Lời nhập:
Triển khai Ý niệm đoàn viên nằm trong đoạn thơ từ câu 2967 đến câu 3254 trong
Truyện Kiều [1] , ngoài ý hướng „đọc lại“ những vần thơ đẹp trong ánh dương quang „ngày xuân con én đưa thoi“, với nỗi đồng cảm „chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài“ về một mùa xuân nối tiếp mùa đông mà „đoàn viên“ là ý niệm của sự nối tiếp ấy, bài viết thử tìm lại ý nghĩa đích thực của đoạn văn này giữa mê hồn trận những quan điểm khác nhau về nó, cũng như tìm cách lý giải tư tưởng có tính Phật giáo then chốt của Nguyễn Du
[2] trong „ý niệm đoàn viên“ như là ý niệm nhân quả toàn vẹn, là cánh cửa mở ra Niết bàn trong hiện tại, qua đó cho thấy trong thời đại của ông, Nguyễn Du là người đã thâm hiểu và cảm nhận đạo Phật trầm diệu và uyên bác đến nỗi triết lý đạo Phật dưới ngòi bút sáng tạo của ông trở nên dòng tư tưởng Việt Nam tuôn chảy linh hoạt và sống động mãi đến ngày hôm nay.
1. Bố cục Truyện Kiều với đoạn đoàn viên
1.
1. Sơ lược khái niệm đoàn viên
„Ðoàn viên“ hay đoàn tụ của những người con ly tán trong đại gia đình, tái hợp hai nhân vật chính trong câu chuyện vì hoàn cảnh éo le phải xa nhau, cuộc trở về của người con lưu lạc giang hồ, hình ảnh „một nhà sum họp trúc mai“ là một khái niệm không xa lạ trong văn học cổ điển phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng. Trên phương diện hình thức cũng như tư tưởng, khái niệm này đã là một yếu tố chủ yếu trong việc xây dựng cốt truyện cho một tác phẩm trên nhiều lãnh vực: thơ văn, tiểu thuyết, truyện cổ tích, dã sử v.v…
Nhị Độ Mai, Lục Vân Tiên, Hoa Tiên, Tấm Cám, Phạm Công Cúc Hoa, Trạng Cóc và
Truyện Kiều có thể nói là những tác phẩm tiêu biểu.
Khái niệm „Ðoàn viên“ có thực trong đời hay chỉ trong tiểu thuyết trở nên một ý niệm lý tưởng gấp đôi về sự „toàn hảo“ trong tác phẩm: đối với người sáng tác và đối với độc giả trong tương quan hỗ tương. Ðối với người sáng tác, „sự trở về trong chung cuộc“ bao hàm tư tưởng triết lý về cuộc đời „khổ tận - cam lai“, „sau cơn mưa trời lại sáng“, cần phải được làm tỏ rõ trong câu chuyện được kể ra. Nó trở nên thủ thuật „điểm nhãn“ viễn tượng lạc quan của câu chuyện, nó chuyên chở linh hồn cho toàn câu chuyện. Ðối với người đọc, „đoàn viên“ là ước mơ trở thành hiện thực của con người trong giới hạn hiện sinh của nó. Những câu chuyện „đoàn viên“ có thể làm cho số „độc giả mềm“ muốn tìm những thí dụ điển hình đem lại ý nghĩa cho cuộc sống, ý nghĩa lạc quan trong hiện thực bi quan, muốn tìm cái toàn thể trong phân lìa, một kết cuộc „có hậu“ có tính cách vượt lên trên mọi giới hạn giam hãm con người trong khát vọng giải phóng.
Ý niệm „đoàn viên“ mang nặng nhân sinh quan cũng như thế giới quan của thời đại trong đó độc giả và tác giả đang sống.
Truyện Kiều của Nguyễn Du nằm trong truyền thống sáng tác „có hậu“ của văn học Việt Nam, mang dấu ấn của những tư tưởng đương thời cũng như tư duy của tác giả. Nhưng một trong những điều làm cho Nguyễn Du vượt thời đại trong tác phẩm của ông – liên hệ đến ý niệm đoàn viên – là ông không „lặp lại“ hay phản ảnh tư duy đương thời một cách thụ động, ngược lại những ý niệm tưởng như đã được mài nhẵn trong văn học lại trở nên những nét độc sáng bất ngờ dưới ngòi bút sáng tạo và cảm thức nhạy bén của nhà thơ. Ý niệm „đoàn viên“ đã được nhà thơ đãi lọc những lá úa của truyền thống tư duy phương Đông mang nặng ảnh hưởng Nho giáo, để trở thành một „vườn xuân“ tươi mát, điển hình của tinh thần phương Đông với đạo tâm hòa bình và hòa hợp.
Tư tưởng nền tảng trong
Truyện Kiều, nhất là lý thuyết Phật giáo, đã được Nguyễn Du đưa vào tác phẩm một cách thần tình và linh hoạt đến nỗi người đọc không bao giờ có cảm tưởng đối diện với một người đang gay go triết lý. Lý luận triết học đã được thi hóa và tâm cảm hoá bằng những vần thơ tuyệt hảo đượm vị „đạo trong đời đời trong đạo“ lưu lại trên đầu lưỡi của người đọc và âm vang mãi đến đời sau, trở nên „tâm ngữ“ về hiện sinh của con người. Chính nền tảng này – và cũng là ý hướng lý giải của bài viết – đã đem lại sắc thái mới trong tác phẩm của nhà thơ.
Nhưng cho đến nay, trong lúc văn chương của
Truyện Kiều đã được đánh giá là „áng văn chương kiệt tác“ vượt hẳn cốt chuyện tầm thường của Thanh Tâm tài nhân
[3] qua ngọn bút tài tình của Nguyễn Du
[4] và tư tưởng trong
Truyện Kiều thường được xem là sự dung hợp thành công ba yếu tố Nho (thuyết tài mệnh tương đố) - Phật (Lý thuyết nhân quả, nghiệp báo và quan niệm về chữ TÂM) – Lão (tư tưởng huyền bí)
[5] , một số nhà phê bình cho rằng
„giá trị tuyệt đối Truyện Kiều là ở văn chương, ở kỹ thuật miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của tác giả“, còn tư tưởng triết học tôn giáo „
giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác“ [6] , hoặc hơn thế nữa tư tưởng triết học này có nhiều „hạn chế“
[7] như Nguyễn Khánh Toàn nhận xét:
Truyện Kiều là một cuốn tiểu thuyết bằng thơ rất sâu sắc, tinh vi, với tất cả tình tiết của một pho tiểu thuyết, bố cục rất chặt chẽ, nhưng vẫn bảo đảm tính thơ tuyệt diệu… Nói rằng Nguyễn Du là một nhà thơ dân tộc vĩ đại, Truyện Kiều là một tác phẩm văn nghệ thiên tài, chúng ta cũng phải thấy những chỗ bị hạn chế, những mâu thuẫn và bế tắc của Nguyễn Du… Những hạn chế của Nguyễn Du trước hết là ở tư tưởng định mệnh… [8]
Bên cạnh việc tìm hiểu „ý niệm đoàn viên“ trong
Truyện Kiều, bài viết đồng thời sẽ kiểm điểm lại „tính dung hợp tư tưởng“ nói trên và những quan điểm phê phán tư tưởng của Nguyễn Du từ đó đưa tới hệ luận phản thuyết những quan điểm đánh giá tiêu cực vừa nêu ra trong chừng mực khuôn khổ của bài viết cho phép.
Hệ luận này đi từ giả thuyết, nếu truy nhận giá trị
Truyện Kiều là một kiệt tác độc nhất vô nhị của nền văn học Việt Nam cho đến ngày hôm nay, thì không thể tách rời văn chương và tư tưởng
Truyện Kiều bằng kết luận có tính khai trừ, cho rằng tư tưởng ấy tầm thường hay giới hạn. Giá trị toàn hảo của tác phẩm Nguyễn Du không thể chỉ nằm trong tính kiệt tác của văn chương, mà còn nằm trong tư tưởng mà văn chương ấy chuyển tải, và Nguyễn Du đã không đi vào tâm tư của người Việt, nếu Nguyễn Du chỉ là người người thợ tuyệt xảo của từ chương và không có tư tưởng triết lý sâu sắc.
[9]
Khảo sát „ý niệm đoàn viên“ do đấy nằm trong ý hướng, trả lại cho Nguyễn Du gia tài tư tưởng mà ông đã gửi gắm cho người đi sau: Gia tài tư tưởng ấy nằm vỏn vẹn trong một chữ duy nhất: chữ TÂM, trái tim mà nhà thơ đã cảm nghiệm và muốn trao lại cho đời sau là một trái tim nhìn „vạn pháp thảy đều là tâm“, linh thiêng hay trần thế chỉ nằm ở một chữ TÂM „Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“.
1.2. Cấu trúc nội dung
Tuy chỉ gồm có 287 câu so với toàn thể 3254 câu thơ, nhưng x
ét trên phương diện cấu trúc nội dung tư tưởng trường ca này, „ý niệm đoàn viên“ trong
Truyện Kiều trước hết có thể xem là một phản đề làm nên yếu tố cơ cấu tạo ra âm điệu, âm giai, cung bậc „mới“ („Tân thanh“) trong nỗi đau đứt ruột (đoạn trường) của nàng Kiều. Bên cạnh ngôn ngữ thi ca của thiên tài họ Nguyễn làm nên vẻ đẹp văn chương vô tiền khoáng hậu của
Truyện Kiều, chính ý niệm này theo cách trình bày và lý giải của Nguyễn Du đã cho nội dung của câu chuyện một nét tân kỳ, mới mẻ, từ đó nâng câu chuyện vượt bực trên bình diện tư duy đặc thù Việt Nam so với trình độ tầm thường trong tác phẩm của Thanh Tâm tài nhân.
Phản đề „đoàn viên“ nằm chính trong tương quan với đề án „cuộc bể dâu“ với „những điều trông thấy mà đau đớn lòng“ trong giới hạn „trăm năm trong cõi người ta“ và trong hữu hạn „chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau“. Khởi đầu lấy hai chữ „TÀI - MỆNH“ trong đời người làm tiền đề dựa vào tư tưởng truyền thống cổ kim, Nguyễn Du kết thúc câu chuyện cũng với hai chữ „TÀI - MỆNH“ trong thế đối nghịch với tiền đề:
Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài đi với chữ tai một vần
Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài.
[10]
Không chỉ là văn phong „khởi thúc đắc pháp“, lung kết chặt chẽ như Trần Trọng Kim nhận xét, mà chính vì tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Du „đem TÂM đối lại TÀI và bù đắp cho TÀI“ đã được dụng tâm ngay từ trong bố cục của toàn tác phẩm, bởi lẽ chính chữ TÂM là điều kiện có thể xây dựng „đoàn viên“ trong „đạo làm người“ theo nhà thơ họ Nguyễn. Dùng chữ „TÂM“ – trong truyền thống Thiền học Việt nam mà Nguyễn Du đã tẩm đượm, miệt mài „kinh lòng hằng đọc“ - để „sửa“ chữ TÀI - MỆnh của Nho giáo– nhà thơ họ Nguyễn đã xây dựng
Ðoạn trường tân thanh bằng một cái nhìn bản thể sâu và rộng, từ đó thi ca của ông có thể bắt kịp được tấm lòng của mọi con người.
Nhìn tổng quan như thế, có thể nói không một chút ngạc nhiên hay do dự hoặc cường điệu rằng: Với đề án „Nỗi đau đứt ruột“ của người đàn bà tài sắc song toàn nhưng lại „tài hoa mệnh bạc“, lại „mang lấy một chữ tình“ và phản đề đoàn viên „hoa tàn mà lại thêm tươi, trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa“ Nguyễn Du đã sử dụng cái khung giáo lý Phật giáo „tứ diệu đế“ để thực hiện bản trường ca
Ðoạn trường tân thanh một cách sáng tạo: nếu câu chuyện 15 năm lưu lạc giang hồ của nàng Kiều từ khi „bán mình chuộc cha“, „thanh lâu hai lượt thanh y hai lần“ cho đến khi trầm mình ở sông Tiền Ðường là một thực chứng thấu đáo của hai diệu đế đầu „khổ và tập khổ“, thì cuộc đoàn tụ gia đình và tái ngộ người yêu thuở ban đầu là cơ hội diệt khổ của nàng Kiều, là cơ hội sự thực hiện giải phóng khổ đau toàn diện nằm trong hai diệu đế sau „diệt và đạo“ như vế đối hay vế đóng cho hai vế đầu.
Nguyễn Du đã không ngờ chưa đầy hai trăm năm sau, có người ở phương trời Tây cũng nương theo cuộc hành trình giải phóng khổ nạn của Siddhartha làm nên một tuyệt phẩm trong lịch sử văn chương Ðức: H. Hesse cũng đã lấy tứ diệu đế để làm bố cục cho bài thơ xứ Ấn
Câu chuyện dòng sông [11] của ông. Trong chừng mực nhất định, có lẽ hai nhà thơ đã gặp nhau ở cái nhìn quán triệt về giáo lý đạo Phật: cặp khái niệm nhị nguyên phải được nhìn trong cái toàn thể của nó: khổ tận-cam lai, khổ và diệt khổ không xa rời nhau, điạ ngục trần gian và Niết bàn tại thế trong cùng một đời người.
Có thể nói Nguyễn Du đã hiểu tính nhất quán của lý thuyết Phật giáo ngay chính trong bố cục của
Ðoạn trường tân thanh. So với lối nhìn Phật giáo phiến diện như một triết lý bi quan yếm thế của thời ông và vẫn còn tồn tại khắc khoải cho đến ngày nay trong tâm thức của nhiều người, Nguyễn Du đã có cái nhìn „kiến tính“ tân kỳ của của cả nền văn học Bát nhã (với Long Thọ) và Thiền học (với Huệ Năng), thêm vào đó nhuần nhuyễn truyền thống Thiền vị Việt Nam: Ý niệm đoàn viên được xây dựng sáng tạo như „đêm qua sân trước một nhành mai“ của thiền sư Mãn Giác, như một mùa xuân mới bừng nở, được phát hoạ bằng chữ „Tâm“ con người „Linh sơn chỉ tại nhữ tâm đầu“ (Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi): Khái niệm „Tân thanh“ trong
Ðoạn trường tân thanh có thể nói là lời phát ngôn của tâm thức tẩm đượm tinh thần Phật giáo của một Nguyễn Du đã từng nghìn lần đọc kinh Kim Cương,
[12] chợt ngộ trong khoảnh khắc bất ngờ trước tảng đá phân kinh:
Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn
Thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số
Nhân liễu thử tâm nhân tự độ
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Minh kính diệc phi đài
Bồ đề bản vô thụ
Ngã độc Kim cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo phân kinh thạch đài hạ
Tái tri vô tự thị chân kinh“.
(
Ta nghe Linh Sơn đức Phật tổ
Thuyết pháp độ người như hằng hà sa số
Người tu được tâm độ ấy rồi
Linh Sơn chỉ ở lòng người thôi!
Chẳng có đài gương sáng
Chẳng có cây Bồ đề
Ta đọc Kim cương trên nghìn lượt
Lắm điều sâu kín hiểu không rành
Ðài đá phân kinh nay được đến
Mới hay „không chữ ấy phân kinh“)
[13]
Giây phút giác ngộ mà Nguyễn Du bắt gặp cũng là giây phút bừng nở hạnh từ bi, hàng tâm theo Phật „thuyết pháp độ nhân như hằng hà sa số“, từ đó phát tâm lân cảm vô hạn với nỗi đọa đày „đau đớn thay phận đàn bà“ trong thiên trường ca bất hủ vượt thời gian. Suy nghĩ về chỗ đứng cơ cấu của ý niệm đoàn viên trong
Truyện Kiều, như một yếu tố nội dung mới của
Ðoạn trường tân thanh cho ta liên tưởng đến đề tài của một cuốn phim mới đây rất nỗi tiếng của đạo diễn Ðại Hàn liên hệ đến bài kinh Bát Nhã:
Xuân, hạ, thu, đông, xuân…
[14] , chính chữ „xuân“ thứ hai nói lên được cách hiểu kinh Bát Nhã của người đạo diễn. Không phải sự tuần hoàn vô thường của bốn mùa chấm dứt ở mùa đông là phù hợp với lý thuyết Phật giáo, ngược lại phải nhìn sự vô thường trong viễn tượng của một mùa xuân lại về: „đừng nói xuân tàn hoa rụng mãi“ mới là „chính kiến“ trong tư thế giải thoát, viên mãn, giác ngộ cuộc hành trình luân hồi, thể nhập vào cuộc đời với một tâm thức „mai nở“, „vô hữu khủng bố, thoát ly điên đảo mộng tưởng“. Sáng tạo của nhà thơ
Ðoạn trường tân thanh và của người đạo diễn khởi sự trong Cái Nhìn (kiến tính) thấu triệt bát nhã: có một mùa xuân muôn đời trong sự đổi thay vô thường: „
Vườn xuân một cửa, để bia muôn đời“
[15]
Chính nằm trong truyền thống tư tưởng này, ý niệm đoàn viên nên được đánh giá khác với những quan điểm phê phán thường có về đoạn cuối của
Truyện Kiều, mà Cao Huy Ðỉnh trong bài viết của ông „Triết lý Phật giáo trong
Truyện Kiều“ mặc dù đã lấy quan điểm phê phán tiêu cực về tinh thần Phật giáo trong
Truyện Kiều và hiểu sai phần nào khái niệm về „nghiệp“ và „tâm“ trong Phật giáo
[16] cũng đã thừa nhận:
…
nhờ thế mới có cái hậu của Truyện Kiều. Cái hậu ấy là sự sum họp với những người nàng yêu nhất trên trần thế, chứ không phải là việc hưởng quả báu tốt ở thiên đường:
„Còn nhiều hưởng thụ về sau ,
Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào!”
Cái hậu này chính là lòng mong mỏi của dân lành, đau khổ muốn được hưởng hạnh phúc cụ thể ngay trên trần thế này. Thật là sai lầm khi chúng ta theo con mắt „lo gích“ „duy lý“ của người phương Tây mà chê bai rằng cái hậu ấy trong tác phẩm cổ điển phương Đông là „công thức“, là „tuổi ấu trĩ của văn học. [17]
Thảo luận những quan điểm khác biệt về „cái hậu“ của
Truyện Kiều sẽ được đề cập đến trong phần triển khai ý nghĩa „đoàn viên“ trong điểm 3.
Ta hãy thử xét lại:
2. Mười lăm năm lưu lạc của nàng Kiều như là thực chứng của „khổ đế và tập đế“
2. 1. Hành trạng khổ đế: Khởi điểm của nỗi khổ là chia ly:
Có thể nói trong lịch sử văn chương mang tính Phật giáo, ngoài
Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông,
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều v.v…, Nguyễn Du là tác giả diễn đạt tận tình và tài tình nỗi khổ của con người hiện thân trong nhân vật Thúy Kiều. Cuộc đời „phong gấm rủ là“ được gia đình che chở chỉ trong khoảnh khắc vì nạn thằng bán tơ và quan quyền vô lại hà hiếp dân lành, chỉ biết ăn tiền hối lộ
[18] , vinh thân phì gia, trở nên cuộc chia ly đau đớn sau khi
chọn lựa giữa tình và hiếu nàng tự quyết định „dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha“, phút chốc „tan tác như hoa giữa đường“. Hạnh phúc của mối tình đầu chưa hưởng trọn thì đã bị tan vỡ, chia tay với chàng Kim rồi xa nhau mãi mãi trên bước đường giang hồ bị bắt buộc phải „đưa người cửa trước rước người cửa sau“. Mối sầu chia ly trở nên nỗi đọa đày thân xác và tâm hồn nàng Kiều trong suốt 15 năm:
Mối tình đầu vừa hé cánh cửa cho người con gái thấy cõi hạnh như chốn „động đào“, tràn đầy yêu thương và hi vọng của miền đất phúc „thiên thai“, với nỗi gắn bó „song song hai miệng một lời đinh ninh“ trước „vầng trăng vằng vặc“ tưởng sẽ được trăm năm ghi tạc „chữ đồng đến xương“, bỗng chốc trở thành „một ngày nặng gánh tương tư một ngày“ :
Ngại ngùng một bước một xa,
Một lời trân trọng châu sa mấy hàng
Buộc yên quảy gánh vội vàng
Mối sầu sẻ nửa bước đường chia hai
Buồn trông phong cảnh quê người
Ðầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa
Não người cữ gió tuần mưa,
Một ngày nặng gánh tương tư một ngày…
Nỗi sầu chia tay người yêu còn nức nở chưa dứt, liền tiếp ngay sự thảm khốc phải chia tay cha mẹ, rời khỏi tổ ấm gia đình, bán thân làm vợ lẽ cho một người xa lạ để cứu cha em khỏi cơn hoạn nạn:
Ðau lòng kẻ ở người đi
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm…
Xót con lòng nặng chề chề
Trước xe ông đã nằn nì thấp cao,
Chút thân liễu yếu tơ đào
Rớp nhà đến nỗi dấn vào tôi ngươi
Từ đây góc bể chân trời
Nắng mưa thui thủi, quê người một thân…
Bơ vơ làm cho nỗi nhớ người yêu, nhớ cha mẹ, nhớ gia đình ngùn cao hơn núi:
Ðùng đùng gió giục mây vần,
Một xe trong cõi hồng trần như bay,
Trông vời gạt lệ phân tay,
Góc trời thăm thẳm, đêm ngày đăm đăm…
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi,
Thấy trăng mà thẹn những lời non sông
Rừng thu tầng biếc xen hồng,
Nghe chim như nhắc tấm lòng thần hôn
2.2. Giấc mộng đoàn viên trở nên một bản ngã thứ hai của nàng Kiều
„Tấm lòng thần hôn“ ấy dần dần kết tinh thành một tâm thức hoài vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với người tình ban đầu trên bước đường „bèo trôi sóng vỗ“, nơi nước non lạ lùng và nhất là trong cõi địa ngục ở miền dương gian, trong đó tha nhân chính là địa ngục ấy: Mã Giám Sinh nước trước bẻ hoa, Tú Bà bắt ra tiếp khách, tự vẫn bằng dao không chết, bị Sở Khanh lường gạt, bị Tú Bà hành hạ phải ra thanh lâu tiếp khách. Nỗi nhớ người thân trở nên những mộng tưởng ban ngày:
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống những rày trông mai chờ
Chân trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
Xót người tựa cửa hôm mai
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ.
Trên bước đường phiêu bạt lênh đênh, đau thương, tưởng nhớ, xót xa dần dần qui kết thành nỗi nhớ nhà mà Lý Bạch gọi là „cố viên tình“, mối tình nhớ đường xưa lối cũ mà kẻ đi xa trong vô thức đã mang lấy trong tim, trong trường hợp của nàng Kiều nỗi nhớ ấy đậm đặc đến trở thành ám ảnh:
Nỗi lòng đòi đoạn xa gần
Chẳng vò mà rối chẳng dần mà đau
Nhớ ơn chín chữ cao sâu
Một ngày một ngả bóng dâu tà tà
Dặm ngàn nước thẳm non xa
Nghĩ đâu thân phận con ra thế này…
Nhớ lời nguyện ước ba sinh
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai
Khi về hỏi liễu Chương đài…
Những cơn nhớ ngất lịm người như thế dần dà tạo nên một thứ áo giáp phòng thủ cho con người đang bị tha nhân độc ác lường gạt, đang bị hoàn cảnh xã hội cay độc đoạ đày, một tâm thức hoài vọng khát khao nhớ về kỷ niệm xưa như một an ủi cho thân phận trong hoàn cảnh đang trải qua. Giấc hương quan trở nên một hiện tượng thường nhật ngày đêm, đi ngược với hiện trạng thực tại. Trong tâm trạng „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, nàng Kiều trong mỗi hoàn cảnh bên ngoài đành phải „vui là vui gượng kẻo mà“, trong lúc bên trong là cả nỗi nhớ „đòi đoạn vò tơ“ triền miên trong „giấc hương quan“:
Nỗi lòng đòi đoạn vò tơ
Giấc hương quan luống lần mơ canh dài
Giấc hương quan hay giấc mộng cố hương trở nên một ám ảnh không nguôi cho nàng Kiều, „song sa vò võ chân trời“, càng đau khổ càng bị oan nghiệt giữa chợ đời, nàng càng không thể quên hạnh phúc gia đình thân yêu, hạnh phúc của tình yêu ban đầu như một vầng trăng bị xẻ làm đôi.
Vầng trăng bị xẻ làm đôi cũng chính là nhân cách của Kiều bị xé làm hai mảnh mà Nguyễn Du đã theo dõi suốt cả 15 năm lênh đênh: tấm thảm kịch đã phân thân nàng Kiều hồn lìa khỏi xác: một tấm thân đem ra để „trả nợ đời“, như chính Kiều trong nhiều cảnh huống đã phản tỉnh về chính thân xác của mình „tấm thân đày đọa vũng lầy“. Tuy là thân của cha mẹ sinh thành, nhưng con người không tự mình ấn định sự tại thế trên cõi đời mà Nguyễn Du gọi là „trời bắt làm người phải thân“, con người không quyết định sự hiện hữu của mình, tấm thân là dấu hiệu của „nghiệp nhân“, từ thân nghiệp ấy chính con người lại là kẻ chịu trách nhiệm về hành trạng của mình. Nhưng đây cũng là mối thương tâm xé ruột: sau bao lần phản kháng, cánh hoa yếu đuối „một phen mưa gió tan tành một phen“ đành trả lời mụ Tú Bà:
Nàng rằng mưa gió dập dìu
Liều thân, thì cũng phải liều thế thôi
Ngoài mặt nói liều nhưng trong lòng „đòi cơn“ đau đớn ê chề. Tấm thân ấy từ đây không phụ thuộc vào nàng nữa, đã trở nên vong thân dưới ngòi bút lân cảm của Nguyễn Du. Trong hơn hai nghìn câu thơ, trong những hoàn cảnh đau thuơng nhất, vẫn là tấm thân ấy trở nên đối tượng của chính cái hồn đang giữ một khoảng cách với nó.
Từ: „thương thay thân phận lạc loài“ rồi „thịt nào chẳng nát, gan nào chẳng kinh“ cho đến „khi tỉnh rượu lúc tàn canh, giật mình mình lại thương mình xót xa“… đến nỗi kinh sợ không tìm thấy chính mình trong thân xác của mình, mình tự từ chối nhân diện hiện tại của mình:
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán, ong chường bấy thân…
Tấm hồng nhan ấy qua „cái thân liệu những từ nhà liệu đi“, đã đầu hàng áp lực xã hội con người nên „đành thân cát dập sóng vùi“, bị đày „vào kiếp phong trần“.
Ðã cho lấy chữ hồng nhan
Làm cho, cho hại, cho tàn, cho cân
Ðã đày vào kiếp phong trần
Sao cho sỉ nhục một lần mới thôi.
Kiều không chỉ bị sỉ nhục một lần mà quá nhiều lần, hết Mã Giám Sinh, Tú Bà, đến Hoạn Thư cùng bọn Ưng Khuyển, hết Hoạn Thư đến Bạc Bà Bạc Hạnh, rồi đến Hồ Tôn Hiến ngụy quân tử… Ðã bao lần nàng cố tìm cách thoát khỏi cảnh tủi nhục đọa đày, cũng bấy nhiêu lần nàng bị tha nhân vùi dập „chim lồng không thể cất mình bay cao“.
Biết thân chạy chẳng khỏi trời
Cũng liều má phấn cho rồi ngày xanh.
Trong tình trạng nhân diện đào hoa vỡ tung „ngọc nát hoa tan“, giữa hai lần tuyệt vọng (lần thứ nhất bị Tú Bà bắt ra tiếp khách) đến độ tìm cách kết liễu tấm thân sắp và đã bị ô nhục, Nguyễn Du đã cho nhân vật của mình „sống còn“ trong những giấc mộng hoài hương như nơi trú ẩn cho tâm hồn. Nỗi nhớ xót xa nhưng cũng là ân sủng trong những ngày phiêu bạt, đã theo Kiều như bóng với hình, đã gìn giữ vết son như một nét trung thực của tâm hồn: ngày mới ra đi là khởi sự của „tấm lòng thần hôn“, lúc bị giam lỏng tại lầu Ngưng Bích nỗi nhớ là „tấm trăng gần ở chung“ đưa nàng về với „người duới nguyệt, chén đồng“, với kỷ niệm ấm cúng cùng với cha mẹ qua ngày nắng ngày mưa.
Trong tâm trạng „người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“, tâm thức nàng trong mỗi chặng đời thường vượt lên tấm thân mang nặng những nỗi bất bằng, mà Nguyễn Du đã dùng hình ảnh „đám mây“: „hồn quê theo ngọn mây Tần“, „lòng còn gửi đám mây Hàng“, „bốn phương mây trắng một màu“ như một biểu tượng hình nhi thượng đầy tâm cảm bao trùm thái độ khước từ hoàn cảnh hiện tại trầm kha tàn phá nội tâm:
Mặc người mưa Sở mây Tần
Những mình nào biết có xuân là gì
Thờ ơ gió trúc mưa mai,
Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân.
Chính những đám mây quê hương trong mỗi chặng đường đời, ngay cả khi có đôi chút hạnh phúc với Thúc Sinh hay lúc vinh quang với Từ Hải, luôn luôn bồng bềnh khát vọng đoàn viên của một người con gái ăm ắp chữ tình, chữ hiếu, chữ thương, đã trở nên những động cơ vô thức, mang con người ấy cố gắng vượt qua những cạm bẫy trong những năm phiêu bạc giang hồ. Những cố gắng đến từ cảm tính của một người đàn bà nghiêng về TÌNH hơn là LÝ- đa tình khổ lụy – trong suốt
Truyện Kiều thường bị thất bại càng làm tăng tấm bi kịch lên đến cao độ. Nhưng ngay cả giây phút tuyệt vọng nhất về thân phận của mình „thân sao thân đến thế này, còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi“ đưa đến quyết định trầm mình tại sông Tiền Ðường, thì khát vọng ấy dù vô vọng, không những theo thuyết luân hồi là điều kiện tái sinh, tái hợp quay vòng qua bàn tay cứu độ của Giác Duyên, mà còn – như Xuân Diệu nhận xét không sai trong trưòng hợp này – „do sức nội tại, thế nội tại của nhân vật và sự việc“, khát vọng ấy
[19] đã là một yếu tố nội dung không thể thiếu trong tư tưởng
Truyện Kiều.
Có thể nói khát vọng đoàn viên đã tạo nên một linh hồn thứ hai của nàng Kiều, đã góp phần vào phẩm chất „thanh cao“ của cá tính nhân vật trong thế tương phản hay „xung đột“ với nửa phần người dày dạn „phong trần“ kia.
Chính trong tương quan xung đột, mâu thuẫn giữa „bắt phong trần phải phong trần“ mà đó là thể xác, và „cho thanh cao mới được phần thanh cao“ mà đó là cái „tâm“, với thi ca sáng tạo của ông, Nguyễn Du đã làm nhân vật Thúy Kiều trở nên bất tử trên phương diện nghệ thuật văn chương, kịch tính, tâm lý nhân vật, và không phải là điểm cuối, ngay cả trên tư tưởng như là linh khí của lời thơ.
© 2005 talawas
[1]Nhan đề của truyện do tác giả đặt là:
Ðoạn trường tân thanh. Sau Phạm Quí Thích (1760 – 1825) khi đem in đổi là:
Kim Vân Kiều tân truyện, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim đổi tên là
Truyện Thúy Kiều, Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu đổi là
Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện. Hiện nay tên truyện thường dùng là
Truyện Thúy Kiều. Theo các nhà khảo cứu văn học, Nguyễn Du đã phóng tác và hình thành bản trường ca này bằng chữ Nôm sau khi đi sứ Trung Quốc (1813) dưới triều vua Gia Long, trong lúc giáo sư Hoàng Xuân Hãn còn ngờ vực thời điểm trước tác
Truyện Kiều nói trên( xem Lời nói đầu
Lễ Vu Lan và Văn tế cô hồn, Hoàng Xuân Hãn, bản do tác giả tự tay đánh máy và chùa Trúc Lâm Paris phóng ảnh 1991).
Bản tham khảo cho bài viết này:
Truyện Thúy Kiều, Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, Việt Nam 1999,
Truyện Kiều chú giải của Vân Hạc Văn Hoè, USA 1976, copyright Lê Bá Kông, 1961/70/76.
[2]Nguyễn Du 1765 (Ất Dậu) – 1820 (Canh Thìn), họ Nguyễn, húy là Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, biệt hiệu là Hồng Sơn Liệp Hộ, quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Con thứ bảy của ông Hoàng Giáp Xuân quận công Nguyễn Nghiễm, làm thủ tướng Lê triều, và bà trắc thất tên là Thấn, người huyện Ðông Ngạn, tỉnh Bắc Ninh (theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim,
Truyện Thúy Kiều, đd, tr. VI, VII).
[3]Về nguồn gốc
Truyện Kiều: theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm và Ðào Duy Anh: BK & TTK viết „Ðoạn tái hợp này cũng dịch theo trong bộ tiểu thuyết Tàu mà lại là một đoạn văn kết cấu rất kỳ“, tr. XX.
Theo DQH và ÐDA: không nên nhầm lẫn về nguyên tác
Truyện Kiều ở Trung Hoa. Kết quả của các tra cứu, các học giả cho thấy: có hai bản nguyên tác tiếng Tàu liên quan đến
Truyện Kiều:
- Sự tích Vương Thúy Kiều của Dư Hoài, hiệu Ðạm Tâm trong tập sách Ngu Sơ Tam Chí, không có đoạn đoàn viên.
- Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân mà người ta thường lấy tên nhầm là truyện Thanh Tâm tài nhân, gồm 20 hồi (theo Ðào Duy Anh), có đoạn đoàn viên.
[4]BK&TTK:
Truyện Thúy Kiều, tr. V: „một kiệt tác làm bằng quốc âm ta. Người trong nước từ kẻ ngu phu ngu phụ cho chí người có văn học, ai cũng biết ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay“, xem Vân Hạc Văn Hoè, tr. V, đã dẫn.
[5]Nguyên Ðịnh, „Sự gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc, nhìn từ góc độ văn học“, trang nhà Khuông Việt số 5, tháng 9 / 2002
[6]Vân Hạc Văn Hòe, đ d, tr. V: „Tác giả hình như muốn mượn
Truyện Kiều để chứng minh và truyền bá một tư tưởng triết học tôn giáo. Tư tưởng ấy giá trị cũng tầm thường và chứng minh cũng chưa đúng xác“
[7]Xin xem „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“
[8]đd, Nguyễn Khánh Toàn, „Nguyễn Du, nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam“, tr. 46/47
[9]Trong cùng bài viết, Nguyễn Khánh Toàn nhận định: „Sức hấp dẫn của
Truyện Kiều đối với nhân dân thật là kỳ diệu. Nói rằng vì văn chương
Truyện Kiều hay cũng chưa đủ để giải thích hiện tượng đó… Lời văn chỉ là lời văn, có thể rất thanh tao, hào nhoáng, nhưng không thể làm cho đất bằng nổi sóng, nếu từ trong đáy lòng nghệ sĩ không bốc lên một nhiệt tình sâu sắc, một ngọn lửa căm thù.“ Đd, tr. 35
[10]BK&TTK, tr. XXI
[11]H. Hesse,
Siddhartha, bản dịch của Phùng Khánh và Phùng Thăng:
Câu chuyện dòng sông, An Tiêm xuất bản
[12]Lương Chiêu Minh Thái Tử phân kinh thạch Ðài (Ðài đá phân kinh của Thái Tử Chiêu Minh đời Lương), thơ chữ Hán của Nguyễn Du. (Ngô Linh Ngọc, Mai Quốc Liên dịch, Nguyễn Du Toàn Tập, I, nhà xb VH, H, 1996, tr. 536 – 540).
[13]Nguyễn Du,
Thơ chữ Hán, đã dẫn.
[14]Cao Huy Thuần, Hai bài kinh Bát nhã, trang nhà Khuông Việt số 9, mục lưu trữ, http://khuongviet.com/KVso9/Xuan%20Ha%20Thu%20Dong.htm
[15]Truyện Kiều, câu 3240, bản BK & TTK
[16]„Chữ tâm của Nguyễn Du…“ v.v… Như vậy
tâm có tính chất tích cực, thực tiễn, không hoàn toàn giống với
tâm gốc Phật vốn là Không.
[17]Cao Huy Ðỉnh, „Triết lý đạo Phật trong
Truyện Kiều“, tr. 295/6, trong „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“.
[18]Nguyễn Khuyến bình luận: „Có tiền việc ấy mà xong nhỉ, đời trước làm quan cũng thế ru?“
[19]Xuân Diệu, „Bản cáo trạng cuối cùng trong
Truyện Kiều“, tuyển tập „Kỷ niệm 200 năm Nguyễn Du“, Nhà xb Khoa học xã hội, 1965.