Tư tưởngVăn hoá và phát triển17.4.2007
Xuân Ba
Chuyện vá» ngưá»i con trai cá»§a há»c giả Nguyá»…n Văn VÄ©nh
Đầu thế kỷ XX, Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những người Việt đầu tiên tham gia vào hầu hết các tổ chức tư vấn của chính quyền Pháp. Nhưng rồi cụ lại từ bỏ tất tật để đi làm báo và xuất bản. Người Pháp dụ dỗ nhiều lần để cụ tham chính với chính quyền Bảo Đại nhưng không được. Lại hai lần cụ từ chối nhận phần thưởng Bắc Đẩu Bội Tinh cao quý của nhà nước Pháp... Và Nguyễn Văn Vĩnh đã lãnh đủ! Cụ đã vỡ nợ rồi gục ngã theo nghĩa đen với cái chết ở bên Lào bởi sự phối hợp cấu kết nhịp nhàng của thực dân với giới tài phiệt thuộc địa. Có lẽ mai hậu, cái chết của nhà văn hóa, học giả Nguyễn Văn Vĩnh ngày 1 tháng 5 năm 1936 vẫn còn là một nghi án. Bởi khi ông Nguyễn Giang, con trai thứ của bà vợ cả cùng Nguyễn Phùng và bà Suzanne sang tận Xêpôn bên Lào để nhận xác thì thấy cụ Vĩnh người đã tím đen như bị đầu độc không thể nhận ra được. May mà bà Suzanne nhận ra bởi trên người cụ Vĩnh có một vết sẹo! Vả chăng trước đó trong thư viết về cho bà Suzanne, cụ Vĩnh nói là mình đã khỏe mạnh hoàn toàn và đang khẩn trương bắt tay vào việc tìm vàng. Với lại cụ Vĩnh mất đột ngột vì bệnh lỵ như tường trình của các nhà chức việc Pháp bên Lào thì thân thể không thể bị tím đen lần biến dạng như thế được! Nhưng khi đó mọi sự rất khác với việc giám định pháp y của bây giờ, không có điều kiện để chứng minh sự nghi vấn của gia đình nên thi hài cụ Vĩnh đã được bỏ vào quan tài kẽm đưa về Hà Nội.
Khéo khen thay cho sự dàn xếp của Toàn quyền Pháp lẫn hệ thống cai trị ở Đông Dương khi ấy! Khéo là họ khiến cho một người vỡ nợ đang thất cơ lỡ vận hoặc là phải ngồi tù hoặc là phải đi đến chốn xứ rừng thiêng nước độc để tìm vàng mà trang trải! Họ đã cho tổ chức một đám tang mà như các báo hồi ấy tường thuật là to chưa từng thấy! Khi đã hạ huyệt ở nghĩa trang Vọng mà đoàn người đưa tiễn cụ Vĩnh vẫn còn ở số nhà 107 ở đại lộ Gambetta (nay là đường Trần Hưng Đạo) nơi tổ chức tang lễ! Các nhà cai trị thực dân không ngờ rằng việc mình đứng ra tổ chức đám tang long trọng là thế, nói đúng hơn là đầu cơ xác chết (như có tờ báo đã thẳng thừng), lại là cái cớ để mọi tầng lớp dân chúng An Nam bày tỏ tình cảm đặc biệt quý mến cụ cũng như bộc bạch tinh thần dân tộc độc lập mà cụ Vĩnh chính là một trong những người chủ xướng!
Đã có hàng trăm câu đối, thơ khóc cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Chẳng hạn:
“Chẳng quan mà quý, chẳng phú mà hào, giữa trời Nam thổi gió tung mây, gan óc dễ đâu vùi chín suối! Có lưỡi như cồng, có bút như thép, trong làng báo mở cờ khua trống, văn chương âu cũng đủ nghìn thu” (câu đối của cụ Huỳnh Thúc Kháng)
Cụ Phan Bội Châu gửi liễn đối khá dài, một Nôm một Hán còn có dòng lạc khoản như thế này:
“Ngày tôi mới về Huế, được gặp ông chủ báo Trung Bắc Tân văn vào Huế thăm tôi cùng một xe với tôi đi Cửa Thuận. Xe nhà ông, ông cầm lấy lái. Nhân duyên xa lạp chưa trải bao nhiêu mà đường lối Bắc Nam chốc thành vĩnh biệt. Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông: Duyên tương tri nhớ trước mười năm, xe Tự Do chung lái, sóng biển vui tai, mộng hồn há lẽ hững hờ, quang cảnh còn in mây Thuận Tấn! Tài bác học trỗi trong hai nước, đàn ngôn luận phất cờ, làng văn nở mặt, công nghiệp tuy còn lỡ dở, thanh âm từng dạt gió Ba lê!”
Khéo nữa, sau đám tang, ông Nguyễn Giang đã được gọi lên Phòng Chính trị Phủ Toàn quyền để nhận giấy phép được tiếp tục sự nghiệp của cụ Vĩnh. Nghĩa là được phép xuất bản lại Đông Dương Tạp chí loại mới và tủ sách Âu Tây tư tưởng và đến tháng 10 năm 1936, nhà in Viễn Đông (IDEO) đã in và xuất bản cuốn Danh văn Âu Mỹ của Nguyễn Giang và cuốn Trà hoa nữ của Nguyễn Hải. Và như mọi người biết, Đông Dương Tạp chí bộ mới số 1 ra đời tháng 5 năm 1937!
Nguyễn Giang, Nguyễn Hải ai? Đó là hai người con cả và con thứ của cụ Nguyễn Văn Vĩnh với bà vợ cả. Lại cũng giản dị như khi đặt tên cho con những là Dực, là Phổ, là Nhược Pháp... Khi theo ngạch thông ngôn, thời gian đầu cụ Vĩnh tòng sự ở Tòa Công sứ Lao Cai rồi Hải Phòng nên đặt tên ông con cả là Hải. Sau đó được đổi về Tòa Công sứ Bắc Giang, sinh thêm người con thứ hai nên đặt là Giang. Cả hai được cụ Vĩnh cho sang Pháp du học. Cũng cần nói thêm một chút về người con cả của cụ Nguyễn Văn Vĩnh, ông Nguyễn Hải. Khác với ông em đi chơi đi vẽ là chủ yếu chứ thời gian dành cho việc chính là theo học trường Luật không được là bao, Nguyễn Hải chí thú với nghề y mà ông đã theo đuổi ngay từ đầu. Khi Nguyễn Giang đang còn ngao du khắp nước Pháp lẫn châu Âu cùng với những nhóm bạn văn nghệ sĩ trong đó có danh họa nổi tiếng như Picasso, thì tốt nghiệp trường Y ở Paris, Nguyễn Hải về nước trước. Ông được phụ trách nhà thương ở Ninh Bình, chức tương đương với Giám đốc Sở Y tế bây giờ. Êm thấm được vài năm nhưng tính khí ông Hải như có chi đó hao hao của người cha là thẳng lẫn nóng, ông bác sĩ này thường xuyên mẹc xà lù với cả quan chức lẫn thầy thuốc Pháp mỗi khi chứng kiến những việc trái tai gai mắt. Rút cuộc ông cáu lẫn chán, bỏ nhà thương Ninh Bình về Hà Nội mở phòng mạch tư ở phố Phan Bội Châu bây giờ. Việc kiếm sống lẫn tính khí đã khiến bác sĩ Nguyễn Hải chuyển dịch khắp nơi, xa nhất có lẽ là tận vùng Bến Tre rồi Rạch Giá Hà Tiên và cuối đời, bác sĩ Nguyễn Hải đã vĩnh viễn nằm lại ở mảnh đất xa ngái Rạch Giá. Qua câu chuyện với ông Hồ, người con út vụ Vĩnh, tôi được biết thêm bà vợ ông Nguyễn Hải là chị ruột của Luật sư Trần Văn Chương, bố vợ Ngô Đình Nhu sau này...
Trong số những người con đông đúc (bà cả 14 người, bà hai mỗi mình Nguyễn Nhược Pháp, bà ba được ba người, ông Vĩnh nằm xuống ở độ tuổi 54 và có 18 nam nhi nữ tử như thế quả cũng đáng nể!) tài hoa của cụ Vĩnh mà Nguyễn Giang thừa hưởng nhiều nhất có lẽ là cái gien ngoại ngữ. (Tuy ông con cả Nguyễn Hải tất nhiên cũng rành tiếng Pháp nên mới là người An Nam đầu tiên chuyển ngữ rất thành công cuốn Trà hoa nữ của Alecxandre Dumas "con" như thế!) Hồi học trung học ở Hà Nội, Nguyễn Giang đã thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh lẫn tiếng Trung và sau này thạo cả tiếng Nhật. Có lẽ năng khiếu ngoại ngữ và khả năng chuyển ngữ đã khiến ông nổi danh hơn cả với tập thơ Trời xanh thẳm xuất bản năm 1935. Những cuốn sách của nước ngoài mà bản dịch được nhiều người truyền tay như Danh văn Âu Mỹ (1936), Macbet (1938) và Hamlet (1940) của Shakespeare, Hernani của V.Hugo (1940), Truyện cổ Grimm (1950) và sau này là Giấc mộng đêm hè. v.v... Ngoài viết văn, làm thơ và dịch, Nguyễn Giang còn có khiếu hội họa. Lý ra tốt nghiệp trường Luật, ông phải về nước từ lâu nhưng xứ sở Paris, thủ đô hội họa, nơi hội tụ những danh tài thế giới khiến ông khó mà dứt ra được. Bởi thế ông mới ở lỳ hơn 10 năm bên Pháp. Chính trong thời gian ở Paris, Nguyễn Giang đã làm quen và sau này chơi rất thân với danh hoạ Picasso. Picasso coi anh sinh viên người An Nam bé nhỏ ở trường Luật Paris nhưng rất có năng khiếu hội họa như một người bạn vong niên. Liên tài hay gì chả biết nhưng Picasso hơn Nguyễn Giang có đến 17 tuổi, thế mà vẫn chơi được với nhau. Làm quen với nhau quãng năm 1924, 1925, khi đó Picasso đã quá nổi ở Paris, là chủ soái của trường phái Lập thể và thời kỳ ấy đang trở lại trường phái Cổ điển. Khi Nguyễn Giang về nước rồi lụi hụi với Đông Dương Tạp chí (bộ mới) rồi những Âu Tây tư tưởng này khác thì bên trời Tây, Picasso đã nổi như cồn với Guernica và trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản...
Ông Nguyễn Hồ, người con trai út của cụ Vĩnh lục tìm cho tôi bài viết của họa sĩ Tô Ngọc Vân về phòng tranh của Nguyễn Giang mở ở Hà Nội thời gian mới ở Pháp về. Phòng tranh được đặt ở trụ sở Khai trí Tiến Đức và dư âm cuộc triển lãm khá nổi tiếng... Ông Hồ vừa tìm vừa kể tôi nghe, lúc nhớ lúc quên, về những cuộc du hý và cả những lần nhậu đây đó ở Paris và một vài thành phố lớn bên Pháp giữa Nguyễn Giang với Picasso mà sau này về nước Nguyễn Giang kể lại cho ông nghe! Mãi khi đã về nước, hai người còn thư từ với nhau vài lần... Lại chợt dậy lên cảm giác hùi hụi tiếc như tiếc tấm ảnh Nguyễn Nhược Pháp chụp với cô bé ở chùa Hương năm nao không có mặt trong album của gia đình, tôi thừ người khi nghe ông Hồ cho hay những bức thư của danh họa Picasso gửi cho Nguyễn Giang hình như đã bị thất lạc hết!
Hình như những năm điều hành Đông Dương Tạp chí (bộ mới) lẫn tủ sách Âu Tây Tư tưởng theo thiện chí và ân huệ của các nhà cầm quyền thuộc địa không phải là giai đoạn đắc ý trong cuộc đời Nguyễn Giang? Nếu có chi đó coi là được thì đó là Nguyễn Giang đã vượt quyền và làm trái sự chỉ đạo của các quan cai trị khi trực tiếp chuyển ngữ những tác phẩm của Shakespeare. Những cuốn này năm lần bảy lượt mới được in vì bị cho là truyền bá những tác phẩm không thuần Pháp! Sau này về cuối đời, Nguyễn Giang sống cô độc và đâm kiệm lời hẳn, họa hoằn chỉ kể cho ông Hồ, người em trai của mình nghe cái quãng lang bạt kỳ hồ bên trời Âu năm ấy. Những năm mà cổ nhân đã đúc kết “Dữ quân nhất dạ thoại! Thắng độc thập niên thư” (một đêm trò chuyện với anh còn có ích hơn một mình mười năm đọc sách). Lại một bất ngờ nữa về Nguyễn Giang qua câu chuyện của ông Hồ. Không hiểu Nguyễn Giang học từ bao giờ mà ngoài Trung văn lẫn Hán văn ra, ông còn khá thông thạo chữ Phạn, thứ văn tự mà cho đến bây giờ cũng chưa nhiều người biết lắm. Ông còn thạo cả tiếng Latinh nữa chứ! Ông Hồ đồ rằng cái khoản này chắc ông Giang có được bởi những năm bươn bả bên trời Âu... Còn cơn cớ để Nguyễn Giang thạo tiếng Nhật như ông Hồ cho hay là có lẽ cái quãng Nguyễn Giang là bạn thân của Komatshu. Ông Hồ cho biết, Komatshu từng học với Nguyễn Giang hồi bên Pháp chứ không phải mới quen biết sau này khi có mặt ở Hà Thành hồi Nhật làm bá chủ Đông Dương... Komatshu không biết có phải là một chức sắc trong hàng ngũ cai trị của Nhật ở Đông Dương không, nhưng đó là một người hoạt động văn hóa lẫn báo chí khá nổi tiếng. Komatshu là trưởng phòng văn hóa Nhật ở Hà Nội khi ấy... Nguyễn Giang có cộng tác với Komatshu ra tờ Bình minh chửi Pháp và truyền bá thuyết Đại Đông Á bán khá chạy... Hòa bình lập lại trên miền Bắc, sau Hiệp nghị Genève, chính phủ cho phép ông Giang phối hợp với phía Pháp quản lý trường trung học Albert Sarraut một thời gian (sau này đổi thành trường Trần Phú). Thời gian nghỉ, ông Nguyễn Giang có cộng tác với mấy nhà xuất bản, trong đó có NXB Văn hóa, NXB Văn học dịch những Sophocle, truyện cổ Grimm, Perrault... và dịch cả cuốn gì đó từ tiếng Latinh mà ông Hồ chưa kịp nhớ ra... Cữ tháng 3 dương lịch là giỗ Nguyễn Giang. Ông mất tại Hà Nội năm 1969, thọ chỉ 65 tuổi.
... Bữa cùng hậu duệ cụ Vĩnh về quê tổ Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Tây thắp hương cho cụ Nguyễn Văn Vĩnh (trong khu mộ phần của gia đình để ở cánh đồng làng Phượng Dực có mộ ông Nguyễn Giang), câu chuyện trên xe có nối thêm một chi tiết về nhà thơ kiêm dịch giả Nguyễn Giang. Ông Hồ đắn đo một chút rồi nói nhỏ cùng tôi rằng: đã ba đời rồi họ Nguyễn nhà ông, con thì đông vậy nhưng cứ đến người thứ hai thì không có con! Đến Nguyễn Giang là đời thứ 3 cũng vậy... Lạ thế!
Làng Hồ - Cuối năm Tuất
Nguồn: Báo Văn nghệ Trẻ số Xuân Äinh Hợi