trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
7.3.2007
 
Báo Nhân văn số 3
 1   2 
 
Báo văn hoá, xã hội - Chủ nhiệm: Phan Khôi - Thư ký toà soạn: Trần Duy - Trụ sở: 43 Tràng Tiền, G.N. (Giây nói 21.17) - Khổ 38 x 55, 6 trang - Số 3, ra ngày 15-10-1956. In tại nhà in Xuân Thu. Mỗi số: 300 đ.

Mục lục
  • Kỷ niệm ngày Vũ Trọng Phụng tạ thế (13-10-1939) - Một bài bút chiến của Vũ Trọng Phụng để trả lời báo Ngày nay: “Dâm hay là không dâm”
  • Trần Đức Thảo - Nỗ lực phát triển tự do dân chủ
  • Bác sĩ Đặng Văn Ngữ trả lời về mở rộng tự do và dân chủ
  • Trần Công và Trần Thịnh - Đã tiến thêm được một bước, cần tiến thêm bước nữa
  • Trần Bái, Phùng Báo Kim - Ý kiến bạn đọc: Về mấy bài phê bình báo Nhân văn
  • Hộp thư toà soạn
  • Quảng cáo cho báo Trăm hoa số 1 ngày 18-10-1956
  • Hữu Tâm, Thanh Bình - Phê bình bài tự phê bình của ông Hoài Thanh
  • Hoàng Cầm - Đọc lại Vũ Như Tô, kịch của Nguyễn Huy Tưởng
  • Trần Phương - Coi trọng ý kiến và con người anh chị em biểu diễn nghệ thuật
  • Thơ Mai-a-cốp-ski - Nói lớn, bản dịch và chú thích của Trần Dần
  • Chu Ngọc - Quần chúng đã chán ghét lối “chặn họng” ấy rồi
  • Nhân văn - Mấy lời chân tình gửi bạn đọc: Về dư luận xung quanh Nhân văn
  • Hà Bá - Chưa đẹp mắt
  • Y Du - Địa ngục miền Nam
  • Sỹ Ngọc - Bất mãn
  • Hàn Phi Tử - Ngọc bích họ Hoà (Cổ học tinh hoa)
  • Danh sách những người góp tiền ra báo
  • Thông báo: Tại sao Nhân văn bán 300 đ?
  • Thông báo của Phan Khôi


Kỷ niệm ngày Vũ Trọng Phụng tạ thế (13-10-1939) [1]

(Hình Vũ Trọng Phụng khi còn là học sinh)

Nhân văn
Thơ ơ với Vũ Trọng Phụng là khuyết điểm lớn

Vũ Trọng Phụng mất năm 27 tuổi. Tác phẩm đầu tay của Vũ Trọng Phụng xuất bản năm anh 21 tuổi. Sáu năm trời, 17 tác phẩm, một trang sáng rực trong lịch sử văn học Việt Nam. Ngòi bút mãnh liệt của Vũ Trọng Phụng đã thích dấu chàm lên trán một xã hội thối nát, lố lăng đến cực độ, để lại những điển hình bất diệt về Nghị Hách, về Xuân Tóc Đỏ, về ông Văn Minh, về Típ-phờ-nờ v.v... Những nhân vật của Vũ Trọng Phụng đã bước ra ngoài trang sách và thâm nhập cuộc đời.

Cái thời đại của SỐ ĐỎ đã qua rồi. Cách mạng đã tấn công bằng súng đạn những cái mà Vũ Trọng Phụng tấn công bằng ngòi bút và đã lật đổ cái chế độ "số đỏ" ấy. Nhưng những di tích, huyết thống, những cái rơi rớt của những nhân vật Vũ Trọng Phụng không là đã hết trong chế độ ta. Ao ước một Vũ Trọng Phụng của Cách mạng (...) [2] những cái thối nát còn sót lại ở miền Bắc và đương ngự trị trong chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.

Đã lâu nay thái độ chúng ta đối với Vũ Trọng Phụng không thống nhất. Bên cạnh những người khen hết lời không phải không có những người, tương đối ít hơn, chê cũng hết lời. Nhưng bao trùm trên hết là một thái độ ơ hờ khá phổ biến.

Đó là một hiện tượng không tốt. Dửng dưng với Vũ Trọng Phụng là một khuyết điểm lớn đối với lịch sử văn học, đối với một nhà văn vào bậc nhất của nền tiểu thuyết Việt Nam.

Đề cao Vũ Trọng Phụng, tìm hiểu Vũ Trọng Phụng là một trách nhiệm của chúng ta, không những đối với người đã chết mà còn đối với những người đương sống và cần tìm ở Vũ Trọng Phụng một bài học nhân văn sâu sắc.

Kỷ niệm Vũ Trọng Phụng bằng một hai bài báo chưa đủ, bằng một buổi lễ trọng thể cũng sẽ vẫn chưa đủ.

Mong những cây bút phê bình, lý luận, những nhà văn học sử Việt Nam sẽ nghiên cứu và đánh giá Vũ Trọng Phụng một cách xứng đáng với sự nghiệp văn chương lớn lao của ông.


Một bài bút chiến của Vũ Trọng Phụng để trả lời báo Ngày nay: “Dâm hay là không dâm”

Tội nghiệp biết bao! Đáng lẽ khi thấy tôi nói rằng: "Đối với trẻ con, báo nào, sách nào cũng có hại, và sách Đoạn tuyệt, Lạnh lùng có thể có hại cho trẻ con hơn là Lục xì", các ông nên cho là phải, nhất là khi chúng tôi phải đếm xỉa đến luân lý trong lúc nói chuyện nghệ thuật. Bằng có tức tối vì câu nói kia nữa, Tự Lực Văn Đoàn cũng nên dùng một chiến lược khác nguy hiểm cho tôi hơn. Than ôi! Mấy ông kia đã định hại tôi một cách hớ hênh làm sao! Khờ dại làm sao! Thù hằn báo Tương lai và tôi, mà lại hành động như vậy, thì thật là giúp ích cho chúng tôi vô kể! Độc giả của cả hai tờ báo, không phải là những người ngu cho chúng ta tự do muốn làm gì thì làm.

Vậy thì ông Nhất Chi Mai, hay là báo Ngày nay, công kích tôi những gì?

Không, tôi sẽ không như các ông, trong khi “tranh luận” với kẻ thù, chỉ kiếm hết cách nói ra ngoài đầu đề, mục đích là làm hại kẻ thù chứ không để bênh vực cho một lý thuyết, hay tìm kiếm lẽ phải.

(... Ông Nhất Chi Mai viết: “Nhưng mục đích bài này không phải để vạch cái hành tung đáng ngờ của nhà văn xã hội Vũ Trọng Phụng, mà chính là vạch cái bẩn thỉu nhơ nhớp, dơ dáy của văn ông ta”.)

Rồi ông Nhất Chi Mai kể ra một vài câu chuyện vặt trong Giông tốCơm thầy cơm cô của tôi. Đây tôi xin không cãi, vì công kích một điều vặt trong cả cuốn chuyện dài, hay là một hai chữ trong ba trăm trang tiểu thuyết như các ông vẫn cạo theo kiểu Hàn Đãi Đậu mà không kể đến cái luân lý của toàn chuyện, thì tôi cũng có thừa sức nêu ra nhiều điều “ô uế” trong những sách báo của Tự Lực Văn Đoàn từ xưa đến nay, thí dụ trong những tranh khôi hài, chuyện vui cười, Hà Nội ban đêm, Lạnh lùng… Tôi không cãi vội, chờ đến lúc văn phẩm của tôi in xong đã, để chờ được cãi lại, nếu các ông muốn như vậy có được không, hở các ông?

Từ đây trở đi, may sao tôi có thể đáp lại!

Không ai cấm nhà văn Vũ Trọng Phụng dùng những chữ bẩn thỉu để tả những sự bẩn thỉu. Nhưng khi viết những câu văn mà mình cho là khoái trá, tưởng cũng nên nghĩ độc giả một chút.

Thưa ông, tôi nghĩ đến độc giả của tôi lắm. Nếu không, thì tôi đã không sợ sức phản động của phái người cổ hủ hoặc bảo thủ để phóng bút viết như Richepi, Margueritte, Carco, Maryse Chon, Colette rồi, chứ còn gì! Và khi dùng một chữ bẩn thỉu, tôi chẳng thấy khoái trá như khi các ông tìm được một kiểu áo phụ nữ mới mẻ. Những lúc ấy, tôi lại thấy thương hại cái nhân loại ô uế bẩn thỉu nó bắt tôi phải viết như thế, và nó bắt văn phái các ông phải chạy xa sự thực bằng những danh từ điêu trá của văn chương. Các ông quen nhìn một cô gái nhảy là một phụ nữ tân thời, vui vẻ, trẻ trung hy sinh cho ái tình, hoặc cách mệnh lại gia đình. Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một người đàn bà vô học chẳng có thi vị, lại hư hỏng, lại bất hiếu bất mục nữa, lại có nhiều vi trùng trong người. Tôi không biết gọi một gái đĩ là nàng - chữ ấy có thi vị lắm – hoặc tô điểm cho gái đĩ ấy những cái thi vị mà gái đĩ ấy không có, đến nỗi đọc trong chuyện, người ta chỉ thấy một gái đĩ làm gương cho thế gian noi theo! Thí dụ các ông có thể coi phong trào khiêu vũ là dấu hiệu tiến hoá mà các ông chủ trương. Riêng tôi, tôi chỉ thấy đó là một cách dâm bôn làm cho (...), [3] một cái tai hoạ cho nước nhà mà giữa tình thế này, người biết nghĩ phải cho là điều đáng xỉ nhục. Tại sao ta lại không thành thực? Tại sao khi con gái mình, em gái mình hư hỏng, thì mình muốn tự tử, mà con gái hay em gái người khác bỏ chồng lẻn nhà theo trai mà lại gọi là giải phóng, là bình quyền, là chiến đấu cho hạnh phúc cá nhân?! Đó, thứa các ông, cái chỗ bất đồng ý kiến giữa chúng ta. Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết, tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời. Cứ một chỗ trái ngược nhau ấy, cũng đủ khiến chúng ta còn xung đột nhau nữa... Các ông muốn theo tiểu thuyết tuỳ thời, chỉ nói cái gì thiên hạ thích nghe, nhất là sự giả dối. Chúng tôi chỉ muốn nói cái gì đúng sự thực thành ra nguy hiểm, vì sự thực chỉ mất lòng. Vậy xin đừng phí lời khuyên tôi “nghĩ đến độc giả” vì tôi lo cho tôi hơn các ông nhiều, thưa các ông.

Nhà văn Vũ Trọng Phụng lại hô lớn rằng: Nhân loại đã tiến hoá rồi! Tuồng như nhân loại đã tiến ở chỗ nói tục, dùng những danh từ bẩn thỉu, uế tạp và ở chỗ đầy dẫy những chuyện hiếp dâm, làm đĩ, ăn cướp, bịp bạc. Nếu nhân loại tiến đến chỗ đó thì cũng đáng buồn cho nhân loại. May sao cái nhân loại đó chỉ là cái nhân loại riêng của Vũ Trọng Phụng thôi. Đối với nhà văn xã hội kỳ quặc này, thì những người biết trọng lời nói, biết đắn đo dè dặt ngòi bút khi viết văn đều là những đồ ‘vô học thức’ có ‘tính e thẹn của quân bồi xăm’”.

Không, đó là ông Nhất Chi Mai và Ngày nay cố ý hiểu nhầm. Nhân loại tiến hoá về bẩn thỉu, uế tạp, hiếp dâm, làm đĩ, ăn cắp hay thế nào không rõ, nhưng tôi cho nhân loại tiến hoá ở chỗ trọng sự thực, nên những nhà văn dám nói rõ những vết thương ấy cho mọi người nghe, chứ sao? Theo ý ông thì nhân loại chỉ có nàng Ly Tao, “thơ mới”, những ông tham, đốc huyện, con quan, gái tân thời, thanh cao lương thiện cả mà thôi, hay sao? Ông Nhất Chi Mai có biết Margueritte đã phải than phiền nạn mãi dâm bằng cuốn sách Prostituées không? Các ông có biết các tờ nhật báo nước nhà thỉnh thoảng lại đăng tin hiếp dâm không? Các ông có biết những sự dâm bôn của các triều đình cũ và mới ở Pháp trong tập báo Crapouillot không? Các ông có biết nạn kê giao (pedérastie) mà bên Đức thì hàng triệu người theo, mà bên Pháp thì những ông mặt to tai nhớn như André Gide, Rostand, Verlaine, là những lãnh tụ, hay là không? Không, cái nhân loại ấy không thuộc riêng tôi đâu, mà điều ấy thì người nào có cái học vấn “sơ học” trở lên, tôi tưởng đều nên biết rõ. Phải là giả dối cực điểm hoặc vô học thức, thì mới tưởng nhân loại không có sự nhơ bẩn ô uế nào, tôi không bảo người không viết văn như tôi là vô học thức, có tính cả thẹn của bồi xăm; nhưng phàm kẻ nào giả dối nhắm mắt buộc tôi là vu oan, chối cãi rằng nhân loại không bẩn thỉu như đã nói ở trên, thì tôi bảo như vậy! Nhân loại tiến hoá rồi! Thật thế, vì nay mai Pháp đình ưng chuẩn dự án Seillier thì những điều các ông cho là dâm uế sẽ được người ta giảng dạy cho trẻ con! Đến lúc ấy, những cái “dâm uế” của tôi sẽ không làm cho các ông “phẫn uất”, và tôi tưởng các ông có học thức như thế, hẳn là phải biết trước khi mọi người mới là hợp lẽ.

Kết luận, tôi phải nói cái cảm tưởng của tôi khi đọc văn Vũ Trọng Phụng.

Đọc xong một đoạn văn tôi thấy trong lòng phẫn uất, khó chịu, tức tối.

Không phải phẫn uất, khó chịu, vì cái vết thương xã hội tả trong câu văn, mà chính là vì cảm thấy một tư tưởng hắc ám, căm hờn, nhỏ nhen trong đó.

Đành rằng nhà văn có cái thiên chức nêu những cái thống khổ của nhân loại, vạch cái xấu xa của loài người, nhưng bao giờ cũng cần phải có một ý nghĩ cao thượng, một tư tưởng vị tha, một lòng tín ngưỡng ở sự tiến hoá, mong cho nhân loại ra khỏi nơi u ám và một ngày một hay hơn, một sung sướng hơn lên.

Đọc văn Vũ Trọng Phụng, thực không bao giờ tôi thấy một tia hy vọng, một tư tưởng lạc quan. Đọc xong ta phải tưởng tượng nhân gian là một nơi địa ngục và chung quanh mình toàn những kẻ giết người, làm đĩ, ăn tục, nói càn, một thế giới khốn nạn vô cùng.

Phải chăng đó là tấm gương phản chiến tính tình, lý tưởng của nhà văn, một nhà văn nhìn thế gian qua cặp kính đen, có một bộ óc cũng đen và một nguồn văn càng đen nữa?

Ông Nhất Chi Mai chỗi cãi rằng cái “phẫn uất, khó chịu, tức tối” ấy không phải vì thấy xã hội là xấu xa nhưng vì tư tưởng của tôi hắc ám, nhỏ nhen, căm hờn... Hắc ám có! Vì tôi vốn là người bi quan. Căm hờn cũng có, vì tôi cho rằng cái xã hội nước nhà mà lại không đáng căm hờn, mà lại cứ “vui vẻ, trẻ trung, trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ, v.v...” như các ông chủ trương, thì, một là không muốn cải cách gì xã hội, hai là ích kỷ một cách đáng xỉ nhục.

Còn bảo nhỏ nhen thì là thế nào?

Tả thực cái xã hội khốn nạn, công kích cái xa hoa dâm đãng của bọn người có nhiều tiền, kêu ca những sự thống khổ của dân nghèo bị bóc lột, bị áp chế, bị cưỡng bức, muốn cho xã hội công bình hơn nữa, đừng có những chuyện ô uế, dâm đãng là là nhỏ nhen, thì há dễ Zola, Hugo, Malraux [4] , Dostoiewsky, Maxime Gorki, lại không cũng là nhỏ nhen?

Nói như ông Nhất Chi Mai, thì tôi há lại không có thể nhìn vào tờ Phong hoá, tờ Ngày nay mà kêu rằng xã hội riêng của Tự Lực Văn Đoàn là “một nơi địa ngục", chung quanh mình toàn là: Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh, Hà Nội ban đêm, ăn cướp, ăn cắp, ăn trộm, đàn bà nghiện hút, buôn người, đồng bóng, sư sãi hoang dâm, và, mới đây, Hà Nội lầm than nghĩa là các cô gái nhảy? Nhưng thôi, đến đây nếu ta không muốn cả cười thì ta nên im lặng...

Ông Nhất Chi Mai muốn biết tôi có cặp kính đen, bộ óc đen, và một nguồn văn cũng đen?

Nếu các ông không muốn sờ lên gáy thì thôi, bao nhiêu chuyện gì thanh tao, tao nhã, cao thượng của loài người, xin các ông cứ cố mà hương hoa khấn khứa, tôi xin để cái phần ấy cho các ông.

Riêng tôi, xã hội này tôi chỉ thấy là khốn nạn: quan tham, lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, một tụi văn sĩ đầu cơ xảo quyệt, mà cái xa hoa chơi bời của bọn giầu thì thật là những câu chửi rủa vào xã hội dân quê, thợ thuyền lầm than bị bóc lột. Lạc quan được, cho đời là vui, là không cần cải cách, cho cái xã hội chó đểu này là hay ho tốt đẹp, rồi ngồi mà đánh phấn bôi môi hình quả tim để đi đua ngựa, chợ phiên, khiêu vũ, theo ý tôi, thế là giả dối, là tự mình lừa mình và di hoạ cho đời, nếu không là vô liêm xỉ một cách thành thực.

Tôi tưởng tôi đã đủ đáp lại sự khinh bỉ tôi của các ông.

Vũ Trọng Phụng (Báo Tương lai, 25-03-1937)

(Hình bút tích của Vũ Trọng Phụng - bản thảo Người tù được tha)


*


Trần Đức Thảo
Nỗ lực phát triển tự do dân chủ [5]

Trước hết, chúng ta phải nhận định rõ ý nghĩa và nội dung của phong trào tự do dân chủ đương phát triển trong nhân dân. Căn bản nó là phong trào quốc tế, do Đại hội Đảng XX của Đảng Cộng sản Liên Xô phát động, và đương lan tràn rầm rộ trên khắp thế giới. Nó xuất phát từ những thắng lợi lớn lao của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và trên thế giới, do những thắng lợi ấy mà phương pháp lãnh đạo hẹp hòi, sùng bái cá nhân theo kiểu Stalin đã trở thành một cản trở nghiêm trọng cho sự phát triển của xã hội Liên Xô và của phong trào hoà bình thế giới. Đánh đổ cái cản trở ấy là một nhiệm vụ cấp bách để tiến lên chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, củng cố và mở rộng hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Nhân dân Việt Nam với sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu bè phái, sùng bái cá nhân, chính là thực hiện đường lối cách mạng của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, do Đảng Lao động Việt Nam truyền đạt.

Xét đến tình hình trong nước phong trào tự do dân chủ cũng có ý nghĩa trọng đại. Sau khi chúng ta đã đánh bại đế quốc và hoàn thành Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc, chính bệnh quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân là những di tích của chế độ cũ trong tổ chức mới. Đấu tranh chống những bệnh ấy là nhiệm vụ của nhân dân và đường lối của Đảng, một trọng tâm công tác để đẩy mạnh công cuộc kiến thiết kinh tế và văn hoá, nhanh chóng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tất nhiên, trong phong trào có thể có những sai lầm cá nhân, những lời lẽ lệch lạc với sự lãnh đạo của Đảng, những khuyết điểm ấy nhất định được sửa chữa, nhưng đấy chỉ là chi tiết. xét về căn bản và toàn bộ, phong trào hiện tại chống quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân là một phong trào cách mạng của toàn dân, do giai cấp và Đảng công nhân lãnh đạo: nó giải phóng sức sản xuất, chỉnh đốn tổ chức, đẩy mạnh sự tiến triển của xã hội Việt Nam lên chủ nghĩa xã hội, gắn liền nhân dân Việt Nam với hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới.

Đã làm một nhiệm vụ cách mạng, sẽ có địch lợi dụng xuyên tạc. Không có gì địch đã lợi dụng xuyên tạc bằng Cải cách Ruộng đất. Không có công tác nào đã phạm phải sai lầm đau xót như công tác ấy. Ngay từ đầu chúng ta đã biết rằng chúng ta sẽ có sai lầm, rằng địch sẽ lợi dụng xuyện tạc, nhưng chúng ta vẫn quyết tâm tiến hành, vì đấy là nhiệm vụ cách mạng. Trong phong trào tự do dân chủ bây giờ không thể nào có sai lầm nghiêm trọng đến thế, vì nó chỉ tiến hành bằng lời nói, bằng giấy viết, nó không phạm đến cơ thể. Mà nếu địch có thể tìm cách lợi dụng một vài chi tiết, thì về căn bản nó sẽ bị một gánh đòn rất nặng, có thể là quyết định, vì căn bản tuyên truyền của địch là kêu rằng chúng ta không có dân chủ, mà chính chúng ta lại chứng minh bằng sự việc rằng chúng ta có dân chủ rõ ràng. Không phải vì một vài vấn đề vụn vặt mà chúng ta lại bỏ cái căn bản, và không vì thấy cây mà không trông thấy rừng.

Có anh em lo rằng với tự do dân chủ được phát triển, giai cấp tư sản sẽ “ngóc đầu” lên. Chính như thế là đánh lạc vấn đề. Từ ngày hoà bình trở lại, chúng ta mở rộng phạm vi kinh doanh tư sản, chúng ta hô hào họ đầu tư; như thế họ cũng đã được thoả mãn một phần khá, mà họ cũng không có đủ sức để làm gì khác. Những người có vấn đề phê bình là những người lao động trí óc và lao động chân tay, phục vụ nhân dân và trung thành với Đảng, nhưng chưa được điều kiện để phát huy khả năng và phục vụ có kết quả, thậm chí còn bị kìm hãm, chà đạp bởi những phần tử quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân. Cái tự do mà họ muốn phát triển nhất định không phải là cái tự do tư sản của xã hội cũ, tự do của một thiểu số đi bóc lột đa số. Cái tự do mà họ muốn phát triển là tự do của toàn dân phê bình lãnh đạo, vì lãnh đạo chính là lãnh đạo của mình, mà có phê bình thì mới xây dựng được một tổ chức hợp lý, bảo đảm những điều kiện cần thiết để mọi công tác được kết quả tốt, để mỗi công dân được góp phần vào nhiệm vụ chung. Cái tự do ấy là quyền của người công dân, nó được hoàn toàn công nhận và bảo đảm trong chế độ ta. Đảng và Chính phủ luôn luôn kêu gọi nhân dân xây dựng lãnh đạo. Nhưng vì chúng ta hay rụt rè, thậm chí còn sao nhãng, thiếu tin tưởng, nên công tác phê bình chưa được thường xuyên đầy đủ. Chúng ta còn thiếu tác phong thảo luận rộng rãi, đặt mọi vấn đề trước quần chúng. Đấy là một di tích của lề lối làm việc cũ, một biểu hiện của tư tưởng xa quần chúng, xa nhân dân. Chúng ta phải nỗ lực mở rộng dân chủ, phát triển phê bình trong nhân dân. Đảng đã chỉ đường vạch lối, nhưng không thể làm thay: Tự do không phải là cái gì có thể ban ơn.

Trong nhiệm vụ thực hiện phương châm của Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, đặng hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng Cộng sản Việt Nam, hưởng ứng phong trào phát triển tự do dân chủ trong những nước dân chủ nhân dân anh em, người trí thức Việt Nam có phần trách nhiệm quan trọng. Người trí thức hoạt động văn hoá, cần tự do như khí trời để thở. Có tự do mới đẩy mạnh được sáng tác văn nghệ nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật. Phát triển tự do là nhu cầu thiết thân đồng thời cũng là nhiệm vụ số 1 của người trí thức cũng như của toàn dân.

Đấy phải phân biệt nội dunghình thức tự do. Về phần nội dung thì chế độ ta căn bản và thực sự là tự do. Chúng ta đã đánh đổ đế quốc và phong kiến ở miền Bắc, mà dù có còn phương thức bóc lột tư sản, thì với chính quyền nhân dân, với sự lãnh đạo của giai cấp và đảng công nhân, cái căn bản đã có và bảo đảm cho tương lai. Nhất định chúng ta sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, thực hiện tự do hoàn toàn.

Nhưng về hình thức thì còn nhiều thiếu sót, mà đấy là vấn đề nghiêm trọng, vì chính hình thức tự do bảo đảm sự đóng góp đầy đủ của mỗi công dân vào nhiệm vụ chung. Có hình thức tự do thì mới thực hiện được quy tắc lãnh đạo tập thể, mới giải phóng đầy đủ lực lượng sáng tạo của quần chúng, phát huy sáng kiến ở cơ sở kinh tế và văn hoá. Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô đã bóc trần những kết quả tai hại của tác phong lãnh đạo vi phạm hình thức tự do. Tuy cái tệ sùng bái cá nhân không thể nào làm mất cái nội dung dân chủ thực sự và tính chất ưu việt của xã hội Liên Xô, trong ấy không còn chế độ người bóc lột người, nhưng vì trong một thời gian hình thức tự do không được đảm bảo, sự phát triển của xã hội Liên Xô đã bị cản trở nghiêm trọng. Riêng trong công tác văn hoá, một số bộ phận nghiên cứu sáng tác như bộ phận khoa học xã hội, theo báo cáo của đồng chí Mi-cai-an, đã bị hầu như tê liệt. Hình thức tự do không phải “chỉ là hình thức”! Nó ảnh hưởng sâu sắc đến thực tế xã hội, dù không có thay đổi cái nội dung căn bản.

Ở nước ta, Cải cách Ruộng đất đã hoàn thành ở miền Bắc, bây giờ là lúc chuyển lên chủ nghĩa xã hội: Không có con đường nào khác, mà không tiến thì lùi. Điều kiện chủ yếu để tiến là xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất và văn hoá cần thiết cho phương thức sản xuất tập thể. Từ hai năm hoà bình đã được lập lại, công cuộc kiến thiết bị cản trở nghiêm trọng, hầu như hết cả các ngành, bởi những phần tử quan liêu, bè phái, sùng bái cá nhân. Phát triển hình thức tự do (tự do báo chí, ngôn luận, hội họp, hiệp đoàn v.v...) là một công tác trọng tâm để giải phóng lực lượng sáng tạo của nhân dân, khai thác và làm nổi bật cái nội dung dân chủ phong phú mà chúng ta đã đạt được. Trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà bằng phương pháp hoà bình, đấy cũng là một yếu tố quan trọng để mở rộng mặt trận tổ quốc, tranh thủ sự đồng tình của những tầng lớp rộng rãi ở miền Nam và trên thế giới.

Hình thức tự do là tự do cá nhân. Dưói chế độ cũ, căn bản nó là mơ mộng duy tâm, làm khí cụ tinh thần cho giai cấp tư sản đi bóc lột nhân công. Nhưng trong xã hội ta nó đã biến chất và trở thành giá trị chân chính. Cá nhân phục tùng tập thể, nhưng tập thể cũng phải có cá nhân xây dựng và hình thức tự do trong phạm vi pháp lý nhân dân là điều kiện để mỗi cá nhân góp phần thực sự xây dựng tập thể. Xét đến tình hình thế giới mới đây, lý tưởng tự do cá nhân lại là lý tưởng của những ngày tiến tới, lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản bây giờ đương bắt đầu trở thành một thực tế lịch sử ở Liên Xô. Phát triển tự do cá nhân hoàn toàn, đấy sẽ là mục tiêu càng ngày càng cụ thể với thực tiễn kiến thiết chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, trong ấy sẽ không còn phân biệt giai cấp, nhà nước sẽ tự tiêu, mỗi cá nhân sẽ tự do xây dựng sở trường của mình, làm theo khả năng, hưởng theo nhu cầu. Chủ nghĩa xã hội hoàn thành ở Liên Xô đã giải phóng con người trong tập thể sản xuất. Trong xã hội cộng sản mỗi người sẽ được giải phóng với cá tính bản thân.

Bước tiến của xã hội ta chưa đi đến đấy nhưng cách mạng ta là một bộ phận trong phong trào thế giới và tính chất chung của phong trào thế giới là do bộ phận cao nhất của nó quy định. Tư tưởng cách mạng, dù có ở một nước lạc hậu vẫn phải là tư tưởng tiến bộ nhất trên thế giới. Chúng ta đã làm cách mạng tư sản dân chủ với tư tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp công nhân, tư tưởng tiến bộ nhất của thời đại, nhưng mang nặng những bệnh của giai đoạn Stalin: quan liêu, giáo điều, bè phái, sùng bái cá nhân. Theo đòi hỏi của sự phát triển của sức sản xuất và công trình xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, Đại hội XX Đảng Cộng sản Liên Xô đã lên án nghiêm khắc cái tệ sùng bái cá nhân, đặt chủ trương đường lối giải phóng tư tưởng bảo đảm pháp lý xã hội chủ nghĩa, triệt để dân chủ hoá tổ chức. Những nghị quyết lịch sử của Đại hội đã ảnh hưởng sâu sắc đến các nước dân chủ nhân dân anh em và phong trào công nhân và nhân dân thế giới. Nước ta không thể nào đứng riêng: chúng ta sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã gột rửa những nết xấu của đời Stalin, với nội dung chân chính xây dựng trên kinh nghiệm kiến thiết chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới, trong ấy dưới hình thức này hay hình thức khác, nhiệm vụ của vô sản chuyên chính là phát triển tự do cá nhân.


*


Bác sĩ Đặng Văn Ngữ trả lời về mở rộng tự do và dân chủ [6]

Câu hỏi

1. Theo ý ông lúc này giới trí thức nói chung và giới văn nghệ nói riêng cần phải làm gì để góp phần thực hiện mở rộng tự do dân chủ?

2. Theo ý ông và căn cứ vào nhu cầu phát triển của ngành y tế, có những vấn đề gì cần đem thảo luận rộng rãi?

Trả lời

1. Một dân tộc càng bị áp bức thì càng thiết tha ham muốn tự do dân chủ. Dân tộc Việt Nam hàng mấy trăm năm nay sống dưới áp bức phong kiến và đế quốc, dĩ nhiên là một dân tộc rất thiết tha đối với tự do dân chủ. Vì tự do dân chủ mà trong lịch sử Việt Nam đã có bao nhiêu cuộc khởi nghĩa để lật đổ những chính quyền áp bức bất công, vì tự do dân chủ mà toàn thể nhân dân ta đã hy sinh anh dũng trong 8, 9 năm để đánh lui đế quốc và phong kiến trên một nửa đất nước chúng ta. Vì tự do dân chủ mà nhân dân ta còn quyết tâm đánh lui mọi âm mưu của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để chế độ dân chủ lan khắp toàn lãnh thổ ta.

Đảng Lao động Việt Nam trước đây là Đảng Cộng sản Đông Dương, Chính phủ và Hồ Chủ tịch chung đúc ý chí quật cường của dân tộc đã lãnh đạo toàn dân đánh đổ đế quốc Pháp, Nhật xây dựng chế độ dân chủ nhân dân ở nước ta.

Chính phủ ta thiết tha xây dựng tự do dân chủ, việc ấy không thể ai chối cãi được. Nhân dân ta thiết tha yêu chuộng tự do dân chủ, lịch sử cũng chứng minh điều ấy. Tuy vậy gần đây kiểm điểm sự thi hành các chính sách của Chính phủ, ta thấy có nhiều thiếu sót nghiêm trọng về tự do và dân chủ. Thoạt mới nghe thì có vẻ như là việc kỳ lạ nhưng nghĩ lại nó là một hiện tượng dĩ nhiên. Chính là vì Đảng và Chính phủ ta quyết tâm xây dựng một chế độ càng ngày càng tự do và dân chủ cho nên đang tìm mọi khuyết điểm cũ để khắc phục cho bằng được.

Dưới một chế độ độc tài không ai dám chỉ trích Chính phủ thì còn đâu mà thấy khuyết điểm về tự do và dân chủ?

Dưới chế độ dân chủ, nhân dân ta tin tưởng tuyệt đối với chế độ nên càng mạnh dạn phê bình nhận xét. Nếu nhân dân còn nghi ngờ Chính phủ, còn sợ Chính phủ trả thù những người nêu khuyết điểm của Chính phủ ra thì dù cậy mồm ra cũng không ai dám kể khuyết điểm của Chính phủ.

Chúng ta không nên quyên rằng Đảng và Chính phủ cũng ở trong nhân dân mà ra. Trình độ nhân dân đến đâu thì trình độ Đảng và Chính phủ đến đó.

Mỗi người trong nhân dân có thể có sai lầm thì mỗi người trong Đảng hay Chính phủ đều có thể có sai lầm được. Vậy Chính phủ và Đảng kiểm điểm lại công tác trong mấy năm qua có sai lầm, ta không lấy gì làm lạ cả. Nguyên nhân những sai lầm đó ở đâu? Tôi thiết tưởng chính vì chúng ta chưa biết sử dụng một cách thích đáng quyền tự do dân chủ của chúng ta. Là những người rất thiết tha với tự do dân chủ, chúng ta đã hy sinh rất nhiều để được tự do dân chủ nhưng đến khi có tự do dân chủ thì ta lại không biết sử dụng sự tự do dân chủ ấy. Điều này cũng không có gì lạ cả. Hàng ngàn năm nay nhân dân Việt Nam đã biết tự do dân chủ là gì đâu! Mà tự do dân chủ có phải là những vật dễ sử dụng đâu.

Nhân dân Việt Nam đã dũng cảm đương đầu với giai cấp thống trị phản động và bóc lột, nhưng đối với chính quyền nhân dân của mình thì lại vô cùng nhu nhược, thiếu đấu tranh và đặc biệt là không biết dùng quyền tự do dân chủ của mình để đấu tranh, vì thế mà khuyết điểm dồn lại cho đến ngày nay ta nhận thấy trầm trọng.

Trong sự đấu tranh chung đã đưa đến sai lầm nghiêm trọng, người trí thức phải nhận có phần trách nhiệm của mình.

Trong 8, 9 năm kháng chiến anh dũng và 2 năm xây dựng hoà bình thắng lợi, người trí thức hãnh diện có góp phần quan trọng thì nay thấy có khuyết điểm, trí thức cũng sẽ dũng cảm nhận phần khuyết điểm của mình.

Nếu trong nhiệm vụ xây dựng quân đội, nhiệm vụ chính là của bộ đội, trong việc xây dựng kinh tế, nhiệm vụ chính là của công nhân và nông dân thì trong việc xây dựng tư tưởng tự do và dân chủ, nhiệm vụ chính phải là của trí thức. Trí thức ở một cương vị thuận lợi và có đủ nhận thức để nhận thấy lãnh đạo có sai lầm, và thực tế là trí thức của ta đã nhận thấy từ lâu một số sai lầm của lãnh đạo. Nhưng trí thức của ta đã thiếu tự do tư tưởng, thiếu dũng cảm nên không dám phê bình xây dựng. Một số đông trong hàng ngũ trí thức chúng ta không phê bình vì sợ bị hiểu nhầm, sợ bị nghi là lập trường không vững vàng. Một số khác có phê bình một vài lần những chưa thấy sửa chữa thì sinh ra tiêu cực, không tiếp tục phê bình nữa. Cả hai thái độ đó đều sai vì nó là những hiện tượng thiếu tin tưởng vào tính chất dân chủ của chế độ, thiếu ý thức chủ nhân ông đất nước.

Để giúp các cấp lãnh đạo sửa chữa những khuyết điểm cũ và đề phòng khuyết điểm mới, tôi thiết tưởng Ban Thường trực của Quốc hội có thể tổ chức một cơ quan thu thập tất cả những ý kiến phê bình của nhân dân, từ phê bình chính sách to lớn như chính sách Cải cách Ruộng đất, chính sách thuế khoá cho đến những phê bình nhỏ như thái độ của một chị bán hàng mậu dịch hay của một anh bán vé văn công. Cơ quan này còn có nhiệm vụ đến các địa phương để thu thập ý kiến đầy đủ của nhân dân. Cơ quan này chỉ có thể làm đầy đủ nhiệm vụ khi nhân dân có đầy đủ ý thức về tự do dân chủ.

Nhận rõ phần khuyết điểm của mình trong khuyết điểm chung đã mắc phải, trí thức sẽ dũng cảm phê bình và đảm nhận nhiệm vụ giáo dục nhân dân, không ai có thể phủ nhận được vai trò của văn nghệ.

Trong kháng chiến, chúng ta đã được học tập nhiều về lập trường và tư tưởng; trong hai năm hoà bình ta lại nặng về học tập, về kế hoạch nhà nước và chính sách kinh tế tài chính. Tôi thiết tưởng ta nên tổ chức những buổi học tập và thảo luận thế nào là tự do dân chủ, thế nào là chế độ dân chủ nhân dân v.v...

Để trả lời một cách tóm tắt câu hỏi này, tôi thấy: trong lúc này Chính phủ quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, nhân dân quyết tâm phê bình xây dựng Chính phủ, đó là hai điều tốt căn bản. Để sự phê bình có kết quả hơn, cần có một tổ chức của Chính phủ để thu thập ý kiến của nhân dân và cần phải giáo dục nhân dân có tự do tưởng và hiểu rõ chế độ của ta. Dĩ nhiên trong sự giáo dục này phải dùng rất nhiều hình thức và văn nghệ là một hình thức có hiệu lực rất lớn.

2. Để phát triển bất kỳ một ngành nào, vấn đề cần phải đưa ra thảo luận là vấn đề tự do dân chủ.

Điều này đã phát biểu ở câu hỏi thứ nhất.

1-10-1956


*


Trần Công và Trần Thịnh
Đã tiến thêm được một bước, cần tiến thêm bước nữa [7]

Từ đợt học tập tháng tám, giới văn nghệ vẫn chờ đợi giải quyết những vấn đề đã được nêu ra sôi nổi trong các tổ và trong buổi tổng kết.

Cụ thể ra, anh chị em công tác văn nghệ đòi thực hiện trước Đại hội Văn nghệ Toàn quốc những việc này.

1. Xét lại vụ Giai phẩm mùa Xuân

2. Xét lại vụ Giải thưởng Văn học 1954-1955

3. Mở rộng tự do và dân chủ, công bố và áp dụng ngay những nguyên tắc cơ bản của đường lối “trăm hoa đua nở”

4. Chấp nhận và thực hiện bốn đề nghị kết thúc bản tham luận của Tổ văn II (do Nguyễn Hữu Đang đọc) hôm tổng kết (26-08-56) đã được tuyệt đại đa số tán thành, gồm có:

- Anh chị em được học tập nữa, hướng vào yêu cầu của Đại hội và sửa đổi đường lối và chấn chỉnh tổ chức.

- Anh chị em được gặp Trung ương Đảng với mục đích trực tiếp phản ánh tình hình phong trào và hiểu rõ chủ trương của Đảng để căn cứ vào đó mà tiến hành kiểm điểm những việc cũ và chuẩn bị những việc mới.

- Bổ sung vào Thường trực Ban trù bị Đại hội một số đại biểu do anh chị em bầu ra. (Số đại biểu này phải đông hơn số người được chỉ định trước), đồng thời nếu trong Ban Trù bị có những người bị anh em chỉ trích nhiều thì cũng phải rút lui.

- Trong thời gian chuẩn bị Đại hội, Thường vụ Hội cùng với Thường trực Ban trù bị (đã được bổ sung) tích cực giúp đỡ cho việc anh chị em ra thêm báo được dễ dàng và Nhà Xuất bản Văn nghệ dành ưu tiên cho những tài liệu của anh chị em viết bàn về lý luận hay tổ chức văn nghệ.

Sau một tháng trời im lặng một cách nặng nề, gần đây chúng ta đã thấy Thường vụ Hội làm bốn việc:

- Anh Hoài Thanh đã tự phê bình bằng một cuộc nói chuyện và một bài báo về những sai lầm nghiêm trọng trong vụ Giai phẩm mùa Xuân.

- Anh Nguyễn Tuân đã viết một bài báo nhận những thiếu sót trong việc chấm giải văn học 1954-1955 mà anh phụ trách.

- Anh Nguyễn Đình Thi đã viết một bài báo nêu những khuyết điểm trong sự lãnh đạo văn nghệ nói chung.

- Thường vụ Hội ra một thông cáo công nhận những sự việc chính đã nêu ra trong ba bài báo nói trên. Ngoài ra, bản thông báo nói rõ: “Ban Thường vụ còn tiếp tục kiểm điểm và tích cực sửa chữa”, “Ban Thường vụ đã đề đạt những ý kiến và đề nghị của anh chị em lên Chính phủ” và “Ban Thường vụ đã đề nghị Ban Trù bị Đại hội bổ sung thêm một số đại biểu”.

Bốn việc này đã giải quyết được gì?

Công bằng mà nói, những sự kiện đó đã là một cố gắng làm dịu đôi chút tình hình sóng gió hiện nay của ngành văn nghệ và làm cho những quan điểm nhiều chỗ đối lập giữa bộ phận lãnh đạo và anh em nhích lại gần nhau hơn.

Chúng tôi thành thật hoan nghênh kết quả đó và mong rằng những cố gắng như thế sẽ được tiếp tục và đẩy mạnh để phong trào chóng thoát ra khỏi cơn khủng hoảng.

Nhưng một mặt khác, phân tích kỹ bốn sự việc trên, ta thấy một số ý định mới tương đối tiến bộ của Thường vụ Hội vẫn còn bị nhiều yếu tố bảo thủ kìm hãm lại.

Anh Hoài Thanh tự phê bình chưa thành khẩn, nghiêm chỉnh; ý kiến của hai bạn Hữu Tâm và Thanh Bình trình bày trong số báo này sẽ vạch rõ.

Anh Nguyễn Tuân nhận xét công việc chấm giải văn học 1954-1955 một cách đứng đắn hơn, gây cho anh chị em văn nghệ một ấn tượng tốt về thái độ của một người có trách nhiệm với phong trào, tôn trọng dư luận quần chúng và thật tâm muốn đi đến giải quyết hợp lý. Tuy vậy anh cũng chưa nói được toàn bộ sự thật.

Anh Nguyễn Đình Thi kiểm điểm “một vài sai lầm khuyết điểm trong sự lãnh đạo văn nghệ”, nhận “sự lãnh đạo của Hội và các đồng chí chỉ đạo ở Hội có nhiều khuyết điểm” và nêu ra ba cái dở cần chú ý là:

- Non kém trầm trọng về lý luận;

- Thủ công nghiệp, du kích, tuỳ tiện;

- Hẹp hòi, độc đoán cá nhân, thiếu dân chủ và tập thể.

Nhưng anh Thi lại chối cãi tinh thần bè phái, cho rằng chỉ có nể nang, xuê xoa và nếu có bè phái thật thì chỉ là cá biệt mà thôi. Hơn nữa, để cắt nghĩa tình trạng bị kìm hãm và những tệ hại hiện nay trong ngành văn nghệ, anh đổ gần hết cho khách quan: nào là “chúng ta vướng mắc với bản thân chúng ta khá nhiều”, nào là “những bệnh ấu trĩ của một nền văn nghệ vừa mới thoát thai từ một chế độ thực dân và phong kiến”... Còn phần chủ quan? Anh Thi đắn đo, dè dặt nói:

Có thể là trong lãnh đạo có những sai lầm, khuyết điểm kéo dài”.

Rồi anh xoá nhoà luôn cái điều mà anh cho là chưa chắc (!) đó bằng cách gài nó vào một hiện tượng quá phổ biến ở nước ta đến nỗi không còn biết nên coi là lý do chủ quan hay khách quan:

Những sai lầm đó có nhiều quan hệ đến tư tưởng sùng bái cá nhân”.

Chúng ta lấy làm lạ sao anh Thi lại nói như một người ở ngoài bộ phận lãnh đạo, như chính mình không chịu trách nhiệm gì về những sai lầm khuyết điểm kia. Và chúng ta lấy làm tiếc rằng bài kiểm điểm của anh nêu ra nhiều vấn đề, đều đáng chú ý cả, nhưng không làm nổi bật lên được cái then chốt. Với một thái độ mạnh dạn hơn, thẳng thắn hơn, anh sẽ có thể thống nhất nhận định với anh em để cùng tìm một giải pháp.

Còn bản thông cáo của Thường vụ Hội, nhờ có tính chất tập thể nên mặc dầu vẫn còn nói chưa bằng lòng đối với vài trường hợp chỉ trích mạnh (gọi là đả kích), cũng đã tỏ rõ một thái độ thật thà tiếp thu phê bình và sẵn sàng hợp tác với anh chị em để sửa chữa. Song chúng ta không thể nào đồng ý với bản thông cáo ở chỗ nó, chỉ nêu nguyên nhân là phương pháp sai, tác phong xấu mà bỏ quên hẳn tư tưởng và động cơ.

Tất cả những điều chưa thoả đáng nói trên biểu hiện sự rụt rè của lãnh đạo, một sự rụt rè rất không hợp thời. Quần chúng mong đợi một thay đổi lớn chứ không muốn chứng kiến một cuộc vá víu.

Và trên tình thân đó, anh chị em văn nghệ rất phấn khởi đón tin Trung ương Đảng sẽ gặp đoàn đại biểu của anh chị em trong một cuộc toạ đàm sắp tới.

Để gần nhau, chúng ta đã tiến được một bước đầu. Chúng ta sẽ cố gắng tiến thêm bước nữa.


*


Ý kiến bạn đọc: Về mấy bài phê bình báo Nhân văn [8]

Trần Bái, cán bộ, đường Nguyễn Thái Học, Hà Nội:

Tôi vẫn mến báo Nhân dân và báo Tiền phong, vì cả hai thường ngày tỏ ra đứng đắn. Nhưng tôi rất tiếc ông Nguyễn Chương ở báo Nhân dân chưa gì đã vội vàng buộc cho tập Giai phẩm và báo Nhân văn cái tội cố làm cho người ta tưởng lầm toàn bộ chế độ miền Bắc là độc tài độc đoán, chà đạp con người v.v..., và ông Trần Việt ở báo Tiền phong cũng vội vàng chụp cho ông Hoàng Huế cái mũ cố ý làm cho người đọc hoài nghi sự lãnh đạo giáo dục của Đoàn Thanh niên Cộng sản Lê-nin Liên Xô, đối với thanh niên ta v.v...

Tuy tôi cũng có vài điểm chưa đồng ý với Giai phẩmNhân văn nhưng tôi thấy qui tội như thế thì thật quá đáng, và không phải thái độ tranh luận chín chắn. Báo của Đảng và của Đoàn, nếu đã rút kinh nghiệm vụ Trần Dần mà ông Hoài Thanh vừa tự kiểm điểm, thì cần chú ý thận trọng hơn nữa về những cái mũ “sinh mệnh chính trị” này.

Phùng Báo Kim, sinh viên Văn khoa

“Có một luồng gió mới thổi vào nền văn nghệ chúng ta”, đó là cảm tưởng đầu tiên của tôi khi đọc Nhân văn.

Trong kháng chiến vì thù trong giặc ngoài, chúng ta hy sinh một vài quyền tự do để có quyền tự do rộng lớn ngày mai. Nay hoà bình lặp lại con người của chúng ta cần phải sống cho ra con người nghĩa là nó có lý trí nhưng đồng thời cũng có tình cảm tế nhị.

Chúng ta đã lớn lên, toàn thể nhân dân chúng ta đã lớn lên. Con mắt của chúng ta đã nhìn rõ được hai chiều, tim chúng ta cần nghe nhiều âm thanh, tim chúng ta cần có những phút sôi nổi. Văn nghệ có nhiệm vụ làm chúng ta thoả mãn những cái đó. Đọc Nhân văn chúng tôi cũng tìm thấy những cái đó tuy mới là bước đầu.

Chúng tôi mong luồng gió mới Nhân văn thổi mạnh hơn để góp phần vào công cuộc xây dựng một nền văn nghệ thực sự. Và nhiệm vụ của chúng ta là giúp cho luồng gió ấy thổi mỗi ngày một mạnh, đừng ngăn trở nó.


*


Mục "Hộp thư" [9] , thông báo nhận được bài vở của các bạn:

Thơ: Vũ Huy Cương, Lương Huy, Phạm Trung Anh, Hà Mỹ Kiều, Hạnh Tùng, Nguyễn Dậu, Lê Huy Năng, Lê Cẩm Hồ, Hữu Tâm, Hoàng Thao, Hồng Lực, Hữu Loan, Hoàng Huế, Lê Đại Thanh, Nguyễn Mạnh Dũng

Tuỳ bút: Lê Báo, Hồng Nguyên, Văn Tuyển

Không... cười: Nguyễn Đình Nam, Huy Chi, Kim Thép, Lê Việt, Nguyễn Liêm, Phan Vĩnh Bá, Nguyễn Thành Thân.

Phê bình, tranh luận: Đỗ Chí Tôn, Nguyễn Huy Chi, Vũ Nắng, Bình Minh, Nguyễn Châu Viên, Hoàng Tố Nguyên, Mai Thi và Đình Chú, Bạch Phan, Phượng Kỳ.

Cảm ơn các bạn. Chúng tôi đang đọc và sẽ trả lời riêng từng bạn sau.

N.V


*


Khung quảng cáo cho báo Trăm hoa số 1, phát hành 7 giờ sáng ngày 18-10-1956 [10]

Chủ nhiệm kiêm chủ bút: Nguyễn Bính
Toà báo: 17, Lê Văn Hưu, Hà Nội
Số 1 có những bài:
  • Trăm hoa - Hoa lại nở
  • Nguyễn Bính - Phải xét lại toàn bộ giải thưởng văn học toàn quốc 54-55
  • Vũ Trọng Phụng - Cẩm phạt (trích)
  • Hữu Loan - Mầu tím hoa sim (thơ)
  • Sê-cốp – Cái hắt hơi (truyện ngắn)
  • Sơn Nhân - Nhiều thứ Hoa… Kỳ
  • Người Hà Nội - Đề nghị bỏ hẳn lệ khai báo tạm trú
và các mục: Chuyện hàng tuần, Việc làng việc nước, Nhiều chuyện vui cuời, Tranh hài hước, Cuộc thi, Bìa và tranh của các hoạ sĩ Bùi Xuân Phái - Nguyễn Đức Nùng


*


Phê bình bài tự phê bình của ông Hoài Thanh [11]

Sau khi ông Hoài Thanh tự phê bình trong cuộc nói chuyện với sinh viên và trên báo Văn nghệ, chúng tôi nhận được rất nhiều bài gửi đến phản đối ông. Chúng tôi chỉ đăng hai bài tiêu biểu này thôi. Mặc dầu trong vụ Giai phẩm mùa Xuân ông Tố Hữu là người chịu trách nhiệm chính, ông Hoài Thanh cũng chưa nhận đúng mức lỗi mình ở cương vị thừa hành.

Thái độ chưa đúng của ông Hoài Thanh đồng thời cũng là thái độ chưa đúng của Thường vụ Hội Văn Nghệ.

Nhân văn


Hữu Tâm
Không thể giải quyết kiểu ấy được

Việc quần chúng nhân dân được rất tự do phát biểu ý kiến đối với lãnh đạo một lần nữa chứng tỏ sự trưởng thành, sự lớn mạnh không gì lay chuyển nổi của chế độ ta. Có thể nói rằng chế độ nào càng mạnh thì tự do ngôn luận càng rộng. Bọn tay sai đế quốc Mỹ ở miền Nam bó nghẹt quyền tự do ngôn luận, ta chẳng bảo là bằng chứng suy yếu của chế độ thối nát đó sao?

Nhưng tiếc rằng bên cạnh những việc phát biểu đàng hoàng, quang minh, đáng được khuyến khích ấy lại có những việc theo tôi không lấy gì làm đàng hoàng lắm.

Người ta có quyền đánh một dấu hỏi to khi được tin ông Hoài Thanh nói chuyện với sinh viên, và chỉ với sinh viên thôi về vấn đề Trần Dần với Giai phẩm mùa Xuân, mặc dầu sau đó nội dung bài nói cũng có đăng trên Văn nghệ số 139.

Người ta có quyền hỏi: “Sao những khuyết điểm của ông Hoài Thanh trực tiếp liên quan đến văn nghệ mà ông lại tự phê bình với sinh viên trước, và khi nói lại phải giấu kín các văn nghệ sĩ, giấu kín các báo trong khi các báo đang sôi nổi bình luận vấn đề mà nhân dân đang thắc mắc nóng hổi?”

Báo Hà Nội hằng ngày số ra ngày 20-09-56 đã viết: “Chắc lại sửa soạn gì đây?”

Người ta đoán có lẽ buổi nói chuyện đó dưới hình thức tự phê bình có mục đích dọn đường cho ông Hoài Thanh bước chân từ làng “văn” vào làng “giáo”. Mặc dầu có nhiều văn nghệ sĩ là giáo sư hay ngược lại, buổi nói chuyện đó vẫn có thể gây thắc mắc không riêng gì giới văn nghệ mà cả trong giới sinh viên nữa.

Nhưng đó là một vấn đề khác mà những câu trả lời của ông Nguyễn Mạnh Tường đăng trên báo Nhân văn số 1 đã nêu ra nguyên tắc.

Ở đây, tôi chỉ xét câu chuyện của ông Hoài Thanh trong phong trào văn nghệ hiện nay.

Ông Hoài Thanh đã nhận rằng trong việc phê bình Trần Dần, ông đã dùng lối áp bức mệnh lệnh, lấy đa số đàn áp thiểu số, đã lầm lẫn bạn và thù, cho Trần Dần là phản động vì đã mang sẵn thành kiến trong mình lại “dựa dẫm vào ý kiến chung quanh”, do đó gây ra không khí e ngại không có lợi, có thể làm cho người ta hiểu lầm về bản chất hoàn toàn tự do của văn nghệ ta rồi kết luận là đã rút ra được một bài học lớn.

Nhưng khi đọc bài tự phê bình (tôi không được cái hân hạnh đi dự buổi nói chuyện) tôi vẫn cảm thấy sở dĩ ông Hoài Thanh có khuyết điểm nặng như trên là do Trần Dần đã “gieo rắc buồn nản hoang mang”; do thơ Trần Dần “có sức là tiêu ma chí khí đấu tranh”, ông chỉ có khuyết điểm là cách đấu tranh không đúng với tư tưởng phi vô sản; hơn nữa là do những tin tức về vụ Hồ Phong bên Trung Quốc vừa truyền sang, do dựa dẫm vào ý kiến chung quanh nhiều hơn là do bản thân ông, chưa chắc đã là do quan liêu, mệnh lệnh, tôn sùng cá nhân, ăn cánh mà có. Nói một cách khác cho rõ hơn, ông Hoài Thanh chưa thành khẩn nhận lỗi, vẫn đổ cho khách quan và chưa công nhận những khuyết điểm mà các báo chí hay Giai phẩm đã nói ở trên, gián tiếp cho rằng quần chúng phê bình mình không đáng kể.

Hơn nữa, ông Hoài Thanh có viết là mãi đến khi Hồ Chủ Tịch nói ở vườn hoa Ba Đình, ông mới nghe như đột ngột đã phạm sai lầm lớn. Câu này ý mâu thuẫn với ý đoạn ông viết ở trên là ông đã đo được sai lầm của ông sau khi anh em văn nghệ sĩ phê bình ông rất sôi nổi ở lớp học lý luận văn nghệ.

Lại còn nữa. Ông nói là rất thấm thía khi có một đồng chí T.Ư nói “Gắn một chữ phản động vào tên người ta như vậy là một điều đến mấy đời sau này con cháu người ta còn lấy làm khổ”. Rất đúng. Nhưng tôi vẫn cảm thấy qua câu này rằng có chỉ đồng chí T.Ư mới làm ông thấm thía thôi chứ anh em văn nghệ sĩ phê thế nào cũng không thể thấm thía được.

Tư tưởng sùng bái cá nhân, coi nhẹ ý kiến quần chúng vẫn bộc lộ trong lập luận bài tự phê và ngay trong bản chất, trong tiến hành việc tự phê nữa.

Tôi không tham gia Giai phẩm mùa Thu hay báo Nhân văn, lại cũng có ý kiến bất đồng với nhiều bài trong đó nữa. Nhưng tôi vẫn kết luận:

Cán bộ có thành khẩn, mạnh dạn tự phê bình mới tránh khỏi sự đào thải, mới cải tiến được công tác, mới tăng thêm uy tín của Đảng, của Chính phủ.

Đã đến lúc mà bất cứ công việc gì có ảnh hưởng lớn đến quần chúng đang thắc mắc nóng hổi, cần phải được giải quyết rạch ròi như ban ngày trước mặt họ. Quyết không thể giải quyết những vấn đề như thế theo kiểu thường làm từ trước tới nay được.

22-9-1956

Thanh Bình (cán bộ văn nghệ miền Nam)
Vài ý nghĩ về thái độ tự phê bình của ông Hoài Thanh

Báo Văn nghệ số 139 đăng bài tự phê bình của Hoài Thanh. Tôi mong mỏi bài ấy từ lâu nhưng đọc xong tôi thấy thất vọng. Tôi có ấn tượng còn lâu lắm mới giải quyết được vụ Giai phẩm mùa Xuân. Khuyết điểm bài phê bình ấy không phải là khuyết điểm đơn thuần của một nhà phê bình văn học mà nó là khuyết điểm của việc lãnh đạo, của Hội Văn nghệ mà ông Hoài Thanh là đại diện. Đó là thực tế. Bài tự phê bình của ông Hoài Thanh chưa cải thiện được tình hình chút nào, vì không đáp ứng được đòi hỏi của anh em văn nghệ sĩ quần chúng. Tôi không muốn trở lại nội dung bài thơ "Nhất định thắng" mà chỉ nói về thái độ tự phê bình của ông Hoài Thanh.

Mở đầu bài tự phê bình, ông đưa những lý luận về đấu tranh tư tưởng. Lý ông nói thì cũng đúng lý nhưng không đúng chỗ. Tôi không hiểu ông muốn tự phê bình hay muốn dùng lý luận để chứng minh việc ông phê bình bài thơ là đúng. Ông viết:

Một bên là những tư tưởng cách mạng của giai cấp vô sản kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của nhân loại, một bên là những tư tưởng áp bức bóc lột, sa đoạ, đồi truỵ của xã hội thực dân, phong kiến cũ nó đang liên hồi phản công vào chế độ chúng ta...

Tôi nghĩ: tư tưởng quan liêu, mệnh lệnh, áp bức kẻ dưới cũng là của xã hội thực dân, phong kiến cũ còn lại trong một số cán bộ lãnh đạo của chúng ta. Tôi cũng nghĩ rằng Trần Dần có áp bức, bóc lột ai đâu mà ông lại nói thế?

Ông Hoài Thanh đã chủ động điều khiển một cuộc họp để cho một số người đả kích anh Trần Dần một cách oan uổng không tiếc lời và chính tay ông đã viết một bản án gieo oan vu hoạ cho Trần Dần. Thể xác Trần Dần suýt thành đất đen, sinh mệnh chánh trị Trần Dần bị thủ tiêu, quyền sáng tác thiêng liêng của nhà văn Trần Dần bị chà đạp. Những cực khổ ấy chưa đủ ư? Mà trong bài tự phê bình ông còn đả kích thêm Trần Dần với những danh từ hiểm độc: “trịch thượng”, “hoang loạn”, “tâm trạng âm u, điên loạn”...

Ông còn cho rằng “đấu tranh chống cái tác hại trong bài này là đúng”, nhưng thực tế có phải là đấu tranh chống cái “tác hại” của bài thơ ấy theo nguyên tắc chỉnh huấn “căm thù khuyết điểm, thương yêu đồng chí” đâu, mà chính là tiêu diệt tác giả bài thơ ấy theo tinh thần bè phái vu bạn là thù. Nhưng dẫu vụ Giai phẩm mùa Xuân xấu xa đến đâu đi nữa quần chúng cũng vẫn có độ lượng, cả những người trực tiếp bị tai hoạ cũng thế. Anh em văn nghệ sĩ, quần chúng muốn gì? Người ta muốn ông Hoài Thanh đại diện của Hội Văn nghệ thấy rõ khuyết điểm, tự phê bình nghiêm khắc và sửa chữa cụ thể. Thế thôi! Vì sao? Vì ai cũng yêu chế độ, tin ở Đảng và ghét những việc sai lầm.

Ông Hoài Thanh đã tự phê bình thế nào?

Đọc một đoạn dài ông kể tỉ mỉ những sự việc nó dẫn đến sai lầm của ông và phân tích, nhìn nhận nhiều khuyết điểm, tôi thấy ngòi bút của ông còn khách quan quá. “Khách quan” đây có nghĩa là chỉ những khuyết điểm như tất nhiên do hoàn cảnh, do anh em chung quanh gây ra mà ông chỉ là người “bị ảnh hưởng”. Ông Hoài Thanh dùng nguỵ biện để thanh minh cho mình nhiều hơn là tự phê bình nghiêm khắc. Người ta không thấy ở ông một chút gì hối hận, đau xót đối với một việc sai lầm độc ác to lớn như thế và ông cũng chưa tìm ra hay không muốn tìm ra nguyên nhân khuyết điểm của mình.

Ông cũng có nói:

... Không thực chất cầu thị, không bình tĩnh sáng suốt thì thật là nguy hiểm, nhất là khi đứng trong cương vị lãnh đạo thì lại càng nguy hiểm hơn”.

Chữ “nguy hiểm” ông dùng một cách cũng nguy hiểm lắm. Người ta không hiểu nguy hiểm cho ai? Cho anh Trần Dần hay cho ông Hoài Thanh? Hay cho quần chúng? Không phải tôi chơi chữ đâu vì, ông Hoài Thanh không phải là người thiếu danh từ chính xác để tự phê bình, mà phải dùng đến những tiếng không rõ ràng, ấp úng. Ông nói có vẻ pha trò:

Đấu tranh với sai lầm của người sao mà vội vàng thế? Đến khi đấu tranh với sai lầm của mình lại chậm chạp thế?

Cách tự phê “bình khéo” léo ấy làm cho tôi chưa thấy ông Hoài Thanh thành khẩn nhận khuyết điểm của mình và đau xót với nó bằng nhiều người ngoài cuộc đau xót.

Một điểm khác mà tôi muốn nhấn mạnh là ông Hoài Thanh trong bài tự phê bình đã khinh miệt quần chúng và nịnh hót lãnh tụ một cách trắng trợn.

Suốt mấy tháng nay, trong bao nhiêu cuộc họp phê bình đóng góp xây dựng, dư luận báo chí, quần chúng bàn tán xôn xao như chuyện cháy nhà, xao động cả thủ đô, thế mà ông Hoài Thanh “cứng như thép vững như đồng” không mảy may lay chuyển. Ông nói:

Mãi đến hôm Quốc khánh vừa rồi ở quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào, Hồ Chủ tịch sau khi nhắc lại những thắng lợi của ta nói rõ ràng cái điều trước đó đăng báo, nhưng hôm ấy tôi nghe như rất đột ngột là ta cũng đã phạm sai lầm lớn...

Nguyên do thứ hai mà ông “thấm thía” khuyết điểm của mình là có một đồng chí Trung ương Đảng nói cho biết tác hại to lớn của việc ông đã làm.

Quả thật “nhờ đèn trời soi sáng”, ông Hoài Thanh mới thấy được sự thật, còn bao nhiêu đau khổ bi đát của người chịu tai hoạ do ông gây ra, bao nhiêu tiếng phẫn nộ của anh em văn nghệ sĩ, của quần chúng, ông đều coi thường cả. Ông vô tình hay cố ý mà không nghe, không thấy?

Tôi tự hỏi: Nếu hôm Quốc khánh, ông Hoài Thanh vì việc gì khác không đến quảng trường Ba Đình hoặc Hồ Chủ tịch bận việc không đến được và hôm nào đó ông không gặp đồng chí Trung ương thì vấn đề này sẽ ra sao? Ông có viết bài tự phê bình không?

Tôi thấy sau khi đã học tập về sai lầm của Sta-lin rồi mà đầu óc sùng bái cá nhân của ông Hoài Thanh còn đặc sệt đến như thế thì không còn trời đất nào nữa. Một bên thì ông nịnh hót lãnh tụ, nịnh hót Trung ương như thế, một bên ông khinh miệt văn nghệ sĩ như thế thì làm gì ông thấy rõ được con người của ông và việc làm của ông.

Ông Hoài Thanh nói: “Lúc bấy giờ đã đo được cái sai lầm của tôi”.

Tôi thấy ngược lại đến bây giờ ông cũng chưa đo được đúng mức sai lầm của ông bởi vì ông chỉ “thấm thía”, với cái ý kiến cấp lãnh đạo mà không thấm thía với ý kiến của quần chúng văn nghệ sĩ. Ở đoạn chót, ông cũng có viết “anh em giúp tôi”, vì để kết luận bài tự phê bình ông phải nói một câu công thức chứng tỏ tinh thần lắng nghe quần chúng nhưng đồng thời cũng lại để cho người ta thấy ông đã chỉ tự vươn mình lên thôi.

Tệ hại hơn là ông Hoài Thanh đã lợi dụng bài tự phê bình để đề cao cá nhân mình. Sau khi đả kích Trần Dần thêm, viện lẽ để bào chữa cho mình, tán dương lãnh tụ rồi thì ông tự tán dương mình. Đọc xong bài tự phê bình người ta thấy gì? Ta thấy một Hoài Thanh được “chỉnh huấn”, “tham gia đấu tranh ở nông thôn”. Ông vươn mình lớn hẳn lên theo lãnh tụ. Lời nói của Hồ Chủ tịch, của đồng chí Trung ương Đảng giúp cho ông thầy “đường hướng mới” để đi theo và “gột rửa tàn tích” cho mình. Tuyệt nhiên không có một chữ nào ông nói đến tác hại của việc làm, đối với Trần Dần, với phong trào văn nghệ. Tôi có cảm giác như ông đã “tiến lên” bằng cách giày xéo bao nhiêu là nhân phẩm, bao nhiêu là tác phẩm.

Ngòi bút phê bình văn học lâu đời của ông Hoài Thanh, tác phong thành khẩn tự phê bình ở người cán bộ lãnh đạo, trách nhiệm tập thể của Ban Chấp hành Hội văn nghệ, vai trò tiền phong gương mẫu của người đảng viên và cao hơn hết là sự đòi hỏi của quần chúng không cho phép ông Hoài Thanh viết một bài tự phê bình chiếu lệ như thế đối với một sai lầm nghiêm trọng mà Trung ương Đảng, giới văn nghệ và quần chúng đã lên án từ lâu và hiện đang còn tác hại.

27-9-56



[1]Trang 1, vị trí xã luận, trên cùng, bên trái, gồm tiêu đề và ký hoạ chân dung Vũ Trọng Phụng, không đề tên tác giả, xem tiếp ở trang 2 (các chú thích đều của talawas)
[2]Mất mấy chữ, vì báo rách, chưa khôi phục được
[3]Mất mấy chữ, vì báo rách, chưa khôi phục được
[4]Năm 1937, André Malraux là một nhà văn tiến bộ. Từ sau Đại chiến lần thứ Hai (1939-1945), A. Malraux đã trở thành phản động. N.V (chú thích trong nguyên bản của báo Nhân văn)
[5]Trang 1, vị trí bài cái, xem tiếp ở trang 5
[6]Trang 1, xem tiếp ở trang 6
[7]Trang 1, xem tiếp ở trang 6
[8]Trang 2
[9]Cuối trang 2
[10]Cuối trang 2
[11]Trang 3, xem tiếp ở trang 5
Nguồn: Nhân văn số 3, ngày 15.10.1956. Bản điện tử do talawas thực hiện.