© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcVăn học Việt Nam
10.9.2004
Hoàng Ngọc Hiến
Đọc văn học Việt Nam hải ngoại
(3 kì)
 1   2   3 
 
II. “Cái hoàn hảo lơ lửng toả ra từ lối sống của cộng đồng”

Trong sự “chập chờn cơn tỉnh cơn mê” những ngày tháng cuối đời, triết gia Trần Ðức Thảo có đưa ra được một ý tưởng sáng sủa về cái đẹp: “ý thức trong lời kêu gọi chính nó đặt ra sự đòi hỏi… cái đẹp trong sự hoàn thiện những quá trình nghiệm sinh (achèvement des processus vécus)”. [1] Trong khi có những tác giả, trong cơn tuyệt vọng, muốn nôn mửa trên bàn nhậu cũng như trên trang giấy thì những nỗ lực của những nhà văn đưa cái đẹp vào, nhằm hoàn thiện, “những quá trình nghiệm sinh” cuả độc giả riêng tôi hết sức quý trọng. Cái đẹp “ở đâu cũng có, vấn đề là mình có nhìn thấy và biết chia sẻ không?” (Nguyễn Xuân Hoàng). Ðể nhìn thấy cái đẹp phải có tài và có tình, để chia sẻ cái đẹp phải có tài nghệ, phải thực sự có tài năng nghệ thuật mới làm cho độc giả cảm nhận được cái đẹp một cách tự nhiên, một cách tự do và cũng chỉ từ sự cảm nhận tự do này mới có sự “hoàn thiện những quá trình nghiệm sinh”. Trong sự náo động các trường phái hiện đại, hậu hiện đại cạnh tranh bác bỏ nhau, biết đâu ý tưởng của Trần Ðức Thảo lại là tiền đề cho một sự đổi mới sâu sắc về mỹ học. Từ ý tưởng của Trần Ðức Thảo tôi liên tưởng đến một quan niệm về nghệ thuật của đạo diễn Trần Anh Hùng mà tôi cảm thấy như có sự gần gũi, sự tương đồng. Anh cảm nhận nhiệm vụ cốt yếu và cuối cùng của người làm phim là nắm bắt cái chất hoàn hảo lơ lửng toả ra từ lối sống của cộng đồng, tìm trúng “cái cách đưa người xem vào cảm giác về cái hoàn hảo đó”. [2] Theo tôi hiểu, cái “hoàn hảo lơ lửng” không phải là lý tưởng, càng không phải là cái lý tưởng được suy ra, vẽ ra từ một chủ thuyết hoặc từ những “tổng lộ tuyến”... Bị ám, bị khống chế bởi loại lý tưởng này, người sáng tác thành ra vô cảm trước “cái hoàn hảo lơ lửng toả ra từ lối sống của cộng đồng”. Theo tôi hiểu, cái “hoàn hảo” ở đây sở dĩ hoàn hảo vì nó là sự tổng hợp “chân, mỹ, thiện”, bản thân nó có thể có nhiều thiếu sót. Cái “hoàn hảo” lơ lửng là cái khó nắm bắt: nó vừa mong manh vừa bền vững, khi ẩn khi hiện, vừa cao vừa thấp, bà già thất học hiểu ra được nhưng bậc đại trí có khi suốt đời không với tới, khó nhất là nó thường pha trộn với nhiều thứ “không hoàn hảo” và bất hảo.

Bài Những mảnh đời và những con đường của Vũ Huy Quang [3] chỉ là một bài ký bình thường. Tôi biết anh Vũ Huy Quang, nhân vật xưng “tôi” trong đó chính là tác giả bài ký. Ðiều khiến tôi chú ý đến bài ký trước tiên là ngôn ngữ những nhân vật trong đó cũng như ngôn ngữ của chính tác giả khác hẳn cái “ngôn ngữ... trong tiểu thuyết”. Chính vì vậy đọc bài ký thấy “văn” của nó không “hay” bằng nhiều truyện trong văn học hải ngoại được viết bằng một thứ ngôn ngữ rất “ tiểu thuyết”. Nhưng cũng chính vì vậy tôi thấy nó đáng tin cậy hơn. Bài ký viết về một toán thợ ráp nối điện tử cùng phiên làm với tác giả, khoảng hai chục người, quá bán là nữ. Họ chỉ là những con người hết sức bình thường: trình độ lớp 7, lớp 8 ở Việt Nam, “ít đọc báo chí Việt ngữ”, “dĩ nhiên không đọc báo địa phương tiếng Mỹ”; cũng có những sự va chạm, ghen ghét; ngôn ngữ “bặm trợn”, đôi khi suồng sã, “những câu nói đùa tàn nhẫn sống sượng”; những nỗi lo thường tình: lo ế chồng... và bao trùm lên tất cả một nỗi lo lớn hơn, mơ hồ hơn về toàn bộ cuộc sống của họ trước sau chỉ có đi làm, đi làm, đi làm... Và một nguy cơ lớn đe doạ họ: quá trình nguyên tử hoá những cá thể trong cộng đồng. “Rất nhiều khi -Vũ Huy Quang viết- âm thầm tôi thấy cách xa họ, y như cách xa các bạn đồng tuế với tôi, những người bạn mỗi người một nghề, những người bạn chỉ còn đi làm, không biết gì khác ngoài công việc, họp hành hội ái hữu, và lâu lâu lại nghe một bạn hữu lìa đời. Các thế hệ cách nhau, gần nhau, chung một quá khứ hay không... nhưng vẫn thấy cách xa nhau bao nhiêu. Cứ như mỗi người một mạch điện đời riêng. Một mảnh đời, một con đường. (chữ đậm của H.N.H.)”. [4] Cho nên, mặc dầu theo lời tác giả “các cháu tôi đều ăn trắng mặc trơn, đều tươi mát vui vẻ, da dẻ hồng hào, kiếm ra tiền...”, ông vẫn hồ nghi: “không biết họ có thật tốt số, mà nếu có tình cờ gặp lại ngoài đường, tôi không biết cười nói gì với họ”; “Họ may mắn hay hẩm hiu?”. “May mắn sao có những buổi có đứa ngồi bãi đậu xe một mình, nét mặt buồn buồn kêu nhớ Tết Việt Nam? Có đứa bảo đi làm về thì chỉ biết đi ngủ, cuối tuần nếu không làm giờ phụ trội, chỉ biết đi lễ?” (tr.18). Trong câu chuyện về những người thợ ráp nối, có một điểm sáng: tác giả à một người có lòng. Ông chân thành vui mừng thấy sự “thông sáng” ở những người thợ Việt. “Không ai học xong trung học vậy mà việc khó đến đâu... họ vẫn làm xong” (tr.19). Những ngón tay thoăn thoắt sử dụng dụng cụ điện tử, những trí khôn tính toán theo trực giác, vì không đọc được chữ Mỹ, nhưng cái gì họ cũng làm trọn...” Tôi không phản đối việc trưng bầy “người Việt xấu xí”,nhưng riêng tôi rất xúc động thấy anh Vũ Huy Quang chân thành vui mừng nêu lên một ưu điểm của những người Việt. Càng cảm động khi anh ca ngợi tinh thần đoàn kết, tương trợ trong cái tập thể bé nhỏ những người thợ “vô danh tiểu tốt” của anh.

“Trong sở, có những người Phi, người Mễ,người Tàu. Nhưng chỉ những người thợ Việt Nam này thông sáng, đùm bọc và năng suất cao nhất” (tr.19). Anh đã có lần đi làm ở một hãng điện tử khác và anh so sánh: “Toán làm việc, toàn những người gốc Ấn, nhưng họ không nói tiếng Hinđu với nhau, mà bằng tiếng Anh. Không khí làm việc không thân ái đoàn kết bằng. Hiệu năng cũng không bằng, vì không khí không tươi vui, tương trợ...” (tr.19). Phải chăng ở đây Vũ Huy Quang nắm bắt được “cái hoàn hảo lơ lửng toả ra từ lối sống” của “cộng đồng” nhỏ bé những người thợ ráp nối của anh? Phải chăng ông có quyền hy vọng tìm ra được một đối trọng cho quá trình nguyên tử hoá đương diễn ra không sao cưỡng lại được trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại? Dẫu sao, thì trong khi tình trạng đấu đá bấu chí nhau, “tranh giành quyền lãnh đạo lẫn nhau,... đổ tội lẫn cho nhau,... chống lẫn nhau” [5] là tình trạng khá phổ biến, hơn một nhà văn đã phải nổi khùng, thì ít ỏi tinh thần đoàn kết thân ái còn lại trong toán thợ lắp ráp được nhà văn Vũ Huy Quang chắt chiu trân trọng quả là điều quý hoá.

“Cái hoàn hảo lơ lửng” toát ra từ truyện Chớp mắt ngoái lại của Song Thao [6] là tình bạn giữa ba người: Nghĩa, Vũ, Tước. Họ quen nhau từ “những năm tháng ngây ngô” tiểu học, đến tuổi khôn lớn trở thành những người bạn chí cốt, sau năm 1975 thì tan tác, mỗi người một ngả. Mười năm sau Nghĩa mới gặp lại Tước bấy giờ làm linh mục, hơn hai mươi năm sau, Nghĩa mới gặp lại Vũ trên đất Canada. Trong tình hình rối ren 1975, Nghĩa làm lễ cưới kết hôn với Diệu, hai người bạn chí cốt không đến được. Hai mươi lăm năm sau, Nghĩa và Diệu làm lễ cưới bạc, “Tước ở xa không đến được, Vũ còn xa hơn nữa” (tức ở thế giới bên kia). “Chớp mắt, đã cưới bạc rồi”. Chớp mắt, hai mươi lăm năm. Bao biến động, gian truân trong mỗi cuộc đời: trại cải tạo, vượt biên, định cư... Tất cả chỉ là trong một chớp mắt. Duy chỉ còn lại một cái bền lâu hơn một cái chớp mắt, đó là tình bạn. Ðúng hơn đó là tình nghĩa giữa ba người bạn. Tình là tình thương, nghĩa là tinh thần nghiã vụ, trách nhiệm, chăm lo... Tình thương thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, chăm lo tới ngươi mình thương. Lần gặp nhau lại sau mười năm, Phước lo cho tương lai những đứa con của Nghĩa và anh đã giới thiệu gia đình Nghĩa với một đường dây “êm ả và hữu hiệu” do “một bổn đạo thân tín của anh tổ chức”. Gặp lại Nghĩa trên đất Canada Vũ chăm lo giúp gia đình bạn như môt thiên thần hộ mệnh. Lời trăn trối cuối cùng của Vũ nói với Nghĩa: “Nhớ thương yêu Diệu suốt đời nghe!” [7] Dường như Nghĩa đã linh cảm trước lời trăn trối này và trước đó “mỗi lần điện thoại, Nghĩa vẫn để Diệu nói ít câu với bạn” [8] . Có “cái hoàn hảo lơ lửng” toả ra từ lối sống của cộng đồng và cũng có “cái hoàn hảo lơ lửng” toả ra từ tình nghĩa giữa ba người bạn.

Trong truyện Auld Lang Syne [9] của Song Thao, qua hai nhân vật Loan và Ngạn, một kiểu nhân cách người Việt hải ngoại được khắc hoạ khá tinh tế và hấp dẫn. Loan và Ngạn đã trải qua những cơn lốc mà “thế hệ vượt biên” của họ trải qua: cơn lốc “30 tháng tư”, cơn lốc di tản... Tới xứ định cư họ cùng chung một số phận: “chạy ra khỏi nước trong cơn hồng thuỷ táp tới gót chân, kiếm đựơc việc làm mừng muốn chết,... chẳng màng tới việc đi tìm việc khác tốt hơn...” Hai mươi năm họ cùng làm việc ở một nhà máy. Và ngày mai thì... nhà máy đóng cửa. Nguy cơ trước mắt: mất việc. Một thử thách mới đối với họ. Mất job cũng là một cơn lốc: họ đứng trước “một sự đổi thay khắc nghiệt” và khác với tâm trạng trong cơn lốc 30 tháng tư, lúc này họ cảm thấy “trống trải” [10] vì chung quanh quanh họ “giờ đây toàn là những khuôn mặt da không vàng, mũi không tẹt” (trong xưởng chỉ có họ là người Việt, còn lại là Pháp, Mỹ, Ý, Hy Lạp...). Thái độ của hai người Việt này trước cơn lốc? Một sự điềm tĩnh lạ thường. Ðây là những lời nói cuối cùng của họ khi chia tay:

Loan nước mắt doanh tròng đưa tay cho Ngạn nắm.

Chúc anh may mắn! Mọi sự rồi sẽ qua. Nhớ lúc mình mới tới đây, lạ nước lạ cái, tay trắng túi rỗng không, chẳng biết sẽ sống ra sao. Vậy mà cũng chẳng chết! Giờ thì nhằm nhò gì...

Ngạn rộng miệng cười không thành tiếng:

“Ờ, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Giữ cho chân cứng đá mềm nghe Loan!

Ngay trong tâm trạng “cười không thành tiếng”, Ngoạn vẫn dỡn trong lời nói.

Sự điềm tĩnh của họ là sự điềm tĩnh của những người đã từng trải sóng gió, đã “bao lần chông chênh những di chuyển, những cắt đứt phũ phàng”, đã sống trong những cơn lốc kinh hoàng, và hôm nay lâm nạn trong cơn lốc này ,họ chép miệng “xá chi một vết xước tay cỏn con”. [11] Trong những xã hội phương Tây mà sự phát triển hiện đại trong thế kỷ vừa qua dữ dội và ồ ạt như những cơn lốc, những người “dày dạn với những cơn lốc”, những người “sống trong cơn lốc như trong nhà của mình” thường có sự điềm tĩnh này. Và đây là đặc tính quan trọng nhất của con người hiện đại. Ở Loan và Ngoạn, sự điềm tĩnh còn có một gốc nguồn tư tưởng: hình như họ có ngộ ra được đôi ba điều từ những tư tưởng của triết lý phương Ðông. Họ “thấm thía lẽ xuất xử”: “biết được mệnh trời, nương theo thiên mệnh mà sống, con người dễ tránh được sự bẽ bàng”; [12] họ coi trọng việc “ngộ được lẽ suy vong trong lúc thịnh thời”, việc “ngộ được cả lẽ thua”, không chỉ “nếm lẽ thắng”, họ “uốn mình vào trái tim trước khi săn tìm lợi lộc bên ngoài” [13] (tôi dẫn câu này để lấy ý, cách diễn đạt của tác giả tôi cảm thấy chưa ổn).

Nhân cách của Loan và Ngoạn biểu lộ khá rõ trong cuộc liên hoan tạm biệt ngẫu hứng, đặc biệt được thể hiện trong cách ứng xử của họ với những người thợ Tây khác, với ông chủ người Mỹ và trong quan hệ của hai người với nhau.

Họ không giống như những người ngụ cư rụt rè, khép nép ngồi lủi sang một bên, trong khi đám quan viên làng tự do ăn nói. Loan đã xoá bỏ được hàng rào ngôn ngữ, không có mặc cảm, cười nói thoải mái với những người bạn Tây, sẵn sàng đùa dỡn, đối đáp... Một tác phong rất Tây, theo nghĩa tốt đẹp của từ này. Diễn đạt một cách triết học thì đây là “cá tính tự do”. Một nét đẹp của nhân cách con người trong xã hội dân chủ. Cũng như những người thợ khác Loan và Ngạn hiểu rất rõ ông chủ là ngừơi như thế nào? Có lẽ nét duy nhất có thể thương được ở ông là ham mê công việc, ông “say mê nhà máy hơn vợ con”... Ngoài ra, ông là người “có tính kỹ càng với đồng tiền”, tính toán so kè..., và cũng như mọi ông chủ, ông sẵn sàng đối xử tàn nhẫn để khẳng định quyền uy của mình. Trong những giờ phút hấp hối cuối cùng của nhà máy, khi ông chủ xuất hiện với một bộ mặt thảm hại, dáng bộ tiều tuỵ thì “...đối diện với ông chủ là những bộ mặt trơ ra bất cần”. Riêng Loan có sự ái ngại. Và đến khi, thấy Giulio làm trò hề để giễu cợt, [14] thì Loan xua tay, tỏ thái độ không tán thành. Ðến cuối truyện, khi ngoái lại nhìn nhà máy một lần nữa, Loan “thấy ông chủ run rảy từng bước đi, đưa tay rờ rẫm từng chiếc máy nằm im lìm dưới những tấm bạt phủ như những chiếc khăn liệm”, “nàng bất giác quẹt tay lên mắt”. Tình thương cho ông già khốn khổ mà cũng là sự thông cảm chung cho “cái thua muôn thuở của tuổi già lụn bại”. Giọt nước mắt của Loan có ý nghĩa nhân loại phổ biến. Ngôn ngữ của Loan giúp độc giả hình dung đầy đủ hơn con người của Loan. “Nói vô duyên chứ - Loan nói - nếu tôi là con gái ổng, tôi sẽ bằng mọi cách tiếp tục cho hãng hoạt động để ông vui lòng...” Ðây là một câu nói có ý tứ: cảm thấy lời sắp nói gây ấn tựơng vô duyên, nên rào đỡ trước bằng câu: “nói vô duyên chứ”. Ðây là ngôn ngữ của một người có giáo dục. Tôi nhận thấy ngày nay, những vị phụ huynh quan tâm đến việc giáo dục cho con em có ý tứ như vậy trong lời nói ngày càng ít đi, có khi chỉ còn vài ba phần trăm. Chính vài ba phần trăm này là đại diện cho bản sắc dân tộc Việt.

Trong truyện, Loan và Ngạn là hai nhân vật chính, một nữ, một nam. Thông thường độc giả chờ đợi một câu chuyện tình. Họ không phải là những người tình. Lúc từ biệt, họ nắm tay nhau.

“Chúc anh may mắn! Mọi sự rồi sẽ qua...”
“Giữ cho chân cứng đá mềm nghe Loan!”

Ðây là lời giã từ của những người bạn. Những người bạn mà đường đời cùng trải qua những “đổi thay khắc nghiệt”, những “cắt đứt phũ phàng”. Và ở mỗi người luôn thường trực mối nhậy cảm sót cho bạn mình. Trong cuộc liên hoan Loan nói tếu chọc Peter, không ngờ bị Peter đốp lại, vô phương chống đỡ. Ngạn thấy nhột dưới gáy. [15] Và anh kịp thời đối đáp, cứu bạn mình. Không thể nói quan hệ giữa Loan và Ngạn là phong cách Tây hay phong cách ta, chắc chắn đó là một phong cách văn hoá cao.

Một bạn đọc nói với tôi: “Trong thực tại không có người nào hoàn hảo như Loan! Loan chỉ là ước mơ, trăm lần ước mơ của Song Thao”. Cứ cho là trong thực tại không có người hoàn hảo như Loan, tại sao Song Thao không có quyền mơ ước một người như vậy. Cái “hoàn hảo lơ lửng” vừa là thực tại, vừa là mơ ước, đây là cái lơ lửng thơ mộng. Trong thực tại, cái hoàn hảo của nhân vật Loan tản mạn ở nhiều người, có nét ở người này, có nét ở người nọ, đặm nhạt khác nhau lại tuỳ ở từng người, người mang vẻ này, người mang vẻ nọ, cũng tuỳ ở từng người mà sắc thái khác nhau. Ðây là cách hiểu của tôi về sự lơ lửng trong ý niệm “cái hoàn hảo lơ lửng” của Trần Anh Hùng.


© 2004 talawas


[1]Phan Huy Ðường, Pen ser librement, Chronique sociale, 2000, p.53
[2]Thế giới điện ảnh số 2 (7.2000), tr.55
[3]Diễn Đàn số 88 (9.1999)
[4]Như trên, tr.19
[5]Hoàng Khởi Phong, Ngày N+, Văn Nghệ, 1988, tr.260
[6]Song Thao, Tập truyện Chân mang giày số 6, Văn Mới, 1999
[7]Sách đã dẫn, tr.166
[8]Sách đã dẫn, tr.165
[9]Sách đã dẫn. Auld Lang Syne là tên một bài ca hát khi tạm biệt khá phổ biến ở nhiều nước phương Tây. Truyện ngắn này mang tên của bài ca tạm biệt vì trong truyện có cảnh buổi liên hoan tạm biệt của một toán công nhân buổi làm việc cuối cùng trước ngày nhà máy đóng cửa.
[10]Sách đã dẫn, tr.78
[11]Như trên, tr.79
[12]Như trên, tr. 72
[13]Như trên, tr.74
[14]Như trên, tr. 75
[15]Như trên, tr.77