỉ quen biết ông Antoine Pinay một cách gián tiếp, vì ông thân với hai người phụ tá của Pinay. Ông Pinay đã được tướng De Gaulle bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Tài chánh vào đầu năm 1957, nhưng không như các vị Bộ trưởng Tài chánh trước kia, ông tham gia chính phủ với tiếng tăm lừng lẫy của một con người hết sức trung thực, rất can đảm và đầy quyền lực, một người mà nước Pháp rất cần để sắp xếp lại nền kinh tế tài chánh ốm yếu của nó.

René Bousquet lắng nghe bài diễn thuyết chỉ trích dài dằng dặc của tôi về mối quan hệ tài chánh bất công và bất bình đẳng giữa Pháp và Việt Nam và về hệ thống tiền tệ lỗi thời, không thích hợp, mà nước Pháp đã áp đặt lên đất nước chúng tôi. Mặc dù các ý tưởng của tôi không hợp với các quyền lợi ích kỷ của Đông Dương Ngân hàng, lúc bấy giờ vẫn còn nắm giữ một phần đáng kể cái quyền lực tài chánh của nó ở Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa, René Bousquet vẫn lắng tai nghe một cách đầy thiện cảm, bởi vì vào thời ông, ông cũng đã phục vụ lợi ích của nhân dân và vẫn còn giữ nguyên ý thức chính trị ấy mặc dù ông đang ẩn náu trong một tổ chức phi chính trị. Còn tôi thì có cảm giác rõ rệt rằng ông có thể giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc thương thuyết, nên tôi yêu cầu Ngân hàng Quốc gia ký thác một tài khoản mới vào Đông Dương Ngân hàng để tăng thêm uy tín của ông và để ông có thể giúp đỡ tôi mà không phải tỏ ra đi ngược với quyền lợi cơ quan của ông một cách quá đáng. René Bousquet hứa sẽ yêu cầu hai người bạn ông sắp xếp cho tôi một buổi gặp gỡ với ông Antoine Pinay.

Trong khi tôi đang mò mẫm dò đường trong các hệ thống chính trị và tài chánh rối rắm của nước Pháp, thì một người nào đó nói với ông Diệm rằng việc gởi tôi, một tay Tổng Giám đốc quèn, qua Paris để thực hiện một thoả ước tiền tệ phức tạp với nước Pháp, chỉ tốn thời gian vô ích, và tôi không thể nào tìm được một nhân vật Pháp đủ quan trọng và đủ quyền lực để nói chuyện, chứ đừng nói là thương lượng – sau này tôi biết người đó là vị Bộ trưởng phủ Tổng thống, anh ta đã nói những lời này với Nhu, em của Tổng thống Diệm. Ông Diệm bèn gởi điện cho toà đại sứ ở Paris, biểu chuyển cho tôi một thông điệp ra lệnh tôi quay về nước ngay. Nhưng một người em của ông Diệm, Ngô Đình Luyện, người đang làm đại sứ nước Anh, lúc ấy tình cờ có mặt ở Paris. Tôi tới gặp Luyện và kể cho anh ta nghe tất cả công việc móc nối của tôi. Luyện khuyên tôi cứ ở lại để tiếp tục công việc và anh sẽ gọi điện cho Tổng thống Diệm ngay lập tức. Nhưng tôi vẫn cứ rời Paris bay về nước với ý nghĩ phải đương đầu với Diệm và những kẻ phá rối tôi một lần chót cho xong.

Khi tôi gặp Diệm ngày hôm sau, và kể cho ông nghe những gì tôi đã làm ở Paris, ông nhận ra rằng ông đã nghe những lời tố cáo phi lý và dối trá sai lệch. Tôi nói với ông là trong mấy năm qua chúng ta đã mất một số rất lớn trị giá ngoại tệ dự trữ vì việc mất giá liên tục của đồng Phật-lăng Pháp. Sự mất mát này có thể đã lên tới hàng mấy chục triệu Mỹ kim trong những cuộc phá giá đồng Phật-lăng dự trữ ngoại tệ cuả xứ ta. Và tôi nói thêm rằng một vụ phá giá nữa sắp xảy ra, xét theo tình hình của nền kinh tế Pháp trước khi Pinay cải cách tiền tệ. Ông Diệm rất sung sướng khi thấy tôi tìm ra được một người bạn hết sức quyền lực cho Việt Nam; ông bảo tôi là ông cũng muốn gặp ông Pinay lúc nào thuận tiện. Tôi hứa với ông điều này và tôi đã sắp xếp cho ông Diệm gặp ông Pinay vào năm tới, sau một loạt thảo luận với ông Pinay và chính quyền Pháp. Diệm yêu cầu tôi quay trở lại Paris càng sớm càng tốt để tiếp tục công việc và ông trao cho tôi thẩm quyền chính thức để gặp bất cứ người nào tôi muốn và nối lại các cuộc thảo luận giữa hai quốc gia. Một vài ngày sau, khi tôi đang chuẩn bị chuyến đi Paris sắp tới thì đồng Phật-lăng Pháp lại bị phá giá một lần nữa. Diệm gọi tôi vào khen ngợi lời tiên đoán của tôi và ra lệnh cho tôi đi ngay Paris. Bây giờ thì ông đã thấy rõ ràng hơn bao giờ hết sự mất mát dự trữ ngoại tệ, sự cần thiết cấp bách phải thoát khỏi khu vực đồng Phật-lăng Pháp và đề ra một mối quan hệ tiền tệ mới với nước Pháp. Đó là một điều mới mẻ mà ông Diệm mới học được, thậm chí ông không nói cho vị phó Tổng thống của ông biết, càng không nói với các tay Bộ trưởng Tài chánh, Bộ trưởng Kinh tế và Bộ trưởng Ngoại giao. Đó là cách mà ông Diệm cai trị đất nước: ông ta xử lý các vấn đề quốc gia giống như là chuyện riêng của ông. Điều này vừa tốt lại vừa xấu, tốt bởi vì như vậy ông hoàn toàn chú tâm tới vấn đề; và xấu vì ông giữ tất cả mọi chuyện cho riêng ông, không chịu chia sẻ những thông tin mà tôi đưa cho ông với bất cứ ai trong chính phủ, có lẽ chỉ chỉ hé lộ đôi chút cho phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ; nhưng ông cũng nói vắn tắt cho Nhu biết về những gì tôi làm ở Paris, việc này giúp tôi khỏi những chuyện rắc rối do Nhu và Thuần gây ra nữa. Từ nay trở đi tôi được hoàn toàn tự do hành động, điều này rất có ích cho công tác của tôi; và đó là lý do vì sao mà sau này tôi thường nói là những việc làm quan trọng của tôi chẳng bao giờ được chính phủ biết tới, ngoại trừ các vị Tổng thống, và có lẽ ở một mức độ nào đó, là các vị phó Tổng thống và Thủ tướng.

Tôi chờ thêm hai tuần nữa mới trở lại Paris, để cho những xáo trộn gây nên bởi vụ phá giá mới đây được lắng xuống trước khi tôi có thể thảo luận về vấn đề tiền bạc và dự trữ ngoại tệ với chính quyền Pháp. Lần này được võ trang bằng sự tin cậy tuyệt đối của ông Diệm, và được giới thiệu trước bởi một thông điệp của toà đại sứ Pháp gửi cho Tổng trưởng Ngoại giao Pháp về bản chất chuyến công tác của tôi cũng như sự ủng hộ mạnh mẽ của Tổng thống Diệm, tôi được nhà cầm quyền Pháp tiếp đón nồng hậu hơn. Tôi gặp Pierre Sadrin, Giám đốc Tài chánh Hải ngoại Pháp cùng vị phó Giám đốc của ông, Georges Lapeyre, và tôi có thể thấy trong mắt họ niềm tin rằng họ đã gặp được người có thể tin tưởng được với tư cách là phát ngôn viên của nước Việt Nam và của Tổng thống Diệm. Tôi cũng gặp Thống đốc Baumgartner và phó Thống đốc Calvet của Ngân hàng Quốc gia Pháp. Với sự giúp đỡ của René Bousquet và các bạn ông, tôi được hội kiến với ông Antoine Pinay. Ông ta đang bịnh nằm dài trên giường nhưng ông cũng đồng ý tiếp tôi. Tôi được đưa tới tận giường bệnh của ông, chúng tôi thảo luận một danh sách dài các vấn đề giữa hai quốc gia, trong đó có vấn đề dự trữ ngoại tệ Việt Nam, hệ thống chi trả với nước Pháp, số trữ kim của Việt Nam và một số vấn đề khác của Ngân Khố Việt Nam. Nhưng trên hết, tôi yêu cầu đồng Phật-lăng mà chúng ta thu được từ việc xuất khẩu qua Pháp và qua các thuộc địa của Pháp, phải hoán đổi được. Đối với ông Antoine Pinay đây là một điều rất khó khăn và rất nhạy cảm về mặt chính trị, bởi vì việc hoán đổi một phần hoặc toàn bộ đồng Phật-lăng Pháp của một thành viên trong khu vực đồng Phật-lăng Pháp là điều không thể tưởng tượng được vào lúc đó, về cả mặt chính trị lẫn kỹ thuật. Việc nước Pháp nhượng bộ như vậy cho Việt Nam sẽ gây nên một cơn địa chấn chính trị chạy suốt khối Liên hiệp Pháp, bao gồm tất cả các thuộc địa của Pháp và một vài nước thuộc địa cũ đã hình thành nên khu vực đồng Phật-lăng Pháp.

Antoine Pinay yêu cầu tôi đưa cho ông một văn kiện ghi rõ các đề tài thảo luận và hứa sẽ yêu cầu bộ Tài chánh và Ngân hàng Quốc gia Pháp nghiên cứu. Ông hứa sẽ trả lời sớm và nhờ tôi chuyển lời hứa của cá nhân ông về cho Tổng thống Diệm: ông rất muốn giúp đỡ Việt Nam, cho nên ông sẽ vui lòng ký kết một thoả ước tiền tệ mới như Việt Nam đề nghị và sẽ viện trợ kinh tế, tài chánh cho Việt Nam. Nhưng trước đó ông muốn cải thiện mối quan hệ giữa hai nước hiện đang ở mức thấp nhất kể từ sau vụ truất phế Quốc trưởng Bảo Đại và vụ bắt giam hai người Pháp bị buộc tội gián điệp đầu năm 1956. Pinay yêu cầu chính phủ Việt Nam trả tự do cho hai người Pháp như một cử chỉ thiện chí để mở ra một kỷ nguyên quan hệ mới giữa hai quốc gia. Tôi chuyển lời hứa này cho ông Diệm sau khi trở về nước và khuyến cáo chính phủ thả hai người Pháp ra, vì tôi có cảm giác rõ rệt rằng ông Pinay có rất nhiều cảm tình với Việt Nam và ông có đủ quyền lực và tư thế để hỗ trợ được cho đất nước chúng ta rất nhiều.

Vào thời gian tôi tới Paris thì Bộ trưởng Tài chánh Tây Đức cũng đang có mặt tại đó; tôi nghe nói ông Pinay sẽ tiếp tôi ở nhà ông trước khi tiếp vị Bộ trưởng Đức. Khi những người phụ tá của Pinay hỏi ông tại sao ông không tiếp một vị Bộ trưởng Tây Đức trước mà lại tiếp một viên Tổng Giám đốc của một quốc gia bé nhỏ, ông trả lời họ rằng ông không thể quên sự giúp đỡ lớn lao của Việt Nam đã dành cho Pháp suốt 30 năm qua. Ông muốn ám chỉ tới con số hai mươi ngàn người Việt Nam – các nhà khoa học, các giáo sư, bác sĩ, nghệ sĩ vân vân… đang sống và làm việc tại Pháp, và do đó đã giúp cho Pháp bao nhiêu là viện trợ kỹ thuật chuyên môn. Ông nói với các viên phụ tá của ông rằng tôi là người đại diện cá nhân của Tổng thống một nước cộng hoà và ông muốn sớm đi tới một thoả ước với Việt Nam.

Tôi chuyển lời ông Diệm mời ông Pinay qua thăm Việt Nam, và trong chuyến gặp gỡ đầu tiên, hai ông đã thảo luận rất nhiều vấn đề chính trị và rất ít về các vấn đề tiền tệ, bởi vì tất cả mọi việc đã được tôi giải quyết ở Paris với chính quyền Pháp rồi – dưới sự giám sát của Pinay. Pinay hứa sẽ hối thúc việc giải quyết các vấn đề của Việt Nam và tổ chức viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam; còn ông Diệm hứa sẽ thả hai người gián điệp Pháp. Cả hai đều có cảm tình và kính trọng lẫn nhau, nên giữa hai người đã nảy nở một tình bạn chặt chẽ, đem lại nhiều lợi ích cho cả hai nước; quan hệ giữa Việt Nam và Pháp được cải thiện mau chóng. Chỉ ít lâu sau chuyến thăm của ông Pinay, ông Diệm đã thả hai tay gián điệp Pháp; và trong suốt một năm, tôi nhiều lần thăm viếng Paris và có nhiều cuộc gặp gỡ với Pinay, với các phụ tá của ông, các quan chức của bộ Tài chánh và Ngân hàng Quốc gia Pháp. Sau khi đạt được một thoả ước thử nghiệm tôi khuyên Tổng thống Diệm nên mời ông Pinay trở lại Sài Gòn lần nữa để ký kết một thoả ước chính thức về sự hợp tác kinh tế tài chánh giữa hai quốc gia.

Pinay trở lại Sài Gòn lần thứ hai vào cuối năm 1958. Lần này đi trước ông là một phái đoàn do Georges Lapeyre dẫn đầu để hoàn tất văn bản thoả ước ký kết. Phái đoàn Việt Nam do Dương Tấn Tài, cựu Thống đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, dẫn đầu. Hai ông Diệm và Pinay yêu cầu tôi đứng kèm một bên để giải quyết mọi khó khăn có thể nảy sinh từ các cuộc thảo luận. Mặc dù tất cả các vấn đề quan trọng đã được giải quyết ở Paris, chỉ còn vài chi tiết nhỏ về ngôn từ và hình thức, cuộc thảo luận vẫn kéo dài suốt hai ngày, phần lớn vì tánh cố chấp của Tài; một lần nữa ông ta lại bị cuốn vào các chi tiết lặt vặt mà quên những điều chính yếu. Việc trì hoãn này có thể làm xáo trộn chương trình của hai ông Diệm và Pinay, và vượt quá thời hạn buổi lễ ký kết. Vào ngày thứ hai, sau những cuộc nói chuyện dài như môn chạy ma-ra-tông từ giờ này qua giờ khác trong khi ngồi chờ văn bản chính thức, ông Pinay yêu cầu Diệm cho gọi tôi vào, ông nói với tôi ông không thể chờ lâu hơn nữa và tôi phải bước vào, kết thúc văn bản thoả ước đem ra cho ông ký trong vòng một tiếng đồng hồ. Tôi bước vào phòng họp và thấy Tài đang tranh luận về một số từ ngữ và dấu chấm câu. Tôi nắm lấy toàn bộ sự vụ, đảm nhận việc quyết định cuối cùng, ra lệnh đánh máy bản văn chính thức rồi đem ra phòng Tổng thống. Hai ông Diệm và Pinay đặt bút xuống ký, đoạn bắt tay nhau và chúc tụng nhau về một kỷ nguyên hợp tác mới giữa Pháp và Việt Nam.

Sau nhiều năm làm việc chung với tôi vì lợi ích của hai đất nước, Pinay đã trở nên một người bạn cố cựu của tôi suốt hơn 30 năm trời. Khi trở thành Thủ tướng nước Pháp, ông đã dành cho tôi và các bạn bè tôi một sự giúp đỡ hết sức quý giá và hào phóng. Năm 1975, sau khi miền Nam Việt Nam thất thủ, tôi trở nên người không có tư cách công dân; tôi không có quốc tịch, cũng chẳng có hộ chiếu. Tôi vẫn còn visa GIV để vào nước Mỹ, vì tôi vẫn còn làm việc cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, và tôi vẫn có thể sử dụng giấy thông hành (laissez-passer) của Liên Hiệp Quốc, nhưng nó chỉ được dùng cho công tác chính thức nên tôi không thể đi lui tới các nước ngoài cho công việc cá nhân. Tôi viết thư cho Thủ tướng Pinay đề nghị ông cho tôi nhập quốc tịch Pháp. Pinay chỉ thị cho Bộ Nội vụ Pháp nghiên cứu lại luật pháp nước Pháp coi có thể cấp quốc tịch Pháp cho một người nước ngoài không cư trú ở Pháp hay không. Kết quả là, đối với người nước ngoài cư trú ở Pháp thì việc nhập quốc tịch Pháp dễ dàng; nhưng với người nước ngoài không cư trú ở Pháp thì không được. Đây là một trường hợp mới!

Nhưng rồi sau đó họ khám phá ra rằng chính phủ có thể cấp quốc tịch Pháp cho những trí thức nước ngoài làm việc trong các tổ chức quốc tế mà nước Pháp là một thành viên. Họ báo cho tôi biết rằng Bộ Nội vụ sẽ thu xếp trên cơ sở pháp lý ấy để tôi nhập quốc tịch Pháp. Đồng thời ông Pinay còn chỉ thị cho ông quản trị viên Pháp ở IMF và World Bank mở rộng trường hợp này cho tất cả các nhân viên Việt Nam thiếu tư cách công dân đang làm việc tại hai tổ chức quốc tế ấy. Một trong hai điều kiện để được hưởng quy chế đặc biệt ấy là người được cứu xét phải qua trường lớp đào tạo của nền giáo dục Pháp; ông Pinay biết rằng tôi được đào tạo trong hệ thống giáo dục của Pháp ngay từ hồi nhỏ, và tôi đã tốt nghiệp trường Cao đẳng Thương mại Pháp (Hautes Etudes Commerciales) với “titre francais” (thi đậu như học sinh người Pháp) – Có nhiều sinh viên ngoại quốc tốt nghiệp trường H.E.C. với tư cách “sinh viên ngoại quốc”, không bắt buộc phải được đào tạo toàn diện theo nền giáo dục Pháp. Nhưng nếu vị quản trị viên Pháp ở IMF-IBRD không thẩm tra kỹ lưỡng điểm này thì một vài người Việt Nam không học trong hệ thống giáo dục của Pháp có thể nhập quốc tịch Pháp theo lối cửa sau, và kết quả là sẽ có một vài công dân mới quốc tịch Pháp mà lại không biết nói tiếng Pháp.

Lúc đó tôi không biết những người Việt Nam làm việc tại tổ chức Liên Hiệp Quốc có được hưởng quy chế đặc biệt này không. Mãi sau này tôi mới được Trần Lê Quang cho biết là nhân viên Việt Nam ở Liên Hiệp Quốc và các cơ quan quốc tế khác không dược hưởng quy chế ấy. Cho nên đó là một sự chiếu cố rất lớn của ông Pinay đối với tôi; và ông còn dang rộng ra tới cả những người Việt Nam khác ở IMF và World Bank, nhưng những người này không biết đặc ân ấy là do ai và từ đâu tới nữa. Ngoại trừ một mình tôi ra, không ai cám ơn ông Pinay cả! Nếu tôi biết tất cả những chuyện này thì tôi đã yêu cầu ông giúp cho những người Việt Nam làm việc ở Liên Hiệp Quốc và các cơ quan quốc tế khác nói trên; chắc chắn ông không từ chối. Ông đã giúp đỡ tôi nhân danh tình bạn lâu bền giữa chúng tôi, nhưng ông cũng giúp những người khác trên nguyên tắc sống mà ông đã cho tôi hay khi chúng tôi gặp nhau lần đầu tiên trong phòng ngủ của ông – và ông đang nằm trên giường bệnh, tại căn nhà ở đại lộ Foch, thủ đô Paris. Ông đã xem 20.000 người Việt Nam, gồm các nhà khoa học, giáo sư, nhân viên kỹ thuật... lúc ấy đang sống và làm việc ở Pháp là một sự hỗ trợ kỹ thuật của Việt Nam dành cho nước Pháp kể từ thế chiến thứ II. Điều này cho thấy ông là một nhà lãnh đạo lớn, nhìn xa trông rộng. Không có một nhà lãnh đạo nào ở nước Pháp cũng như các nước khác có một cái nhìn về thế giới xuất sắc như ông, có tâm hồn cao quý như ông, lúc ấy, bây giờ, và có lẽ về sau.

Tôi cũng yêu cầu ông Pinay hỗ trợ tôi đưa hai người bạn ra khỏi Việt Nam và cho họ vào quốc tịch Pháp. Đầu tiên ông can thiệp với chính quyền Hà Nội cho người bạn thân và phụ tá của tôi là Nguyễn Tăng Kim, và Kim được chính phủ Việt Nam cho phép di trú sang Pháp. Rồi ông chỉ thị cho cơ quan nhập cư Pháp mau chóng tiến hành các thủ tục pháp lý và hành chánh cho Kim nhập quốc tịch Pháp. Nhưng sau đó đối với Võ Long Triều thì ông không thành công bởi vì vào một lúc nào đó, quan hệ giữa Việt Nam và Pháp trở nên khó khăn hơn do vấn đề mỏ than ở Hòn Gai. Mãi về sau khi quan hệ Việt - Pháp được cải thiện, và với sự giúp đỡ của những người bạn học cũ và vị Thủ tướng mới của nước Pháp, Võ Long Triều mới được thả ra và sang Pháp.

Sau khi ông rời khỏi cái chức vụ cuối cùng là “Trọng tài Tối cao” (arbitre de la nation) giữa nhân dân và chính phủ, tôi đã tới thăm ông tại thành phố Saint Chamond, nơi trước đây ông làm thị trưởng và là nơi phát tích quyền lực chính trị của ông. Ở cái tuổi 93 ông vẫn còn rất khoẻ mạnh. Ông rất vui khi gặp tôi và nhắc lại những gì mà hai chúng tôi đã cùng làm với nhau. Tình bạn này còn kéo dài sau khi tôi rút khỏi tất cả mọi chức vụ và rời sân khấu quốc tế .

Sau khi bản thoả ước chính thức được ký kết, tôi còn phải theo dõi kỹ lưỡng các điều khoản để chắc chắn được thực hiện đúng đắn, vì vậy tôi thường qua Paris để bàn cãi các chi tiết với nhà chức trách Pháp. Cuối cùng nước Pháp đã nhượng bộ Việt Nam nhiều điều khoản vô cùng quan trọng trên mặt kinh tế tài chánh, cũng như cấp cho chúng ta những khoản viện trợ kinh tế rất quan trọng về sau:

  1. Tôi đã đòi được đồng Phật-lăng có thể hoán đổi làm đồng tiền chi trả cho mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam qua Pháp; đồng Phật-lăng mới này có thể đổi qua đồng Đô-la Mỹ, đồng Mác Đức, đồng Bảng Anh hay đồng Yên Nhật… và do đó tránh được tình trạng hao hụt trị giá dự trữ ngoại tệ của chúng ta trong trường hợp đồng Phật-lăng mất giá hay bị phá gíá. Đây là một nhượng bộ hết sức quan trọng của chính phủ Pháp và một thành công rất lớn lao cho đất nước, vì điều này sẽ mở đường cho bao nhiêu điều lợi khác trong tình hình tài chánh hải ngoại cho xứ sở.

  2. Với số ngoại tệ có thể hoán đổi được, Việt Nam đương nhiên bước ra khỏi khu vực đồng Phật-lăng Pháp, điều mà tất cả các thuộc địa Pháp rất mong muốn, nhưng cũng rất khó đòi hỏi Pháp nhượng bộ. Các nước độc lập mới, thuộc địa cũ cuả Pháp, cũng bắt chước Việt Nam mà đòi Pháp cho đồng Phật-lăng hoán đổi nhưng cũng không được chấp nhận dễ dàng. Sau đó Việt Nam đương nhiên gia nhập khu vực đồng Đô-la Mỹ. Và như vậy chúng ta có thể chọn loại ngoại tệ thích hợp cho mặt hàng xuất khẩu, rộng tay hơn trong chính sách xuất nhập khẩu, và có tự do hơn trong vấn đề quản trị dự trữ ngoại tệ quốc gia. Từ đó xứ sở không còn mất giá trị dự trữ ngoại tệ mỗi khi chánh phủ Pháp phá giá đồng Phật-lăng nữa, vì lúc đó, khi Ngân hàng Quốc gia nhận thấy đồng tiền Pháp bị mất giá, thì chúng tôi hoán đổi ra một tiền ngoại tệ mạnh hơn.

  3. Tôi thu hồi được 33 tấn rưỡi vàng dự trữ của Việt Nam, do quân đội Pháp đem về Pháp. Số vàng này đã nằm trong Ngân hàng Trung ương Pháp và sau khi chánh phủ Pháp nhượng bộ điều này số vàng đó đã được ký thác dưới tên Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở trong hầm chứa của Ngân hàng Quốc gia Pháp. Như vậy chúng ta có thêm nhiều vàng hỗ trợ cho đồng tiền của chúng ta. Đó là một số dự trữ kim ngân khá lớn cho một nước nhỏ bé như Việt Nam. Đây cũng là một sự nhượng bộ rất lớn của Pháp, và chỉ có ông Antoine Pinay, lúc âý đang còn là Tổng trưởng Tài chánh mới dám làm, vì ông có một sức mạnh chánh trị rất lớn lúc đó.

  4. Tôi đòi lại được số tiền mà Ngân khố Pháp nợ Ngân khố Việt Nam; điều này thì không lấy gì làm khó khăn cho lắm, vì những sổ sách vẫn còn đó và số tiền cũng không lớn lắm đối với xứ Pháp.

  5. Tôi tranh thủ được số viện trợ kinh tế mà Thủ tướng Antoine Pinay đã hứa cho Việt Nam, mở đường cho những đợt viện trợ tài chánh sau này của Pháp. Tôi cũng phải công nhận đây là một sự giúp đỡ rất quan trọng và một quyết định rất khó khăn cho ông Pinay, vì lúc ấy nước Pháp mới bước ra khỏi một thời gian khá dài khó khăn về mặt kinh tế cũng như mặt chính trị và cũng đang còn ở trong một tình trạng rất éo le về mặt tài chánh. Chỉ có ông Pinay mới dám giúp cho Việt Nam như vậy, vì sức mạnh chính trị của ông đã tăng lên rất nhiều sau khi ông nhận chức Thủ tướng.

Tất cả những kết quả ấy, thu được trong khoảng thời gian từ 1955-1962, không phải dễ dàng. Về sau nhiều khi tôi nghĩ đến những gì tôi đã thương thuyết được với chánh phủ Pháp và dành lại cho đất nước lúc đó, tôi cảm thấy mình đã đem lại cho nước nhà, vừa mới độc lập, bao nhiêu điều quan trọng; vậy mà bên cạnh, không có một phái đoàn nào giúp đỡ, và sau lưng, ở nước nhà, không có một Bộ trưởng hay Thống đốc nào, có trách nhiệm về những vấn đề này, có một tí hiểu biết để giúp. Tôi không khỏi ngạc nhiên khi, quay lưng nhìn lại, thấy mình đã làm được nhiều như vậy, nhất là lúc phải đương đầu với bao nhiêu nỗi khó khăn về phía Pháp cũng như bên phía Việt Nam. Nhưng trái lại với lẽ thường tình, khó khăn về phía Việt Nam, nhiều hơn là về phía Pháp! Đáng lý ra, phần khó khăn về phía Pháp phải nhiều hơn, vì đây là lần đầu tiên Pháp phải giải quyết những vấn đề hết sức quan trọng cho một thuộc địa cũ; hơn nữa các vấn đề còn có một màu sắc chính trị rất tế nhị, có thể có hậu quả rất nguy hại cho Pháp trong khuôn khổ nền thuộc địa còn nguyên lúc đó. Không một lời khen, không một lời cảm ơn, ngay cả ông Diệm cũng vậy, chỉ có lòng tin hoàn toàn của ông - mặc dầu sau này tôi mất hết tin tưởng nơi ông… Chỉ có những người khác, ghanh ghét đố kị và phá phách công việc của tôi mà thôi. Nhưng tôi cũng phải nhận một điều là nếu không có ông Diệm, tôi đã không bao giờ làm được việc. Cũng như nếu không có ông Pinay, tôi cũng đành phải bó tay mà thôi.

Về phía Việt Nam các bộ trưởng hay thống đốc các bộ liên hệ không đủ sự hiểu biết các vấn đề trong ngành tài chánh hải ngoại, dự trữ ngoại tệ, hoán đổi tiền tệ, nợ bên ngoài, của đất nước, không thể phân tách những sự kiện này, nên nói chung, không làm gì được để giúp đất nước thành một quốc gia độc lập trên mặt kinh tế và tài chánh và nói riêng, cũng không giúp gì cho công việc của tôi được. Bao nhiêu quan chức của các bộ liên quan ganh tị với sự thành công và uy tín của tôi, thường hay tạo ra rất nhiều khó khăn cho công việc của tôi. Nhưng tôi cũng được một phần an uỉ, là các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đang tìm kiếm những người có khả năng, đã quan sát công việc của tôi ở trong nước một cách kỹ lưỡng khi tôi thiết lập các tổ chức kinh tế tài chánh mới và hệ thống tài chánh hải ngoại cho Việt Nam; họ cũng thấy rõ những quyền lợi tối quan trọng trong cuộc thương lượng của tôi với chính quyền Pháp.

Thật ra, tôi cững không trách những vị đốc phủ sứ, những quan chức Việt Nam, các vị có bằng cao cấp mà không đúng ngành chuyên môn, vì dưới chế độ thực dân, những vấn đề quan trọng của một nước độc lập như tôi kể trên, đều được chánh phủ “mẫu quốc” lo lắng, nghiên cứu, thi hành và giải quyết ở Paris, và nước thuộc điạ không được dự vào một phần nào trong việc quản trị và thi hành những chánh sách đó; ngay cả những quan chức người Pháp ở thuộc điạ cũng không được hoàn toàn hiểu rõ và chỉ biết thi hành những mệnh lệnh của Paris gởi về mà thôi. Cho nên khi Tổng thống Diệm đặt những vị đốc phủ hay quan lại hay thạc sĩ, tiến sĩ, Ph.D vào những địa vị đứng đầu một cơ quan quan trọng mới được thành lập, thì họ mù tịt, không biết tìm đâu ra những trách nhiệm của họ và cách thi hành nhiệm vụ. Tôi được may mắn hơn, là tôi học hỏi đúng ngành, gặp những người Pháp và ngoại quốc trong nghề, trong khi đi thương thuyết với các phái đoàn chuyên viên, những vấn đề chánh yếu của đất nước và tôi luôn luôn cố gắng tìm hiểu thêm các vấn đề khi được chánh khách ngoại quốc thết đãi; đối với tôi một bữa tiệc tôi mời họ hay họ mời tôi, là một dịp để học thêm, tìm hiểu thêm các vấn đề quan trọng cho đất nước; cũng như khi đang còn đi học đại học, tôi thường dùng những tháng hè để đi tập sự và học hỏi thêm, chứ không đi chơi hay đi nghỉ mát như những sinh viên Việt Nam khác. Tôi vừa làm vừa học, và nhờ có căn bản học hành chuyên môn khá cao, tôi đã tiến lên rất nhanh trong những ngành chuyên môn, lắm lúc vượt hẳn những quan chức ngoại quốc ngồi đối diện với tôi.

Việt Nam là nước thuộc địa Pháp đầu tiên giành được độc lập, cũng là nước thuộc địa đầu tiên nhận được những nhượng bộ kinh tế tài chánh từ phía mẫu quốc. Các nước thuộc địa khác của Pháp và các quốc gia mới dành độc lập sau này cũng theo dõi công việc của tôi ở Paris rất kỹ; những nhân viên cao cấp của họ đã cố gắng tìm đến tôi để tìm hiểu những gì tôi đã đòi hỏi và đã nhận được cho xứ sở. Theo lệnh của chính phủ Ma-rốc, viên Thống đốc Ngân hàng Trung ương Ma-rốc đã chính thức viết thư hỏi tôi làm sao có thể thu được nhiều sự nhượng bộ như vậy từ phía Pháp. Tôi từ chối không trả lời vì sợ làm Thủ tướng Antoine Pinay không vui khi đem tiết lộ những cuộc thương thuyết bí mật giữa hai đất nước.

Nhưng trong khi tập trung vào các vấn đề tiền tệ cần giải quyết với Pháp, tôi vẫn phải tiếp tục làm việc rất nhiều để phát triển Ngân hàng Việt Nam Thương tín lúc bấy giờ đã trở thành ngân hàng lớn nhất Việt Nam. Đồng thời cũng trong thời gian này tôi còn phải điều hành Ngân hàng Quốc gia mà tôi đã tổ chức lại từ trên xuống dưới sau vụ xì-căng-đan 1956. Với tư cách là Tổng Giám đốc điều hành dưới quyền một vị Thống đốc danh nghĩa vốn là một chính trị gia được bổ nhiệm, tôi hiểu rõ rằng tôi sẽ phải chịu tất cả mọi trách nhiệm nếu có gì xảy ra, vì vậy tôi rất cẩn thận trong khi thi hành nhiệm vụ và tự mình giám sát tất cả mọi chuyện. Người ta cảm thấy như có tôi hiện diện ở khắp nơi trong ngân hàng; tôi cũng đặt cho mình quy luật là phải thăm tất cả các sở của ngân hàng ít nhất là hai lần mỗi tháng.

Trong thời gian này tôi tranh thủ dùng những chuyến thăm ở nước ngoài để tiếp xúc với các nhà đầu tư hải ngoại: tôi thành lập công ty Cogido, một công ty giấy với sự hợp tác tài chánh và kỹ thuật của một nhóm kỹ nghệ gia Ý, và một công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm (VAR) liên doanh với một công ty bảo hiểm của Pháp và một công ty Thuỵ Sĩ. Như vậy trong suốt khoảng thời gian trước khi rời khỏi chính quyền năm 1962, tôi phải làm việc rất nhiều giờ mỗi ngày và một tuần làm 6 ngày, tình trạng này đã gây nên một số biến cố trong gia đình tôi, rồi các biến cố này đã tác động không tốt lên sự nghiệp tôi.

Tôi cũng dẫn đầu các cuộc thương thuyết với nước Đồng minh chính của Việt Nam như Mỹ và tham gia vào các cuộc thảo luận với các nước khác như Nhật và Tây Đức. Tôi chịu trách nhiệm về tất cả mọi khía cạnh chuyên môn trong quan hệ với các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, và sau này với Ngân hàng Phát triển châu Á, một ngân hàng mà tôi có góp phần sáng lập. Tôi được biết nhiều trong các giới kinh doanh quốc tế; và tất cả các phái đoàn nước ngoài khi thăm viếng Việt Nam đều tìm cách gặp tôi, trước khi gặp các bộ trưởng hoặc phái đoàn có liên quan. Tôi nhận được đủ thứ lời mời từ các chính quyền nước ngoài, các cơ quan và các tổ chức quốc tế. Tôi còn nhớ năm 1963 khi tôi ra nước ngoài để tránh bị ông Diệm bắt gia nhập vào một chính phủ có thành phần chuyên môn, trong một buổi họp mặt bạn bè ở Tokyo, một vài người Mỹ và một vài người Nhật đã hỏi làm sao tôi có thể làm được nhiều việc như vậy, cả ở trong và ngoài nước, trong một khoảng thời gian chỉ vài năm, tôi đã trả lời là tôi gặp rất nhiều may mắn. May mắn vì là người đại diện cho Tổng thống của một nước, điều này mở ra cho tôi nhiều cánh cửa. May mắn được toàn quyền thương thuyết không cần phải tham khảo ai – vì cũng không có ai hiểu biết về lãnh vực tôi đang làm – điều này đã giúp tôi đỡ tốn thời gian rất nhiều. Còn ở nước ngoài thì tôi may mắn có rất nhiều bạn bè đang nắm giữ những chức vụ cao giúp đỡ. Tôi cũng may mắn là không có ai là thủ trưởng thực sự, như vậy tôi không cần phải báo cáo cho ai hết, vì đứng trên tôi chỉ có các chính trị gia được bổ nhiệm. Khi tôi qua Paris năm 1965 một vài người bạn Pháp đã hỏi tôi những câu tương tự, và tôi đã nhắc lại những cuộc thảo luận với Thủ tướng Pinay, người đã làm cho công việc của tôi ở Paris dễ dàng đi rất nhiều với uy tín chính trị và tình thân hữu của ông dành cho đất nước Việt Nam.

Thế nhưng mải lo cho những vấn đề sống còn của một quốc gia mới thành lập, tâm trí bị thu hút vào chuyện bảo vệ và thúc đẩy các quyền lợi của đất nước, tôi thường quên mất những mối quan hệ cá nhân trong công việc hàng ngày. Tôi đã tạo được tên tuổi cho mình cả ở trong lẫn ngoài nước, nhưng tôi cũng đã làm mích lòng một số người và tạo ra một số kẻ thù ở trong và ngoài chính quyền. Trừ những người làm việc gần gũi với tôi và những người hiểu rõ tôi, còn thì người ta không thích tánh thẳng thắn của tôi, thậm chí không thích cả sự thanh liêm của tôi và chắc chắn là không thích quyền lực của tôi. Nhưng đa số vẫn phục sự hiểu biết chuyên môn của tôi và kính trọng tính trung thực của tôi. Đám thương gia Chợ Lớn nói với nhau rằng có lẽ tôi là người duy nhất trong chính phủ Việt Nam thực sự lương thiện, nhưng họ cũng nói thêm là khó mà đối phó với tôi và không ai có thể đánh lừa tôi được; tôi hiểu rõ công việc của mình và không chịu nhượng bộ dễ dàng.

Xung quanh ông Diệm và anh em của ông có một lô người bám theo kiếm chác. Tôi thường nhận được lời yêu cầu giúp đỡ họ nhưng tôi thường từ chối bởi vì cách làm của họ không chính đáng và những điều họ đề nghị chẳng đúng phương thức làm ăn. Người đứng đầu của cả nhóm này là Ngô Đình Thục, anh cả của ông Diệm; Diệm rất thương và kính trọng ông ta. Mặc dù là một giám mục Thiên Chúa giáo, Thục rất sát trần tục, ông ta dính líu vào một lô chuyện làm ăn dưới cái cớ là gây quỹ để mở mang trường đại học Đà Lạt, ngôi trường mà ông ta bảo trợ. Một người trong đám phụ tá của ông ta từng tới gặp tôi nhiều lần để xin vay tiền cho một trong các công ty của Thục chuyên khai thác lâm sản và xuất khẩu gỗ. Bởi vì cách hoạt động của các công ty này cũng không hợp thức cho lắm và nguồn tài chánh của nó cũng không ổn định nên tôi buộc phải từ chối. Hình như Thục có than phiền với Diệm, vì một ngày nọ ông Diệm bảo tôi nên giúp đỡ cho người anh của ông bởi vì ông ấy đang cố phát triển giáo dục cho dân chúng. Tôi rất ngạc nhiên khi nghe điều này, bởi ông Diệm không bao giờ can thiệp vào việc làm ăn của ai và cũng không bao giờ lên tiếng xin chiếu cố cho ai. Tôi nói với ông Diệm nếu các công ty của ông Thục làm ăn bình thường như các doanh nghiệp khác và tài chánh ổn định hơn thì tôi sẽ rất vui lòng giúp đỡ, bởi vì Ngân hàng Việt Nam Thương tín của tôi có nhiệm vụ phải hỗ trợ cho các công ty Việt Nam. Nhưng đám người điều hành các công ty của Thục lại ưa hoạt động bằng cách đòi được đặc ân và quyền ưu tiên hơn là hoạt động bình thường, và vì vậy tôi bắt buộc phải từ chối. Có lẽ tôi là người duy nhất dám nói “không” với Diệm; tất cả mọi người đều quỵ luỵ trước ông ta (có lẽ chỉ trừ Nhu và Thục), không ai dám từ chối ông điều gì. Đám phụ tá của Thục không bao giờ tới gặp tôi nữa. Trong chuyện này tôi có dịp chứng kiến sự chính trực và liêm khiết của Diệm: kể từ ngày đó ông không nhắc tới chuyện này nữa. Tôi luôn luôn kính trọng ông Diệm vì sự thanh liêm của ông, nhưng sau khi Hoàng Khắc Thành lên thay tôi cầm đầu Ngân hàng Việt Nam Thương tín, thì Thục và đám bộ hạ như Nguyễn Văn Bửu đâm ra được nhiều sự dễ dãi khi xin hỗ trợ của ngân hàng – gần như không giới hạn. Dưới sự điều hành của Thành, phương thức hoạt động của ngân hàng đã thay đổi một cách triệt để; anh ta sẵn sàng thoả mãn bất cứ yêu cầu nào của những người có quyền thế, không cần biết nó có chánh đáng hay không.

Thành vốn tốt nghiệp cùng trường với tôi, trường H.E.C., và được tập sự vài năm ở Đông Dương Ngân hàng. Sau đó anh ta về làm việc ở Ngân hàng Việt Nam Công thương, một ngân hàng thương mại nhỏ, và được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc, nhưng vài tháng sau thì anh ta bị sa thải, lý do chánh thức đưa ra là vì thiếu năng lực. Tôi biết rằng anh ta rất có năng lực nhưng anh ta rất hống hách và tự cao. Sau đó tôi mới biết anh ta bị sa thải vì một lý do khác. Anh ta tánh tình nóng nảy, thường nhục mạ nhân viên bằng tiếng Pháp, với một ngôn ngữ rất thô lỗ; ban giám đốc và nhân viên đã than phiền rất nhiều với hội đồng quản trị, và hội đồng đành phải sa thải anh ta. Tôi nghĩ rằng Việt Nam còn rất thiếu chuyên viên và người có năng lực, không thể để mất một người như vậy, vì vậy tôi đã kêu anh ta vào và cho anh ta làm phụ tá cho tôi, với chức Tổng kiểm soát. Kể từ đó anh ta không nói năng thô lỗ nữa; và tôi cũng tìm mọi cách để tránh cho anh ta đụng chạm với nhân viên. Anh ta làm việc lặng lẽ trong văn phòng, tỏ ra khiêm tốn, nhưng lại rất khó khăn với khách hàng, họ đều ghét làm việc với anh ta. Vì vậy hầu như tôi chỉ sử dụng anh ta cho công việc nội bộ và không để anh ta tiếp xúc nhiều với khách hàng. Anh ta cứ luôn miệng nói sẽ vào một nhà thờ đi tu. Nhưng sau này khi tôi đã từ chức khỏi Ngân hàng Việt Nam Thương tín và anh ta lên thay tôi theo lệnh của Nhu vào năm 1961, anh ta hoàn toàn thay đổi phong cách và bắt đầu chơi trò chính trị. Anh ta trở nên nhiều tham vọng; và bắt đầu tán tỉnh những người có quyền để dễ thăng chức. Anh ta chấp nhận làm bất cứ điều gì để làm vừa lòng cấp trên. Sau khi tôi rút lui khỏi Ngân hàng Quốc gia cũng đóng tại cơ sở này, anh ta lại càng được tự do hơn, thay đổi hoàn toàn chính sách của ngân hàng để có thể đáp ứng yêu cầu đám người có quan hệ với gia đình ông Diệm. Anh ta cố hết sức để làm vừa lòng Nhu, người em và là cố vấn chính trị đầy quyền lực của ông Diệm, và Nguyễn Đình Thuần, Bộ trưởng phủ Tổng thống; thế rồi anh ta cưới một cô gái do Nhu giới thiệu. Ta có thể thấy tham vọng và danh vọng có thể thay đổi một con người như thế nào! Từ một con người khiêm tốn luôn miệng nói đi tu, anh ta bắt đầu chơi trò chính trị, xun xoe với cấp trên, rồi sau đó lấy vợ! Anh ta đi lệch khỏi các chính sách mà tôi đã vạch ra cho ngân hàng, anh ta càng ngày càng nới rộng các khoản tín dụng cấp cho đám bạn bè dòng họ của Nhu, những người mà trước đó tôi đã từ chối không cho vay. Anh ta giúp đỡ Ngô Đình Thục, cũng lại là người anh của Diệm mà tôi đã từ chối. Tất cả những con người khả nghi chung quanh Diệm và gia đình ông giờ đây có thể tới xin anh ta vay tiền. Ngân hàng đã mất đi tính chất ban đầu của nó và càng ngày càng trở nên một chỗ nương tựa chính trị và tài chánh cho Đảng Cần lao của Nhu và các thành viên trong gia đình Diệm. Những người tốt trong ban giám đốc ngân hàng rất thất vọng và than phiền rất dữ, những thành viên có mưu đồ chính trị bắt đầu ngoi lên; tính chất chuyên môn của ngân hàng mất dần.

Thành dùng đạo Thiên Chúa để cầu cạnh Diệm, Nhu và Thục. Anh ta chính là người đã làm cho ông Diệm một đôi khi quên mất sự thanh liêm chính trực của mình. Nếu ông Diệm can thiệp vào để đòi đặc ân cho đám bà con, điều này tôi không chắc lắm, thì tôi cũng không trách ông Diệm. Tôi chỉ trách Hoàng Khắc Thành, kẻ đã mở toang cánh cửa tham nhũng cho cả gia đình ông Diệm. Sau khi đã mua chuộc được sự giúp đỡ của Diệm và Nhu bằng cách đó, anh ta trở nên rất hách dịch, cả ở trong lẫn ngoài Hội đồng Tiền tệ Tối cao. Một ngày kia phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, vốn biết anh ta đã từng làm việc dưới quyền tôi, đã hỏi tôi tại sao anh ta lại hách dịch như vậy và khi anh ta làm việc với tôi thì anh ta có hách dịch như vậy không. Tôi nói với Thơ rằng trước khi anh ta tới ngân hàng tôi, thì anh ta làm việc cho một ngân hàng khác và rất hách dịch, vì vậy anh ta bị đuổi; giờ đây anh ta chơi trò chính trị và đã leo lên một địa vị cao mới, anh ta nghĩ rằng mình đã thành đạt và đã có thể coi thường thiên hạ. Đó là lý do vì sao anh ta bị tống vô tù sau khi Diệm bị lật đổ bởi cuộc đảo chánh 1963, trong lúc Thơ vẫn an toàn và được các Tướng lãnh bầu lên làm Thủ tướng.

Sau khi trốn khỏi Việt Nam, với sự giúp đỡ của một đồn điền cao su Pháp, Thành đến làm việc ở xứ Côte d’Ivoire, trong chương trình viện trợ kỹ thuật của Pháp. Tôi nghe nói rằng anh ta rất chua chát và kịch liệt chỉ trích Việt Nam, quê hương của chính anh ta, vì đã tống anh ta vào ngục. Tôi luôn luôn coi anh ta là một tay kỹ thuật giỏi và đất nước chúng ta trong tương lai có thể cần đến những người như vậy. Vì thế nên mặc dù những điều xấu xa anh ta đã làm với tôi, với Ngân hàng Việt Nam Thương tín và với ông Diệm, tôi vẫn viết cho anh ta một lá thư đề nghị anh ta quên hết mọi chuyện không may, bởi vì tôi vẫn mong một ngày nào đó anh ta trở về phục vụ đất nước. Anh ta không thèm trả lời. Thật đáng ngạc nhiên khi thấy tâm tính con người khó sửa đổi đến mức như vậy! Anh ta rơi xuống vũng bùn. Một người khác chìa tay ra để kéo lên. Anh ta từ chối. Phải chăng vì cái "Tôi" quá lớn? Tôi nghe kể lại là khi anh ta nhận được thư tôi, anh ta đã chửi rủa om sòm. Một vài người bạn cho tôi biết sở dĩ anh ta nổi giận là vì vào năm 1967 tôi đã đóng cửa mỏ than Nông Sơn, vốn do người anh của anh ta là Hoàng Kính quản lý. Vào một thời gian nào đó trong năm 1957 ông Diệm đã phong Kính làm Tổng Giám đốc, khi ông quyết định mở lại mỏ than này. Nhưng mọi chuyện đã thay đổi từ đó tới giờ và cái địa điểm này vốn nằm khuất mịt mùng trong rừng rậm đã hoàn toàn bị Việt cộng cô lập và chính phủ phải duy trì một đồn lính lớn ở đó để bảo vệ nó. Vì lượng than sản xuất quá nghèo nàn mà việc chuyên chở lại quá bấp bênh và quá đắt, nên tôi quyết định đóng cửa nó, sau một chuyến thanh tra chớp nhoáng hết sức nguy hiểm.

Tôi rất vui mừng với vị trí của mình bên cạnh ông Diệm, với việc tôi có thể phục vụ đất nước mà không để bị dính vào chuyện chính trị như những người khác; nhưng nó cũng nhiều lần làm tôi phải nhức đầu. Từ năm 1960, những cơn nhức đầu của tôi trở thành trầm trọng khi ông Diệm càng ngày càng trở nên độc tài với người ngoài và càng dễ dãi đối với gia đình ông. Con người bí mật Ngô Đình Nhu, người luôn luôn tạo cho mình một vẻ ngoài huyền bí và được dân chúng khiếp sợ, càng lúc càng có thêm quyền lực, còn người em phóng khoáng hơn của ông Diệm là Ngô Đình Luyện càng ngày càng yếu thế. Vợ của Nhu, “bà Nhu”, con người tai tiếng và mâu thuẫn, càng ngày càng bị công chúng thù ghét và sự có mặt của bà ta trong dinh tổng thống càng ngày càng phủ bóng đen lên ông Diệm. Tôi đã cố gắng cứu ông ra khỏi vòng vây của đám phụ tá khúm núm và nịnh bợ, khỏi đám anh em hống hách và thiếu thực tế của ông đang làm ông bị cô lập với thế giới bên ngoài. Ông Diệm thật tình không biết điều gì đang xảy ra ở bên ngoài dinh tổng thống. Tôi cố gắng thông báo với ông những gì đang thực sự xảy ra trên đất nước càng nhiều càng tốt, nhưng việc ấy không dễ dàng. Ngay cả những lãnh tụ lớn như Diệm cũng chỉ muốn nghe những tin vui và ghét nghe những tin xấu; sự xu nịnh và những lời khen giả dối thường được chào đón niềm nở hơn là sự thật đơn giản.

Từ năm 1956, Nhu bắt đầu tổ chức chi nhánh Đảng Cần Lao của mình, phát triển nó vào cơ quan chánh phủ, vào các xí nghiệp của nhà nước; tất cả mọi nhân viên dân sự và quân sự phải vào đảng (tôi không vào); họ phải trả đảng phí hàng tháng và phải móc tiền túi ra đóng góp quà cáp cho bọn “chóp bu” trong đảng. Công ty Đường Quốc gia là một công ty độc quyền nhà nước đã làm lời được một số tiền khổng lồ. Trương Văn Tố, một trong những tay chân của Nhu điều hành công ty này, mỗi tháng đóng một số tiền đáng kể cho kỳ bộ Sài Gòn-Chợ Lớn; một người bạn của tôi làm việc cho công ty Đường đã kể tôi nghe về khoản đóng góp này. Một ngày kia, sau buổi họp thường lệ với Diệm, tôi kể ông nghe câu chuyện. Mặt ông đỏ bừng và sắt lại: cơn thịnh nộ nổi tiếng của ông sẵn sàng bùng nổ. Khi tôi kể xong và chuẩn bị ra về thì ông Nhu mở cửa bước và – ông ta là người duy nhất có quyền làm vậy. Diệm xây gương mặt đỏ gay về phía Nhu và hỏi anh ta có thật như vậy không. Gương mặt Nhu tái như xác chết khi anh ta thấy tôi ở đó, kế bên Diệm. Anh ta ném cho tôi một cái nhìn hằn học, lẩm bẩm vài tiếng trong miệng nhưng không trả lời; theo quan niệm thông thường của người Việt Nam và cách tôi học với ông giám đốc Kredit Bank, thì những người mặt cắt không ra một giọt máu như vậy là người rất trí trá; họ sẽ không đánh anh ngay đâu, họ chờ đến lúc anh ít cảnh giác nhất mới ra tay – đó là trường hợp của những người tôi đã kể ở trước và sau này nữa. Vào lúc đó tôi đã tự nhủ với mình là anh ta sẽ không quên đâu và tôi phải coi chừng anh ta tìm cách trả thù mà không hề lộ cho tôi biết!

Diệm hét lên với Nhu: “Tôi không muốn có lối nộp tiền cho đảng như vậy! Chấm dứt ngay!”. Tôi cảm thấy lúng túng nên chào từ giã. Ngày hôm sau người bạn tôi ở công ty Đường gọi điện cho tôi hỏi tôi đã làm gì với cái tin anh báo với tôi hôm trước. Tôi cười lớn. Anh ta bèn nói là ở bộ phận kế toán của công ty anh, người ta đang sửa lại sổ sách lung tung. Hai ngày sau, khi tôi lại gặp Diệm, ông nói với tôi một cách ngây thơ rằng ai đó đã làm cho tôi hiểu sai về chuyện đóng tiền. Đó chỉ là chuyện giao dịch làm ăn giữa công ty Đường và hãng kinh doanh của đảng ở Sài Gòn-Chợ Lớn.

Tôi nói gì được? Tôi làm gì được? Nó chỉ làm cho tôi thêm thất vọng với Diệm và chế độ của ông. Ba bốn sự cố như vậy, cùng thái độ hách dịch và cung cách làm ăn cậy quyền cậy thế của Nhu, những lời đồn đãi không ngớt về chuyện Hoàng Khắc Thành giúp đỡ đám anh em dòng họ và tay chân của Diệm, cũng như sự tin tưởng ngây thơ của ông với đám người xu nịnh bao quanh, lần lần làm tôi nhận ra thấy sự yếu đuối của ông và sự khó khăn của tôi khi một thân một mình chống lại số cận thần xu nịnh càng ngày càng đông đang xúm xít quanh ông. Những người giúp Diệm, phần đông các bộ trưởng và công chức không dám nói sự thật cho ông hay, hoặc không dám đương đầu với cơn thịnh nộ của ông nếu báo tin xấu. Tất cả bao vây ông đêm ngày và cô lập ông với thế giới bên ngoài.

Trở thành con người luôn luôn phản kháng mỗi khi nhận định tình hình và chỉ là một tiếng nói lẻ loi còn chưa bị chi phối bởi quyền lợi riêng tư, tôi càng ngày càng bực bội và thất vọng trong công việc hàng ngày. Trong lúc đó vì nhiều cơ quan quốc tế nhìn thấy kinh nghiệm của tôi, tìm cách tiếp xúc với tôi; tôi bắt đầu suy nghĩ một cách nghiêm túc về việc từ chức và ra nước ngoài làm việc, để có thể có một thời gian đánh giá lại tình hình trong nước, nơi cuộc chiến tranh đang càng ngày càng trở nên khốc liệt.

Thế rồi thình lình một biến cố xảy ra trong gia đình tôi, và tôi mất tất cả mọi thứ. Thêm vào đó, sự chán nản với chế độ Diệm làm tôi mất hết quyết tâm và nghị lực. Tôi quyết định từ chức. Ngày hôm sau tôi tới gặp Diệm sau một đêm thức trắng, suy nghĩ và nhìn thật sâu trong lòng mình. Diệm miễn cưỡng chấp nhận việc từ chức của tôi ở Ngân hàng Việt Nam Thương tín, nhưng yêu cầu tôi tạm ở lại Ngân hàng Trung ương cho tới khi ông tìm ra được người thay thế. Diệm không bao giờ bao giờ thay thế tôi ở Ngân hàng Trung ương.

Đó là ngày 15/9/1960.

Tôi vẫn tiếp tục nhiệm vụ Tổng giám đốc ở Ngân hàng Trung ương mà lòng không vui; ngân hàng này nằm cùng một toà nhà với Việt Nam Thương tín. Tất cả lòng can đảm và phấn khởi của tôi đã mất hết. Hoàng Khắc Thành bắt đầu trò chính trị của anh ta, lui tới Ngô Đình Nhu và Nguyễn Đình Thuần để xúc tiến việc thăng chức nhằm thế chỗ tôi. Tôi cũng chẳng hề quan tâm, trong lòng tôi chỉ còn một ước muốn điều duy nhất là rời khỏi công việc và chính phủ. Tôi không làm cố vấn kinh tế tài chánh cho ông Diệm nữa; và tôi cũng không dự các buổi họp của Hội đồng Tiền tệ Tối cao nữa. Nhưng ngay cả khi tôi còn ở đó, còn đứng đầu Ngân hàng Trung ương trong cùng một toà nhà với Thành và chỉ cách văn phòng anh ta một vài trăm thước, Thành vẫn cảm thấy đã đủ quyền lực chính trị với sự nâng đỡ của Nhu và Thuần; anh ta thay đổi hoàn toàn chính sách của Việt Nam Thương tín và bắt đầu phân phát các khoản tiền vay cho đám bạn bè dòng họ của Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu và Nguyễn Văn Bửu. Anh ta chấp nhận nhiều việc làm ăn mờ ám của họ và sẵn sàng đối đãi đặc biệt với bất cứ vụ kinh doanh nào có liên quan đến gia đình của Diệm và Nhu. Tôi ngao ngán đến nỗi tôi quyết định tới gặp Diệm lần thứ hai để nộp đơn từ chức. Diệm còn do dự nhưng Nhu thì hối ông chấp nhận. Cuối cùng Diệm cũng miễn cưỡng chấp nhận, nhưng ông ta cấp cho tôi một kỳ nghỉ phép sáu tháng ở Pháp với đầy đủ lương bổng, coi như là để chữa bịnh, nhưng thật sự là để cho tôi có thể nghỉ ngơi thoải mái sau một biến cố tâm lý như vậy. Tôi không yêu cầu được ưu đãi, nhưng dù sao đây cũng là một trường hợp cư xử đặc biệt ở một con người khắc khổ như Diệm. Tôi đoán ông ta muốn thưởng công cho tôi trong những việc tôi đã làm để giúp ông và giúp nước mấy năm nay, vì từ xưa đến nay tôi chưa hề nhận bất cứ một phần thưởng hay sự đền bù nào cho tất cả những điều tôi làm. Diệm còn bắt tôi hứa là sẽ trở về để giúp phát triển đất nước. Đó là vào tháng 3/1961, hai năm trước cuộc đảo chánh khi các tướng lãnh giết chết ông.

Tôi đi Paris rồi sau một ít thời gian nghỉ ngơi rồi quyết định quay về nhà để sống với đám con của tôi mà nhiều năm qua tôi đã không thể sống hết thời gian với chúng, như lòng tôi mong muốn, bởi vì chúng thường ở xa cách tôi. Tôi luôn luôn cưng con bởi vì tôi rất ít khi gặp chúng, do công việc của tôi quá bận rộn. Tôi thích chơi với chúng bất cứ khi nào tôi rảnh và mỗi lần từ nước ngoài trở về nhà tôi đều mua quà và đồ chơi cho chúng. Mấy đứa con tôi nổi tiếng là có những đồ chơi đẹp nhất thành phố; ngay cả đám trẻ của những gia đình giàu hơn cũng không sánh được. Bọn trẻ con của những người hàng xóm giàu có thường chạy qua chơi và trầm trồ khen ngợi những món đồ chơi của con tôi. Tôi mua từ Paris và New York cho hai đứa con gái tôi là Đạm và Lịch những bộ áo quần đẹp nhất và những con búp bê đẹp nhất. Tôi vẫn còn nhớ ba bộ đồ cao bồi màu đỏ và đen mà tôi mua từ Washington cho đứa con trai và hai đứa con gái bởi chúng bận vào nhìn rất dễ thương khi chúng chơi đùa trong cái trang trại nhỏ của chúng tôi gần Đà Lạt. Một ngày kia tôi ôm từ Paris về cho Hào, đứa con trai tôi, chiếc xe hơi đồ chơi to nhất của thời bấy giờ, một chiếc xe model Simca mà thằng nhỏ có thể leo vô ngồi và lái chạy quanh căn hộ rộng lớn của chúng tôi ở tầng trên toà nhà ngân hàng. Đạm và Lịch thường hay giành nhau đồ chơi và quần áo vì vậy mà tôi phải mua mỗi món hai bộ, nhưng hai đứa nhỏ còn biết gìn giữ cẩn thận. Còn Hào thì chỉ chơi được vài giờ là đã bắt đầu phá tan đồ chơi ra từng mảnh. Khi tôi từ cơ quan làm việc trở về nhà, vợ tôi than phiền thằng nhỏ và tôi đã lấy tay phát lên bộ mông đầy đặn của cu cậu một phát mạnh. Lúc ấy cha tôi đang ở thăm chúng tôi, ông đã ôm thằng nhỏ vào lòng để che cho nó, rầy tôi và chạy giấu thằng nhỏ trong phòng. Cha mẹ tôi đều thương Hào, bởi vì theo truyền thống gia đình, đứa cháu đích tôn là đứa quan trọng nhất trong đám cháu.

Sau cái biến cố do một người trong gia đình tôi gây nên làm cho chúng tôi hoàn toàn phá sản, tôi không còn đủ tiền để mua áo quần đẹp và những đồ chơi đắt tiền cho con nữa, vậy là tôi lái xe chở chúng đi chơi, đưa chúng tới bờ sông Sài Gòn hay ra bãi biển câu cá. Tôi lái xe đưa chúng lên cái trang trại nhỏ ở trên cao nguyên và chơi với chúng. Đó là khoảng thời gian tôi cảm thấy mình gần gũi với con nhất và tôi thường ôm chúng vào lòng và hôn chúng, nhiều khi ứa nước mắt nghĩ tới những lúc chúng phải sống xa tôi. Trong suốt thời gian nghỉ ngơi với gia đình, được xa cách mọi công việc nhà nước, tôi có nhiều dịp để quan sát người đời; những gì tôi đã học được trong cuộc sống thường nhật và những gì tôi nhận ra được trong cách cư xử của người đời đã làm tôi mở mắt và dạy cho tôi nhiều bài học. Giữa những điều ấy, tôi nhận ra rằng có một số người, Việt Nam cũng như ngoại quốc, thường xây lưng lại phía tôi: những người trước đây thường cúi gập mình khi đứng trước mặt tôi, những người thường từ xa chạy lại để kính cẩn chào tôi, những người đã cố tìm mọi cách gặp tôi ở bất cứ cơ hội nào, giờ đây đã cố lơ tôi khi gặp tôi trên đường phố hay trong các bữa tiệc. Họ tin rằng sự nghiệp tôi thế là chấm dứt và tôi không bao giờ có thể trở lại một vị trí có quyền thế. Họ lầm. Chỉ một năm sau tôi đã trở lại với những vị trí quan trọng nhất trong chính phủ, nhưng tôi không bao giờ nghĩ tới chuyện trả thù hay trả đũa; trái lại bất cứ khi nào những người ấy xin giúp đỡ và bất cứ khi nào có thể, tôi cũng vui lòng giúp họ.
Nguồn: Cuốn hồi ký này được tác giả tự xuất bản lần đầu năm 2004 tại California. Ấn bản lần thứ nhì đăng trên talawas có một số hiệu đính và bổ sung, bản điện tử do tác giả cung cấp.