trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 482 bài
  1 - 20 / 482 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcThơ và Thơ Trẻ
Loạt bài: Thơ đến từ đâu
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25 
22.3.2007
Khải Minh
Ngày nào thơ Việt Nam chưa có lý thuyết mới thì…
Nguyễn Đức Tùng thực hiện
 1   2 
 
Nhà thơ Khải Minh
Nguyễn Đức Tùng: Xin chào anh Khải Minh, người có khuôn mặt giống tài tử Hugh Grant, một trong những chàng trai say đắm thơ ca mà tôi đã được gặp.

Khải Minh: Chào lại anh~~thơ, người đẹp, bạn bè và miền Đông xưa~~tuyết ấm.

Nguyễn Đức Tùng: Thơ đem lại cho anh điều gì mà khiến anh qua nhiều năm tháng, cứ sau mỗi khúc quanh của đời mình, đều quay lại với nó?

Khải Minh: Giữa những chao đảo của đời người, thơ đem lại hấp lực sáng tạo cho chúng ta. Trong cơn chao đảo, tính chủ quan của những lý trí, cảm xúc, hiện hữu của chúng ta sẽ chạm đến giới hạn hoặc trở thành bất lực để rồi phải nhường chỗ cho "con tạo xoay vần". Lúc này, không phải con người sáng tác mà là thơ sáng tác nơi con người. Ở mỗi khúc quanh cuộc đời, chúng ta thường đối mặt với trạng thái chẳng còn biết làm gì, chẳng biết viết gì, chẳng còn rõ hình dạng tác phẩm sẽ ra sao... để mặc thơ sáng tác.

Riêng mình thì đam mê đã làm não quen tiết chất hưng phấn (endorphins) để lâu lâu hay mỗi khi cuộc đời chao đảo thì cơn nghiện thơ trở về và endorphins lại tiết thơ.

Nguyễn Đức Tùng: Nhà thơ Đỗ Quyên có nói trong một lần trao đổi rằng: Khải Minh là người của thế giới khác. Đối với tôi, đây là một nhận xét hết sức có ý nghĩa, trước khi bắt đầu trò chuyện với anh. Chúng ta sẽ cố gắng đi tìm một thứ ngôn ngữ giao tiếp chung. Khởi đầu bằng định lý Pythagore chăng?

Khải Minh: Có lẽ Đỗ Quyên đang "tuý luý trường ~~ vũ trụ ca" nên mới nói vậy. Và vì Đỗ Quyên nói vậy nên định lý của chúng ta có thể là:

"Thơ (giao với cõi vô hình) sinh Tư duy, Tư duy (giao với cõi hữu hình) sinh Truyền thông (ngôn ngữ), Truyền thông mang máu Thơ lẫn mạch Tư duy giao với người sáng tác".

~Thơ ~~ Tư duy ~~ Truyền thông ~~ Sáng tác~

Mình dùng dấu "~~" (tạm gọi là dấu giao) ở đây để tả sự liên kết này không phải là một hoặc đa chiều, cũng không phải là hệ thống kín như vòng tròn kiểu Xuân Thu Nhã Tập, cũng không phải mở toang một cách vô thưởng vô phạt như kiểu bố cục của một số truyện, phim hiện nay. Dấu "~~" diễn tả sự chuyển biến~~tác tạo các yếu tố do chúng nối kết thành một bố cục thẩm mỹ trong mỗi tác phẩm nghệ thuật.

Trong ngôn từ hàng ngày, dấu "giao" này cho phép chúng ta thẩm định nhiều thứ. Thí dụ, chúng ta có thể dựa vào sự tác tạo giữa tư duy và ngôn ngữ để xét xem hai từ "Việt kiều" hoặc câu "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của ông Hồ Chí Minh mà cả nước hiểu là "Không có gì quý BẰNG độc lập tự do" có phải là ngôn ngữ giao với tư duy không?

Tiếp tục suy diễn "định lý" trên vào thơ. Tuỳ mức độ giao nhau giữa ngôn ngữ với tư duy, chúng ta sẽ thấy trình độ tư duy. Tuỳ mức độ tư duy và thơ giao nhau, chúng ta sẽ thấy tầm cỡ nghệ thuật. Hiện tại, thơ chúng ta có rất nhiều sáng tác chỉ đạt nghệ thuật ở đơn vị từ, đơn vị câu. Hãy luyện tập thêm tư duy để đạt điểm toàn bài.

Nguyễn Đức Tùng: Thơ Việt Nam hiện nay đang ở đâu?

Khải Minh: Thơ (hiện tượng thơ) Việt Nam hiện nay đang ở chỗ chưa có lý thuyết mới. Cách sáng tác vẫn còn ở dạng thô từ hai cấu trúc ngôn ngữ: "tịnh tiến" và "đề thuyết".

1. Loại “con cóc": sáng tác theo kiểu tịnh tiến (kể, đếm, xếp: lý sự).

2. Loại "lục bát": sáng tác theo kiểu đề-thuyết (tả, cảm, than: tình tự).

Nguyễn Đức Tùng: Vì nhiều độc giả sẽ không quen với cách diễn đạt của Khải Minh, xin anh giải thích thêm vì sao gọi là loại "con cóc", loại "lục bát"? Rồi các khái niệm "tịnh tiến"? "đề thuyết"?

Khải Minh: Mình chỉ mượn khái niệm “tịnh tiến” và “đề thuyết” vì chúng là hai dạng phân tích ngữ pháp trong tiếng Việt để nói về lý thuyết thơ Việt. Ý chính ở đây là nên đem thơ ứng dụng vào ngôn ngữ chứ không nên đi ngược lại. Ngoài “tịnh tiến” và “đề thuyết”, thơ còn có thể khai triển trên nhiều mẫu lý thuyết khác. Ở đây, mình chỉ xin tóm tắt ý chính:

1. Con cóc~~Tịnh tiến:

Tịnh tiến có nghĩa là từng bước. Viết theo tịnh tiến là viết bằng cách trả lời từ thắc mắc này sang thắc mắc khác, khởi từ đề tài cho đến hết bài. Thí dụ, với đề tài về thú vật thì quá trình sáng tác theo cách tịnh tiến có thể khởi đầu là con gì? ở đâu? với ai? làm gì? khi nào? tại sao? v.v… như dàn bài sau:

Con gì? Con cóc.
"Con cóc" làm gì, ở đâu, khi nào? Con cóc trong hang.
"Con cóc trong hang" làm gì? Con cóc làm thơ.
"Con cóc làm thơ" tại sao? Con cóc cứu nước.
"Con cóc cứu nước" để làm gì? Để bị chết khô.

Nếu viết lại cho có vẻ "thơ" kiểu học trò thì:

Con cóc trong hang
Con cóc trong hang?
Con cóc làm thơ
Con cóc làm thơ?
Con cóc cứu nước
Con cóc cứu nước?
Con cóc chết khô
...

Cứ tịnh tiến như vậy, đi từ thắc mắc này sang thắc mắc khác, cuối cùng, chúng ta sẽ có một bầy thơ “Con cóc” để tự hào mỗi người Việt là một nhà thơ. Hãy phân biệt "Tịnh tiến thơ" và "Thơ~~tịnh tiến":

Tịnh tiến thơ: biến nghệ thuật thơ thành cấu trúc ngôn ngữ tịnh tiến. Về ngữ pháp thì câu cú theo mô hình này sẽ có cấu trúc đúng ngữ pháp. Về tư duy thì chỉ dừng lại ở mức lý sự (lý luận trên sự việc).

Ngược lại,

Thơ~~tịnh tiến: ứng dụng cấu trúc ngôn ngữ tịnh tiến vào nghệ thuật thơ. Thí dụ, khi chúng ta thay những "thắc mắc~~sự việc" ở bài con cóc trên bằng các yếu tố như "thực", "ảo", "ý niệm", "cảnh", "nhạc", "tình", "lý"... thì về thi pháp: cấu trúc giữa các từ, câu, khổ, bài sẽ có mạch chuyển kết rõ ràng. Về thi ý: cảnh, lý, tình, nhạc sẽ vừa do ngữ nghĩa phát sinh (kiểu vần điệu), vừa do sự chọn lựa (không chủ quan mà tác tạo) nơi người sáng tác.

2. Con cóc~~Lục bát~~Đề thuyết:

Đề: đưa ra một đề tài, một thông tin, một ý gì đó.

Thuyết: giải thích, tả, kể, diễn, triết về cái vừa đưa ra.

Thuyết ở đây dựa vào người đưa ra đề tài nên nó có thể bị chủ quan hoá đến độ làm biến dạng cả ngữ pháp lẫn tư duy. Thí dụ, đề tài "Con cóc":

Con cóc: da xù xì, cậu ông trời, mưa, ộp ộp, phê bình, đáy giếng, nổi tiếng, dở, giỏi, xấu, độc, triết... Từ những thứ kể trên hoặc tưởng tượng thêm, người thuyết có thể giải thích kiểu:

Con Cách cậy cậu ông thời
Vọc thơ~~đáy giếng gặp trời sắp mưa

hoặc không cần động từ hay ngữ pháp, cứ ngớ ngớ cho người thường thoả mãn tâm lý sờ voi.

Tình tang da cóc ~ọc ~ông
Rù rì hang hóc ~àng ~ong áo quần

Đề thuyết thơ: Mượn cảnh tả tình. Biến sự tự vận hành của ngữ nghĩa thành may rủi, ngẩn ngơ hoặc lạc đề. Những bài thơ bị đề thuyết hoá (lục bát lẫn thơ vần hoặc tự do) thường không có bố cục hoặc nếu có thì lại rặc một lối tả, kể, thuyết, truyện... Loại thơ này giống văn xuôi khi được hoặc bị pha thêm ngôn từ ngớ ngớ, bị hoặc được ngắt đủ kiểu theo cụm từ, câu, khổ, đoạn. Đề thuyết thơ giống như giai đoạn một trong lý thuyết viết theo vô thức của trường phái Siêu thực bên Tây: Nhắm mắt viết, say sảng viết, viết ào ào, viết đủ thứ.

Thơ đề thuyết: Thơ tạo sườn sáng tác để chuyển từ dạng "mượn cảnh tả tình" thành dạng "tự tạo cảnh, tự tạo tình".

Nguyễn Đức Tùng: Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?

Khải Minh: Bài thơ sau sẽ khai triển thơ từ thuyết “tịnh tiến” của ngôn ngữ Việt. Thay vì khởi đầu viết bằng cách trả lời các thắc mắc thuộc hệ lý sự như ngôn ngữ tịnh tiến, thơ tịnh tiến đi thẳng vào hoàn cảnh sáng tác (hoàn cảnh ở đây là câu hỏi:"Bài thơ của anh bắt đầu ra sao?"). Rồi từ những câu mở đầu, hãy tìm hoặc tạo ra những từ, những cụm từ hoặc những câu có tiềm lực tác tạo lớn (tiềm lực trong bài thí dụ dưới đây là "để thở" và "sáng tạo"). Rồi tiếp tục sáng tác theo luồng tiềm lực này để khai triển bài thơ (thí dụ từ "thở", "sáng tạo" khai triển sang "nắng"). Kết quả, chúng ta sẽ thấy sự tác tạo giữa "thở", "sáng tạo", "nắng"; "nắng" tịnh tiến giữa "nắng thực", "nắng ảo", "nắng thật", "nắng ý niệm", "nắng thơ" hoặc pha chế giữa các yếu tố ngữ nghĩa cảnh tình này đã hình thành bố cục nghệ thuật cho bài thơ.

Bây giờ, mình xin trả lời anh bằng một bài thí dụ như sau:

Bài thơ bắt đầu khi tôi nén được chút giờ ~~ để thở
u i uuuouua ~~ phỏng vấn, uaaôaaauii ~~ sáng tạo
Nghĩ ~~ nghệ thuật~~rờn rợn những cuộc đời nghệ sĩ
thí dụ những nhà thơ thiếu nắng (không cửa)
đời họ: Sướng Khổ lớn lao ~~ cùng những dấu hỏi
Tinh tú đầy mắt ~~ làm sao có máy bay?
Gai góc lạ đời ~~ thốt thơ sao cùn nhũn?
Gào rách, hét hung!, rưng rưng, mài, cắt, nỉ non ...
và còn bao nhiêu thổn thức ~~ bao lâu nữa mới là nghệ thuật?
(Nhạc trổi, phim ảnh chạy nền, khán giả vỗ tay theo quán tính)
Ai biết trong thơ~~uuuuuoa a oa ~~ thí dụ có gió giữa sướng khổ cùng nắng bên ngoài hư ảo có thật nhiều cửa.

Sướng trổi lên, hư thực chạy nền, khổ lù lù, khán giả ngơ ngác
nghệ sĩ ngừng những gõ gõ, gửi đi, nhắn lại hoặc thôi mò mật mã tìm mở cõi vô hình,
Thơ ~~ gió bên ngoài có thật và nắng toả ra từ dấu thở
Mắt trổ tinh tú ~~ óc lù lù gai góc,
nhà thơ rời sân khấu~~khán giả theo Thơ
Nắng uốn mình ~~ qua Cửa ~~ nhập Vế (không chỉ bốn vế trên giường)
dồn dập thở ~~ai sẽ tắm~~ánh sáng~~bộ phận sinh dục của tâm hồn~~chuyến bay ~~thơ?

-------------------
Gợi cách chuyển kết ý-ảnh-nhạc trong bài trên:

thở 1= sáng tạo; thở 2 = sáng tác; thở 3 = diễn thơ
nắng 1 = cõi thực, nghĩa đen cùng nghĩa bóng
Hư ảo = gió= có thật
gió= sướng khổ = nắng2 = cõi ảo
nắng 3 = ý niệm (chỉ có trong tư duy)
nắng 4 = sáng tạo
khán giả = người đọc = áp lực
cửa = dấu hỏi = nghệ thuật = người sáng tác thơ = vế = sáng tạo

Nguyễn Đức Tùng: Đây có phải là một trong những bài thơ vừa ý nhất của anh không?

Khải Minh: Thưa không. Xin đưa ra vài lý do:

Hình thức cách trình bày trên đây đã quá cũ và đơn giản.

Thơ, theo mình, ít ra hình thức có thể được trình bày theo bảng, theo sơ đồ, theo khối, theo góc, theo cách sắp đặt nhiều chiều, nhiều cạnh, nhiều cảnh với các vị thế song song, so le, đối chiếu hay bất cứ dạng văn bản nào đó miễn là nó phản ánh được tư duy đi từ chỗ lấy câu cú làm điểm tựa đến khổ đoạn, rồi lên đến toàn bài. Chúng ta thấy có nhiều video clips của ca nhạc hoặc thơ làm người thưởng thức xuất thần mê mẩn đến nỗi chẳng còn tha thiết đến lời hay ngôn từ nữa. Cũng vậy, hơn bao giờ hết, kỹ thuật hình ảnh và âm thanh hiện nay đã đưa chúng ta đến một vũ trụ lạ, một hiện hữu khác, một cấp nghệ thuật cao hơn. Hãy tưởng tượng chúng ta dùng video clips để thể nghiệm các bài thơ của chính mình, chuyển tất cả chữ nghĩa thành ảnh, thành nhạc… Khi đó, chúng ta sẽ xem diện mạo của thơ, tính chất của thơ, các yếu tố cấu thành bài thơ… biến đổi như thế nào.

Câu hỏi ở đây đã khác, hoàn cảnh khác, tâm tư khác, trực diễn khác,...văn bản thơ~~vừa ý phải khác. Nói đơn giản hơn thì nghệ thuật thơ hình thành ở quá trình tự tịnh tiến, tự đề thuyết. Nghĩa là, ngôn từ của thơ tự phát và tự cấu kết nhiều khi ngoài mọi ý đồ hay cảm hứng của người sáng tác. Vì vậy, nếu có chuyện ưng ý thì chỉ nên có những bài thơ ưng ý với người sáng tác (sáng tác như xuất thần) và không nên có hiện tượng ngược lại.

Vì văn bản thơ (phần xác) còn tù túng và nén kín hơn những nốt nhạc và ca từ trong một bài ca nên nó cần phải có những ký hiệu tác tạo (không gian sống động với thời gian) cho hồn phát tiết. Bài thơ trên giấy hay nơi màn ảnh, dù multimedia, dù công phu hay đơn giản, quen hay lạ cũng chỉ là dạng thân xác. Nếu so văn bản thơ với thân thể người, theo tinh thần của câu tục ngữ "cái nết đánh chết cái đẹp" thì nhiều khi ngôn từ khởi sự có vẻ tầm thường, tàn tật, gông cùm, dân dã, sáo mòn... nhưng khi sáng tác theo thơ tịnh tiến hoặc thơ đề thuyết thì bài thơ lại có thể biến thành hoa hậu trong kiểu truyện Tấm Cám. Tại sao? Tại vì nghệ thuật ở đây thuộc dạng tác tạo chứ không còn dạng xấu đẹp riêng lẻ hoặc ngữ nghĩa dị biệt nữa.

Và anh hỏi câu này có khác gì bắt sáng tác một bài nữa. Bài dưới đây biến mô hình ngôn ngữ tịnh tiến và ngôn ngữ đề thuyết của tiếng Việt thành thơ tự tịnh tiến để tạo bố cục cho câu đoạn và thơ tự đề thuyết để tạo bố cục cho toàn bài.

Cách chuyển kết của bài đã được đơn giản đi, nhiều chỗ còn cố để tả kể, có chỗ còn ghi chú trong ngoặc đơn... (những thứ lấn lướt nghệ thuật) so với bài thơ trả lời trên kia để người đọc tự thử nghiệm cách tạo hình thức nghệ thuật cho bài thơ.

Hoạn nạn~~Tôi ~~ Việt Nam

Chẳng kịp tạm biệt Long Lanh
Tai hoạ ập đến ~~ tôi cố chịu
gục xuống, im ~~ người ngợm lẫn thời thế bước, giẫm, day qua
Những vô tình tôi ráng đỡ
Những cố tình ~~ đớn đau ("~~": ở đây hiểu ngầm là "Việt Nam")
Ngày lại lên ~~ thôi thúc chốn đường cùng
Gượng dậy một chút ~~ khổ muôn trùng níu lại
1955 ~~ 1975 ~~ 2005
và biết bao khốn khó cũ mới khắp nơi kề tới
bấu víu kiếp người ~~ tôi 2006
giữa Thượng Đế trần truồng khát khô và kiêng thịt.
Có những nghệ sĩ rách đít vì tâm tư quá lớn mà miệng bị cấm.

Đêm đít rách ~~ trừng trừng nghe
những tư duy vì khốn khổ mà lưỡng lự chuyện đổi tâm tính
những âm u thưa hỏi không lối thoát
những ầm ầm chuyện lớn~~làng xóm chẳng ai tin
Đêm khát khô và kiêng ngủ~~thầm toan tính
nếu chết, bảo hiểm được bao nhiêu? ~~ mấy trăm ngàn?
mà suy~~phải sống, sống vì nợ~~nợ tiền của kia tính ra thành mấy kiếp!
Đêm rỗng ruột ~~ (đít) sấm
Cây cao cây nhỏ ~~ gió cả~~một lũ nằm bên đường
Thuyền to thuyền bé ~~ sóng lớn~~một bầy nơi đáy biển
Chim đã quên chỗ và khách xưa hết gọi
Người ở đỉnh hải vọng cũng theo ghe cứu cấp xa tôi.
Mỗi giả thuyết tình là bao nhiêu lầm tự tính?
Đành im ~~ râm ran sấm: hỡi nạn nhân!
sống chết ngươi đã thuộc về thế giới nợ nần
nơi từng ở những vĩ nhân và thượng đế
hãy cố gượng và cầu ân.

Thượng đế nằm đấy
có người cúi xuống tìm chiếc lá,
thấy cảnh quằn quại bèn e ngại bỏ đi~~đi
đi tìm nghệ thuật, tìm chân thiện mỹ, tìm Chúa
Vĩ nhân nằm kia
có người cúi xuống kiếm bạc
thấy hấp hối, mừng rỡ thủ lợi rồi tiếp tục~~cạnh tranh không cộng tác.
Chúng tôi nằm đây
quyền thế cúi xuống tìm thời cơ
thấy bất công liền tuyên bố đủ điều ~~ to cơm lắm cật.

Những con số ở đây: tình và khốn nạn
Những con~~cật con đưa nạn nhân vào những nơi khủng khiếp
Chẳng kịp tạm biệt ai
Phận người ~~ rơi xuống ~~ Chiếc lá ~~ Tình ~~ cúi mặt
Không nể Thượng đế, không màng vĩ nhân
Đêm lại buông, tôi còn cố gượng ~~ bao giờ?
Bao giờ qua mùa lá ~~ người trở lại chuyện người?
Bao giờ dư giả ~~ tôi có lại chút đời tôi ?
Bao giờ em ? ~~ thăm thẳm quá 2006 ~~ 1954
Tình ~~ giả thuyết quên
Cố, cố gượng
~~ (Long Lanh?)

Nguyễn Đức Tùng: Cái gì là quan trọng nhất trong thơ anh?

Khải Minh: Quan trọng nhất là dựng được những luồng tác tạo có tiềm lực khai triển lớn để hình thành bố cục bài thơ (giống phần nào tranh dựa trên màu, nhạc dựa trên nốt). Cụ thể hơn, chúng ta lấy hai cụm từ (có thể bằng ký hiệu, hình ảnh hay ngôn từ) nổi bật nào đó làm khởi điểm tác tạo rồi từ đó trổ nghĩa, nảy điệu, tạo cảnh để có một bố cục thật nghệ thuật cho thơ. Nếu cần dàn bài thì dàn bài phải có dạng mở hoặc hờ để ưu tiên cho thơ phát tiết tạo biến chuyển trong khi sáng tác.

Thí dụ 1: hình ảnh "chiều đọng lại" với cụm từ "tiếng chuông ngân" được lặp lại ba lần trong bài thơ sau:

Về đi bên mẹ ~~ đường chiều ~~ tiếng chuông ngân
Ðường đời ~~ mẹ cô quạnh
Vẫn tiếng chuông ngân
Tiếng chuông đưa ~~ chiều đọng lại

Mỗi lần lặp lại, mỗi lần cụm từ này được ghép vào một khung cảnh khác nhau từ thực đến trừu tượng để hình thành dạng "Chiều đọng lại" là ảo nhưng kết cấu từ thực.

Mẹ ~~ Quê hương

...

Rồi con xa mẹ, một năm về hai lần
Về đi bên mẹ cõi xa chiều xa vắng
Ðường đời, Mẹ vẫn đi một mình ~~ nhớ con
Rồi một năm, hai năm, mười năm con mới về thăm mẹ
Về đi bên mẹ ~~ đường chiều ~~ tiếng chuông ngân
Lời mẹ khuyên ~~ bước trần gian dịu lại
Con kể chuyện xa ~~ tiếng chiều xa ~~ chiều ngần ngại

...
Hôm sau, mẹ lại lặng lẽ nhìn con đi
Rồi con đi mãi chẳng hẹn mẹ ngày về
Ðường đời ~~ mẹ cùng mẹ tôi~~lời mưa nắng
Vẫn tiếng chuông ngân
Vẫn cảnh hỏi thăm người xa gần
Thinh không ~~ chiều trông chiều ~~ xa vắng
Mẹ vẫn mình một mình ~~ nhớ con
Ðường quê, đường đời, sao cũng ngắn
Mà đường nhớ con dài thiên thu
Mẹ đi một mình ~~ tìm con mãi
Mẹ đi một mình ~~ con ở đâu
Rồi đôi chân kiệt sức
Rồi đôi mắt hoá loà
Mẹ ngã xuống ~~ chẳng thấy con
Mẹ hấp hối ~~ chẳng thấy con về
Mẹ chết ~~ đi tìm con

Mẹ ơi

=========
Ðường quê không còn có mẹ
Con đi một mình như khách lạ kẻ xa
Mưa xưa, cỏ cây mưa hiện hồn thương tiếc
Đọng chiều buông kể chuyện về một người
...
Tiếng chuông đưa ~~ chiều đọng lại
Mẹ ơi ~~ mẹ mỉm cười
Con nhớ mẹ

2. Thí dụ 2: Môi ~~ Amsterdam: Môi chuyển từ ảo sang thực như sau:

Tôi đặt nụ hôn tình tứ lên môi Amsterdam.
Phương ngửa lòng đón nhận nhưng lại run rẩy...

(Môi Amsterdam: ảo. Phương ngửa lòng đón nhận: làm môi Amsterdam biến thành môi người: Thực)

Trước một từ, một cụm từ, một câu hay một bài thơ có mạch tác tạo giữa ảo - thực; ý niệm - nghệ thuật, chúng ta có thể thấy rằng các trường phái "thực/ảo"; các lý thuyết ngôn ngữ dựa trên điển thức; các ý niệm nhị nguyên như "trừu tượng/cụ thể", nghĩa "đen/bóng"; các cách giải ý thơ như vần/điệu, tụ/tán, chung/riêng, hình nhi thượng/hình nhi hạ; các cách tư duy muôn chiều nhưng chủ quan..., hầu hết các thứ vừa kể trên, xem ra vẫn còn đơn giản so với thơ. Thí dụ, ngữ học cấu trúc của Ferdinand de Saussure (1857-1913) khai triển trên ký hiệu (sign, signifier, signified; signe ~~ signifiant ~~ signifié), một hình dạng của điển thức (điển cố, nghĩa bóng) trong ngôn từ để truy hiểu văn bản. So lý thuyết này với cách tự tạo nghĩa, tự chuyển nghĩa, tự biến nghĩa và trực diễn trong một bài thơ thì ngôn ngữ trong thơ là ngôn ngữ sáng tác nhiều hơn là ngôn ngữ ứng dụng (từ điển, phương tiện truyền thông) Thí dụ, từ "nắng" trong bài thơ thí dụ trên kia: nắng 1, nắng 2, nắng 3... đi từ thực sang ảo, từ đen sang bóng mà không hề luỵ vào điển thức nắng (sáng, ấm cúng, tốt đẹp, lạc quan, ...). "Nắng", "Chiều đọng lại", "môi" trong các ví dụ trên đều hiện nghĩa qua chính hình ảnh do chính chúng tạo ra.

Nguyễn Đức Tùng: Trong vòng năm mười năm trở lại đây, do những cố gắng đáng ngạc nhiên của nhà thơ Khế Iêm và tạp chí Thơ ở California, một phong trào thơ Tân Hình Thức (New Formalism) của người Việt ra đời, nhưng hình như chưa có sức lôi cuốn lớn. Anh nghĩ sao về thơ Tân Hình Thức Mỹ? Và Việt Nam?

Khải Minh: Đặc tính thơ Tân Hình Thức (THT) theo các nhà thơ THT Việt Nam gồm:

Phối kết thơ vần điệu với thơ tự do.

Định vần điệu, ngắt dòng để chuyển ngôn ngữ đời thường (bình thường) thành thơ.

Có tính truyện.

Tư duy: Tân Hình Thức, Hậu ngôn ngữ, Thơ Mở Rộng, Thơ Giải Hình Thức.

Sau đây là nhận xét và thắc mắc của mình về mấy đặc tính trên:

Vần điệu:

Hình thức của vần điệu là để đọc, đọc để học thuộc nhiều hơn là để ngâm hoặc diễn. Thí dụ, chẳng ai ngâm hoặc diễn hai câu đầu hoặc cả bài "Kỳ nữ" của Đinh Hùng theo vần điệu 8 chữ:

"Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm
Ở bên em ôi biển sắc rừng hương..."

mà thường chuyển dòng phá điệu thành:

"Ta thường có từng buổi sầu ghê gớm ở bên em
ôi biển sắc rừng hương..."

Không biết vần điệu thơ THT có điểm nào tương đồng hoặc mới hơn với cách viết theo ngâm diễn (hậu ngôn ngữ) này không?

Tác dụng của vần điệu là lập lại để khắc sâu vào trí nhớ, để nhấn mạnh, để ghép từ tạo nghĩa (vần "oa": lòng hoa, tài hoa, đêm hoa...). Vần có thể ở các đơn vị như: âm, từ, câu, khổ (kiểu điệp khúc trong ca nhạc). Nếu thơ vần điệu được sáng tác bằng ngôn ngữ đời thường hay bình thường và người sáng tác chủ trương phân ý ngắt dòng khi đọc lớn hoặc ngâm kiểu Đinh Hùng thì thơ THT lấy gì bù vào hoặc khai triển đặc tính tạo nghĩa của vần điệu truyền thống?

Nội dung: Vần diễn đạt những gì tụ lại, âm lạnh (so với dương), riêng tư, người sáng tác, hình nhi hạ... Điệu thì ngược lại những đặc tính của vần. Vần~~Điệu (âm-dương, tụ-tán, riêng-chung, …) tạo thành thông điệp từ người sáng tác đến người thưởng thức. Điểm này chưa thấy các nhà lý thuyết thơ THT phân tích xem so với thơ vần điệu thì THT giống- khác/mới như thế nào.

Từ vài bản chất trên, định lý "vần điệu~~xê dịch~~cắt dòng" như thơ hình thức chủ trương, nếu giống như cách viết thơ vần ngắt dòng theo cách ngâm diễn thì lý thuyết THT về vần và điệu cần phải khai triển thêm. Thí dụ, khai triển từ hậu ngôn ngữ sang hậu văn bản. (Hậu ngôn ngữ (Postlanguage Poetry), xin xem bài "Chú giải về Thơ THT" của Khế Iêm ở www.thotanhinhthuc.org/tac_gia/k.html. Văn bản là dạng truyền thông mà ngôn ngữ chỉ là một trong nhiều yếu tố tạo thành văn bản Hậu văn bản là thơ ở dạng đang diễn, ở dạng đang được thưởng thức, ở dạng đời sống...).

Hai từ "xê dịch" mình thêm vào trên đây rất quan trọng. Nó thể hiện sự chuyển động hỗ tương giữa vần điệu và cắt dòng: Cắt dòng làm xê dịch vần điệu, đồng thời xê dịch vần điệu sẽ tạo ra kiểu cắt dòng. Đây là điểm then chốt để đưa ngôn ngữ đời thường vào thơ. Nghĩa là, câu nói nào dù dài, dù ngắn cũng có thể đưa vào thơ bằng cách đặt điệu, định vần ở đâu đó. Đây là điểm mới của THT và đồng nghĩa với tên Thơ Mở Rộng. Nhưng ngôn ngữ đời thường ở đây là gì? Ngôn ngữ nào cũng có năm bảy cấp: từ điên khùng, tự tiện (vô tư) phản tư duy, chính trị, văn bản, văn chương, đến hàn lâm tự điển... Mong lý thuyết THT đưa ra tiêu chuẩn và kỹ thuật sử dụng ngôn ngữ đời thường và so sánh cách sử dụng của chúng với cách của các thể thơ khác.

Tính truyện: Tính truyện trong truyện Kiều, trong thơ Nguyễn Bính, trong Thơ Mới của TTKH... có khác gì tính truyện của thơ THT? Nếu lấy yếu tố này để lập thuyết thì thơ THT lại quay về tả, kể, chủ quan hoá hoặc theo người kể, hoặc theo dàn bài hoặc theo mạch truyện… những thứ này thường áp chế thơ đến hết đường phát tiết. Mình nghĩ các nhà thơ THT nên đầu tư thêm lý thuyết vào phương diện này để tính truyện thơ THT tiến xa hơn tính truyện thơ vần, thơ tự do đã qua. Mình mạo muội đưa ra một gợi ý: ta có thể viết đầu đề thành nhiều vế để tính truyện có thêm nhiều mạch cho tư duy, nhiều tương tác gợi tính nghệ thuật và nhiều cách suy diễn cho người thưởng thức.

Mình chưa thấy tư duy của THT phát triển hơn tư duy nhị nguyên. Vẫn từng cặp với vần/điệu; hình thức/nội dung; riêng/chung; đọc/diễn.... Với tư duy này, những phá cách nghệ thuật chỉ có thể đạt ở đơn vị từ, đơn vị câu, cùng lắm là đoạn như thơ vần, thơ tự do chứ ít khi đạt ở đơn vị bài. Nếu có thể được, các nhà thơ THT nên khai triển thêm lý thuyết, thí dụ gần nhất là đi từ tư duy nhị nguyên sang tư duy biện chứng (lấy vần là đề, điệu là phản đề và ngắt dòng là tổng đề), rồi tiếp tục vượt biện chứng để tới một cái gì đó. Đấy là điều mình mong đợi.

Tóm lại, chủ đích của thơ THT có vẻ như là để bình dân hoá thơ, xê dịch thơ cao, thơ thấp đến một vị trí nhân sinh nào đó nhiều hơn là để nâng cấp nghệ thuật. Lý thuyết THT có dạng kết hợp từ những cái đã có nên tư duy của nó chưa mang tính sáng tạo. Mình hy vọng việc xê dịch vần điệu chỉ là dạng trung gian của một lý thuyết có tính nghệ thuật cao hơn.

Theo ý mình, hiện tại Thơ THT có thể góp phần làm phong phú hơn đời sống sinh hoạt văn nghệ. Còn ở lãnh vực sáng tạo, muốn cách tân thơ ở cấp độ cao hơn, thí dụ không chỉ dừng lại ở những phá cách trên câu, đoạn thì phải nâng thơ từ luật "hình thức" lên "ý thức". Sáng tác phải nâng từ tư duy áp dụng lên tư duy ứng dụng rồi dần đến tư duy sáng tạo. Đương nhiên là trong đời thường, hai lãnh vực sinh hoạt và sáng tạo này hỗ tương lẫn nhau. Cái cần của thơ Việt hiện nay là các lý thuyết sáng tác làm sao để cho tư duy trở nên sáng rõ, cho thơ phát tiết từ cụm từ lên câu thôi chứ chưa dám nói lên cả bài. Mình muốn coi hiện tượng thơ THT Việt Nam hôm nay là khởi điểm cho một sự tác tạo nghệ thuật giữa thơ Mỹ và thơ Việt. Sự tác tạo này có thể so sánh như kiểu lai giống, ghép ngành làm phong phú thêm cho chủng loại thơ. Mong các nhà thơ THT thành công, nếu không thì đây cũng là những chuẩn bị cần thiết để tiến đến sáng tạo.

Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghĩ những người khởi xướng thơ THT Việt Nam hình như chưa nắm được cái hồn của thơ THT Mỹ, với những thành tựu rực rỡ của nó, cũng như chưa chú ý đúng mức đến đặc trưng của ngôn ngữ Việt Nam. Ví dụ, so với tiếng Việt và tiếng Pháp, sự tạo vần trong tiếng Anh ít gặp và khó khăn hơn nhiều. Đó là một trong nhiều xuất phát điểm và điều này vẫn là yếu tố tạo nên sức sống lâu dài của thơ THT Mỹ. Dĩ nhiên, còn nhiều vấn đề khác nữa, trong đó, có những vấn đề anh vừa nêu ra. Bất chấp những khuyết điểm đó, sự vận động thơ THT như vừa nhắc ở trên sẽ để lại một phương pháp có ảnh hưởng lâu dài lên nghệ thuật thơ Việt Nam. Tôi nghĩ là nhiều người chịu ảnh hưởng. Nhưng tôi xin dừng lại ở đây và bàn đến một quan tâm khác... Nhiều nhà thơ Việt Nam đã và đang viết trường ca, như ở hải ngoại có Đỗ Quyên và Trần Nghi Hoàng, trước đây là Du Tử Lê; trong nước có nhiều hơn, như Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Mai Văn Phấn, v.v... Anh nghĩ gì về thể thơ này? Theo anh, tương lai của nó sẽ như thế nào?

Khải Minh: Mình chỉ xin trả lời theo tư cách người đọc. Đi từ bài thơ lên trường ca có thể giống như chuyện đổi ngành, chuyển nghiệp. Nghĩa là có rất nhiều thứ ở tầm bài thơ không còn áp dụng được với trường ca. Thí dụ:

Về cấu trúc và hình thức văn bản:

So với nhạc, kết cấu của trường ca có thể có dạng thức đại nhạc kịch (opera) hoặc đại hoà tấu (symphonie). Trong thực tế, cũng có nhiều người lấy mô hình đại hoà tấu của nhạc làm cấu trúc trường ca. Nhưng cái khó của trường ca là những cấu trúc chuyển diễn (movements) không có quy luật như nhạc, không dễ nắm bắt. Người sáng tác có thể có dụng ý rõ ràng nhưng người đọc thì không dễ phân biệt. Cách giải quyết có thể là chú thích thể loại vào đầu đề của trường ca như: "Trường ca~~Symphonie", "Trường ca~~Thơ Đường", Trường ca~~Cinema", "Trường ca~~Điêu khắc"... để người đọc biết đường mà đọc. In ấn làm sao cho hợp với cấu trúc symphonie thật là khó. Tiêu chí phân biệt các chuyển diễn dựa trên số trang hay trên mầu sắc trang hoàng? Cả hai đều không thực tế với kỹ thuật trình bày văn bản phổ thông. Cách ngắt câu, phân đoạn cũng vậy, dài ngắn làm sao cho hợp với khổ giấy và bao nhiêu hàng bao nhiêu câu trong một trang để hợp với sự vận hành của mắt người đọc. Theo kinh nghiệm, mình thấy loại trường ca symphonie này có thể in trên khổ giấy: ngang khoảng 10 cm, dọc khoảng 30 cm, bìa cứng, dày khoảng trên dưới 20 trang, như thế vừa trang trọng vì khó lật trang, vừa nhẹ vì ít trang, vừa dễ cầm vì kích thước, dễ đọc vì chiều ngang ngắn và rất hợp cho loại trường ca ngắn, loại dành cho loại người thẩm thấu bằng tim óc (cảm nghiệm).

So với thể thơ: Hãy tưởng tượng một trường ca có cấu trúc dựa theo bố cục của thơ Đường, mỗi chuyển diễn là một thể thơ khác nhau. "Đề" bằng lục bát; "Thực" thì chuyển sang song thất, "Luận" dùng thơ tự do, thơ mới, thơ Tân Hình Thức, "Kết" thì dùng đủ loại thơ kể trên. Nếu làm vậy thì tính lịch sử và tính thẩm mỹ của các thể thơ trên sẽ biến trường ca thành quái dạng cả về hình thức lẫn nội dung. Còn trở lại với thể phú, thể từ thời xa xưa thì chắc trường ca phải phụ diễn với phim, nhạc, video clips mới hy vọng có phương tiện cho những yếu tố mới trong nghệ thuật phát tiết.

So với điện ảnh: Cấu trúc phim, màn ảnh ứng dụng vào trường ca dài có vẻ thành công nhất. Hãy tưởng tượng văn bản của trường ca giống một màn ảnh cinema ở trước mặt. Hình ảnh của phim lần lượt thay đổi nhảy chuyển làm sao thì hình thức và nội dung của trường ca cũng thay đổi nhảy chuyển ở mỗi trang như vậy. Cấu trúc thể loại ở đây không còn quan trọng bằng hình ảnh do chữ nghĩa và cách xếp đặt của nó gợi ra. In ấn loại này cũng có kích thước dạng màn ảnh thu nhỏ (ngang 18cm, dọc 13cm, bìa mềm, dày vô định). Các yếu tố này làm trường ca linh động hẳn lên trong cách sáng tác cũng như trong cách đọc. Với sáng tác, cấu trúc theo từng trang giống như cấu trúc đi từ màn ảnh này sang màn ảnh khác đã là những chuyển diễn (movements) tạo điều kiện cho người viết chuyển ý, đổi kiểu, thay mạch, thêm cảnh v.v... Với người đọc, cầm trường ca, các trang giấy cứ như tự mở, tự sang trang để mời gợi. Loại này thích hợp cho người thẩm thấu bằng mắt, bằng tai hơn là bằng óc.

So với cách viết đầu đề: Đầu đề nhiều vế sẽ gia tăng đề tài, mở rộng tư duy và kiến tạo nhiều mạch thơ và nhiều kiểu cấu trúc cho trường ca. Thí dụ, chúng ta thử mở rộng đầu đề bài "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan thành "Tình~~Chiến tranh~~Màu tím hoa sim". Sự thêm hoặc mở rộng này sẽ tạo ra một toàn cảnh làm nền để sáng tác và như vậy chiều kích nghệ thuật của vế "Màu tím hoa sim" đã có cơ sở để hiện hữu và có khung cảnh để khai diễn những nét đặc sắc của nghệ thuật đã bị trói ngộp trong đầu đề một vế.

Đề tài và người sáng tác: Bài thơ có thể viết từ những gì gần gũi, nhỏ bé như chuyện thời sự, thời tiết, hay những cảnh buồn, vui, giận, hờn... Đầu đề có thể có kiểu là "Không đề", "Vô đề", không gian có thể tách bạch thời gian, nhưng trường ca thì không thể như thế.

Cụ thể hơn, có thể ví thơ như hiện tượng trăng sao vận hành đều đặn cho chúng ta sáng tác các bài thơ về mưa, nắng, xuân, hạ, thu, đông, quá khứ, hiện tại, tương lai, ăn, ngủ, giận hờn, sướng, khổ, đông, tây, nội, ngoại, sống, chết. Còn trường ca thì giống với hiện tượng sao chổi vận hành xuyên tuyến đi qua địa cầu, làm chao đảo mọi trật tự bình thường hoặc gây ra những biến cố lớn hơn, lạ hơn các hiện tượng của trăng sao trên kia. Từ sự so sánh này, chúng ta thấy không gian và thời gian của trường ca ở đâu đó khác hệ gần-xa. Người sáng tác trường ca và đời sống của người sáng tác gặp nhau ở đề tài nào đó khác hệ quá khứ-hiện tại-tương lai. Bởi vậy, chúng ta tìm đọc trường ca như tìm một đề tài lạ.

Trường ca cũng khác với truyện dài và truyện thơ. Ở truyện dài và truyên thơ, nhân vật, biến cố, vai trò chính-phụ thường tương đối mạch lạc, rạch ròi nhưng đối với trường ca thì không có chuyện tả, kể, trong, ngoài rõ ràng. Người sáng tác và luồng sáng tác cứ chập chờn với nhau tạo thành luồng xuyên tuyến. Bởi vậy, chúng ta đọc trường ca như đi vào một cõi cuốn hút nào đó.

Người đọc và người sáng tác: Đã có nhiều sách vở, nhiều chương trình học đường dạy cách đọc, ngâm, diễn thơ nhưng hầu như chưa có một tài liệu tầm cỡ nào trình bày về cách thưởng thức trường ca. Điều này dù là ngoài lề nghệ thuật nhưng lại trở thành thử thách không nhỏ cho người muốn quảng bá trường ca của mình. Lý thuyết truyền thông chia người thẩm thấu thành ba loại chính: loại nhìn, loại nghe và loại tim óc (cảm nghiệm). Với trường ca, người sáng tác và người thẩm thấu hầu như không còn ở hệ chọn lựa hoặc phân loại như trên nữa. Giống như từ phim truyền thống lên phim imax (khung ảnh ba chiều, chỗ ngồi đong đưa theo chuyển động xuyên tuyến, âm thanh nổi nhồi như sóng, trong rạp có hệ thống phát tiết mùi vị, sương khói và đủ mọi thứ như gió, tuyết, nóng, lạnh...) Mình nghĩ đối với trường ca, hơn cả cách so sánh với phim imax trên, người sáng tác lẫn người thẩm thấu sẽ tương tác để tạo tác lẫn nhau xuyên qua tác phẩm với nhiều bất ngờ và nhiều dấu ấn hơn..

Tóm lại, từ tư duy địa lý đến siêu hình, từ kinh nghiệm thể xác đến tinh thần, từ kiến thức đời sống đến nghệ thuật, từ đam mê đến sáng tạo... với trường ca, tất cả đều chuyển thành luồng xuyên tuyến, xuyên qua người sáng tác, tác phẩm và người thẩm thấu. Mình thấy trong số những tên tuổi anh nêu trên, có những người đã và đang mang vác NHỮNG cuộc đời ngoại hạng. Chúng ta có quyền kỳ vọng vào những trường ca ngoại hạng mà họ có thể tạo tác.

© 2007 talawas