Edward W. Said
Chín năm trước, tôi viết lời bạt cho cuốn
Ðông phương học, trong đó, bằng cách cố nói rõ thêm những gì nghĩ là mình đã nói ra và chưa nói ra, tôi đã nhấn mạnh không chỉ vào vô số cuộc tranh cãi bùng ra sau khi sách của tôi ra mắt vào năm 1978, mà nhấn mạnh cả những cung cách một cuốn sách trình bày về chuyện "phương đông" lại đã dẫn tới việc người ta càng ngày càng hiểu sai về phương đông. Cái cảm giác tôi thấy mình nực cười hơn là cáu bẳn về chính cái điều đó giờ đây là một dấu hiệu cho thấy tuổi tác đã luồn lọt vào cuộc đời mình ra sao. Hai cái chết mới đây của hai cố vấn chủ chốt của tôi về tri thức, về chính trị và cả về chuyện riêng, các nhà văn và nhà hoạt động Eqbal Ahmad và Ibrahim Abu-Lughod đã đem lại đau buồn mất mát, đồng thời một sự nhẫn nhịn và một chút bướng bỉnh cũng sẽ còn đi tiếp cùng tôi.
Trong hồi ký "ở không đúng chỗ" (
Out of Place - 1999) tôi đã mô tả những thế giới lạ kỳ và đối lập nơi tôi sinh ra và lớn lên, sách đã đem lại cho bản thân tôi và bạn đọc nhiều tình tiết tỉ mỉ về những bối cảnh ở Palestin, ở Ai-cập và ở Libăng, những nơi tôi nghĩ là đã đào tạo nên con người tôi. Nhưng đó chỉ là một bản tổng kết rất riêng tư, dừng hẳn không nói gì về những năm tháng tham gia hoạt động chính trị của tôi bắt đầu từ sau cuộc chiến tranh 1967 giữa Israel và các nước A-rập.
Ðông phương học thực sự là cuốn sách gắn bó chặt chẽ với sự ồn ào sôi động của lịch sử đương thời. Trang đầu tiên mở ra với việc mô tả cuộc nội chiến ở Libăng kết thúc năm 1990, thế nhưng bạo lực và, ôi sao mà xấu xí, cái cảnh máu người đổ ra vẫn còn tiếp tục đến tận phút này. Chúng ta đã thất bại trong việc tiếp tục tiến trình hoà bình ký kết ở Oslo, rồi cuộc intifada thứ hai bùng ra, và nỗi đau khổ khủng khiếp của người Palestin trên Bờ Tây và ở dải Gaza bị tái chiếm. Hiện tượng đánh bom cảm tử xuất hiện với cảnh tàn phá gớm ghiếc, đương nhiên là kém khủng khiếp và không giống cảnh tận thế như các sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 và những gì kéo theo sau đó trong các cuộc chiến tranh chống Afghanistan và Iraq. Khi tôi viết những giòng này, Anh và Mỹ vẫn đang chiếm đóng bất hợp pháp Iraq. Ngắm nhìn những gì xảy ra tiếp theo cuộc chiếm đóng này thực sự là khủng khiếp. Ðó là toàn bộ cái phần tôi coi như là cuộc đụng độ không bao giờ chấm hết, không bên nào chịu bên nào, vô phương cứu chữa giữa các nền văn minh. Ấy thế mà, tôi lại nghĩ không phải như vậy.
Tôi những mong mình có thể nói lên rằng sự hiểu biết nói chung ở Mỹ đối với Trung Ðông, với người A-rập và đạo Hồi đã gia tăng, nhưng than ôi, tôi thực sự không nói vậy được. Vì nhiều nguyên nhân các loại, tình hình này bên châu Âu hình như khá hơn hẳn. Ðiều mà những nhà lãnh đạo Mỹ cùng các đầy tớ trí tuệ của họ hình như không thể hiểu nổi, ấy là việc không thể xoá sạch lịch sử như ta xoá cái bảng đen, đến độ họ cho là "chúng ta" cần phải vẽ lên đó tương lai của mình và áp đặt hình thái sống của mình cho những con người nhỏ bé hơn kia phải theo. Gần như là chuyện bình thường khi nghe những quan chức cấp cao ở Washington và đâu đó nói đến việc thay đổi bản đồ Trung Ðông, cơ hồ như các xã hội cổ xưa cùng vô vàn con người có thể bị xáo lên như ta đảo hột lạc trong vò. Thế nhưng chuyện thay đổi bản đồ này đã xảy đến với "phương đông", cái hình thù nửa huyền thoại mà từ cuộc xâm lược Ai-cập của Napoleon cuối thế kỷ 18 đã được nhào đi nặn lại không biết bao nhiêu lần. Trong tiến trình này, vô vàn trầm tích của lịch sử, tính đa dạng đến chóng mặt về người, về ngôn ngữ, trải nghiệm và các nền văn hoá đã bị quét sạch hoặc bị lãng quên, bị chôn vùi trong cồn cát cùng với những báu vật tan tành bị đem đi ra khỏi Baghdad.
Lập luận của tôi là lịch sử do mọi người, đàn ông và đàn bà, cùng làm ra, cũng như nó chẳng thể nào không được làm ra và được người ta viết lại, đến độ là, cái phương đông "của chúng ta" trở thành tài sản của ta và do ta điều khiển. Và tôi vô cùng tôn trọng quyền năng và tài trí của nhân dân vùng này đã đấu tranh vì tầm nhìn của riêng họ về hiện tại và tương lai của chính họ. Ðã có sự đả kích vô cùng quy mô và có tính toán vào các xã hội A-rập và Hồi giáo đương thời về tình trạng lạc hậu của họ, về sự thiếu dân chủ, sự thủ tiêu các quyền của phụ nữ mà đơn giản là chúng ta quên mất rằng những khái niệm như hiện đại, khai sáng và dân chủ chẳng hề giản đơn và dễ chấp nhận như chuyện tìm thấy hoặc không tìm thấy trong phòng khách những quả trứng nhuộm màu trong lễ Phục sinh. Sự vô tư ngoạn mục của những bài chính luận nhạt phèo viết ra nhân danh chính sách đối ngoại và chẳng có chút hiểu biết gì cái ngôn ngữ đích thực mà con người đang thực sự nói năng, đã tạo ra một miền đất cằn chuẩn bị cho quyền lực của Mỹ đến đây xây dựng cái mô hình thế phẩm của một nền "dân chủ" kinh tế thị trường.
Thế nhưng có sự khác nhau giữa một mặt là sự hiểu biết các dân tộc khác và các thời đại khác như là kết quả của nhận thức, của đồng cảm, của nghiên cứu và phân tích công phu, hiểu biết chỉ để "hiểu biết" thôi, và một mặt khác là sự hiểu biết coi như một phần của cả một chiến dịch tự khẳng định. Chắc chắn rằng một trong những thảm hoạ trí tuệ của lịch sử ấy là một cuộc chiến tranh đế quốc do một nhóm nhỏ quan chức Hoa Kỳ không được dân bầu đã tiến hành và phá tan cái nền độc tài thế giới thứ ba trên toàn bộ các cơ sở ý thức chẳng dính dáng gì đến việc thống trị thế giới, đến sự bảo đảm kiểm soát các nguồn tài nguyên khan hiếm, cuộc chiến được cải trang che dấu ý đồ thực thụ, được thúc đẩy và bênh vực bởi những nhà đông phương học đã phản bội lại danh hiệu bác học của mình.
Ảnh hưởng chủ yếu lên Lầu Năm góc và Hội đồng an ninh quốc gia của George W. Bush là những con người như Bernard Lewis và Fouad Ajami, những chuyên gia về thế giới A-rập và đạo Hồi đã giúp phái diều hâu Mỹ suy nghĩ về các hiện tượng hoàn toàn khó hiểu như cái tư duy A-rập và sự suy thoái của cái đạo Hồi tuổi đời đã nhiều thế kỷ mà chỉ sức mạnh Mỹ là có thể lật đổ được thôi. Ngày nay các quầy bán sách bên Hoa Kỳ chất đầy những bài viết nhàm chán mang những dòng tít kích động về đạo Hồi và khủng bố, về mối đe doạ A-rập và người Hồi giáo, tất cả đều do các nhà bút chiến chính trị viết ra và tự cho là có những hiểu biết san sẻ với những chuyên gia giả định là đã thâm nhập được vào trái tim những dân tộc phương đông kỳ lạ kia. Hãng CNN và Fox, cùng với vô thiên lủng những người dẫn chương trình nói như thánh trên các đài truyền thanh cánh hữu, vô vàn tờ báo đại chúng và thậm chí cả những tờ báo có tầm trí tuệ vừa vừa phải, đã xàng xê lại những điều bịa đặt và những kết luận tổng quát không ai kiểm chứng nổi kia nhằm khuấy động "Nước Mỹ" chống lại ma quỷ bên ngoài.
Nếu không có cách cảm nhận hợp lý rằng con người ở đó chẳng giống "chúng ta" và họ chẳng hiểu nổi các giá trị "của chúng ta" - cái hạt nhân thực sự của tín điều đông phương học cổ truyền - thì hẳn đã chẳng có chiến tranh. Các cố vấn Mỹ giúp Lầu năm góc và Nhà trắng cũng dùng những lược đồ như thế, những khuôn mẫu nhằm hạ giá kẻ khác kiểu ấy, cũng những biện bạch cho sức mạnh và bạo lực kiểu như thế (mà suy cho cùng, khi dàn đồng ca cất lên, lời lẽ duy nhất họ hiểu nổi là sức mạnh và bạo lực) hệt như các nhà bác học được tuyển mộ bởi những người Hà Lan đi chinh phục Malaixia và Inđônêxia, bởi các đạo quân Anh quốc ở Ấn độ, ở vùng Lưỡng Hà, ở Ai cập, ở Tây Phi, bởi các đạo quân Pháp ở Ðông dương và Bắc Phi. Giờ đây ở Iraq những con người ấy lại nhập vào với đạo quân những nhà trúng thầu tư nhân và những kẻ nhận thầu hau háu, và họ nhận làm mọi việc, từ viết sách giáo khoa và hiến pháp đến việc tổ chức lại đời sống chính trị Iraq cùng nền công nghiệp dầu mỏ nước này.
Từng đế quốc mỗi khi đăng đàn chính thức đều nói rằng nó chẳng giống chút nào với những đế quốc khác, rằng hoàn cảnh là đặc biệt, rằng nó có sứ mệnh văn minh khai sáng, rằng nó đem lại trật tự và dân chủ, và rằng đã hết cách nên nó mới phải dùng vũ lực. Và buồn hơn nữa là, lại có lời đáp đồng thanh từ những nhà trí thức thiện chí, cất lời trấn an về các đế quốc vô hại hoặc đế quốc vị tha.
Hai mươi lăm năm sau khi sách của tôi xuất bản,
Ðông phương học một lần nữa lại nêu lên câu hỏi là liệu chủ nghĩa đế quốc hiện đại từng có khi nào mất đi không, hay là nó nối tiếp ở phương đông kể từ khi Napoleon vào Ai-cập hai thế kỷ trước đây. Người ta nói với người A-rập và người Hồi giáo về cái thuyết nạn nhân đó, và những cách người ta biện luận rông dài về những tai hoạ các đế quốc gây ra chỉ là những cung cách lẩn tránh trách nhiệm trong hiện tại. Các người đã thua, các người đã mắc sai lầm, nhà đông phương học hiện đại nói vậy. Rõ ràng đó cũng là cách đóng góp vào văn học của V.S. Naipaul, nói rằng những nạn nhân của đế quốc cứ than khóc đi trong khi đất nước họ bị xé nát và quăng cho chó nhai. Nhưng thật là một tính toán nông choèn việc đế quốc nhảy vào đâu đó, nó có quá ít ỏi hy vọng đương đầu với những năm dài liên tục theo kiểu đế quốc đối với những con người chẳng hạn như người Palestin hoặc Congo hoặc Algeria hoặc Iraq.
Ta hãy suy nghĩ về suốt quãng đường bắt đầu từ Napoleon, rồi tiếp nối với trào lưu nghiên cứu phương đông và việc chiếm toàn bộ Bắc Phi, rồi lại tiếp tục diễn ra như vậy ở Việt nam, ở Ai-cập, ở Palestin, và suốt thế kỷ thứ 20 trong cuộc chiến dầu mỏ và kiểm soát chiến lược vùng Vịnh, tại Iraq, tại Syria, ở Palestin và Afghanistan. Rồi ta lại suy nghĩ về trào lưu dân tộc chủ nghĩa chống chế độ thuộc địa thông qua giai đoạn ngắn ngủi độc lập tự do, kỷ nguyên những cuộc đảo chính quân sự, những cuộc nổi dậy, kỷ nguyên nội chiến, cuồng tín tôn giáo, cuộc chiến phi lý và sự tàn bạo không khoan nhượng chống lại những nhóm người "bản địa" còn sót lại. Mỗi khúc và mỗi giai đoạn đó đều tạo ra sự hiểu biết méo mó về giai đoạn khác, tự tạo ra những hình ảnh thu nhỏ về chính mình và những luận chiến chẳng anh nào thắng.
Tư tưởng của tôi về
Đông phương học là lấy phép phê phán nhân bản để mở ra những trường đấu tranh, để du nhập một cung cách suy nghĩ và phân tích dài hơi hơn, thay thế cho những bùng nổ ngắn ngủi các luận chiến, những cơn điên rồ ngăn cản con người suy tư và cầm tù tất cả chúng ta. Tôi đã gọi tên điều tôi gắng làm là "chủ nghĩa nhân bản", một từ tôi cứng đầu cứng cổ tiếp tục dùng mặc cho các nhà phê bình rắc rối thời hậu hiện đại từ chối nó một cách đầy khinh rẻ. Tôi nghĩ, nhân bản chủ nghĩa là trước hết cố sức tìm cách gỡ bỏ "vòng kim cô" trí tuệ sao cho ta có khả năng sử dụng đầu óc mình một cách chính xác lịch sử và hợp lý vì mục đích nhận thức có suy tư. Chưa kể là chủ nghĩa nhân bản còn được trụ đỡ bởi ý tưởng cộng đồng gắn với những cách hiểu khác và các xã hội và giai đoạn khác: từ đó, nói cho gọn, ta không thể nào là một nhà nhân bản lẻ loi, cô lập cho được.
Vậy thì, sẽ là đúng đắn nếu nói rằng các lĩnh vực đều gắn với nhau, và mọi thứ đang tiếp diễn trong thế giới chúng ta chẳng hề bao giờ biệt lập với nhau và hoàn toàn thoát khỏi mọi ảnh hưởng từ bên ngoài. Chúng ta cần nói lên những vấn đề phải giải quyết về bất công và đau khổ trong cái thực tại xác định đầy đủ về lịch sử, về văn hoá và về kinh tế-xã hội. Trong đời mình, trong 35 năm qua, tôi đã bỏ ra nhiều công sức biện hộ cho quyền tự quyết của dân tộc Palestin, nhưng tôi đã làm công việc đó với sự chú ý đầy đủ đến thực tại của người Do thái và những gì họ từng đau khổ khi bị tróc nã và diệt chủng. Ðiều hết sức có ý nghĩa là cuộc đấu tranh vì quyền bình đẳng giữa Palestin và Israel nên được tiến hành theo hướng nhân bản, nghĩa là cùng chung sống, và không tiêu diệt và khước từ lẫn nhau thêm nữa.
Là một nhà nhân bản mà lĩnh vực hoạt động là văn học, tôi đã khá già vì đã trải 40 năm đào luyện về văn học so sánh, những tư tưởng dẫn dắt ngành nghiên cứu này gốc gác từ nước Ðức cuối thế kỷ 18 và đầu thế jỷ 19. Tôi cũng phải nhắc đến sự đóng góp vô cùng sáng tạo của Giambattista Vico, nhà triết học và ngữ học thành Napoli mà tư tưởng của ông đã đi trước các nhà tư tưởng Ðức như Herder và Wolf, sau này còn được tiếp tục bởi Goethe, Humboldt, Dilthey, Nietzsche, Gadamer, và cuối cùng là các nhà ngữ học vĩ đại về các ngôn ngữ Roman thế kỷ 20 Erich Auerbach, Leo Spitzer và Ernst Robert Curtius.
Các bạn trẻ thế hệ mới ngày nay nghe nói đến ngữ học là nghĩ ngay tới điều gì đó cổ kính mốc meo không sao chịu nổi, nhưng thực ra ngữ học là ngành cơ bản và sáng tạo nhất trong các nghệ thuật diễn giải. Với tôi, điều đó hiển hiện rõ một cách đáng nể trong mối quan tâm của Goethe với đạo Hồi nói chung và quan tâm đặc biệt tới nhà thơ Ba-tư người Sufi thế kỷ thứ 14 Hafiz, một niềm say mê day dứt đã dẫn tới việc viết nên
West-Östlicher Diwan, và nó phản ánh những tư tưởng sau này của Goethe về Văn học thế giới (Weltliteratur), công trình nghiên cứu mọi nền văn học như một tổng thể hợp xướng để mọi người có thể nắm bắt ở trình độ lý thuyết chung cũng như bảo tồn được từng tác phẩm riêng mà vẫn không quên mất cái toàn thể.
Người ta cũng giễu cợt rất nhiều khi thấy cái thế giới toàn cầu hoá ngày nay đang lôi cuốn mọi sự vật vào với nhau, liệu chúng ta có thể hiểu những tư tưởng của Goethe muốn phòng tránh sự chuẩn hoá và bá quyền. Trong một tiểu luận công bố năm 1951 tiêu đề
Ngữ học của Văn học thế giới (Philologie der Weltliteratur), chính Auerbach đã nói đến điều đó. Cuốn sách
Mimesis vĩ đại của ông xuất bản ở Berne năm 1946 nhưng được viết khi Auerbach trong chiến tranh bị lưu đầy tới Istanbul dạy các ngôn ngữ Roman, cần được hiểu như là một chúc thư cho người sau đi vào tính đa dạng và tính cụ thể của thực tại như đã được diễn đạt trong nền văn học phương tây kể từ Homer cho đến Virginia Woolf; thế nhưng, khi đọc bài tiểu luận năm 1951 ta cảm thấy như, với Auerbach, cuốn sách vĩ đại ông viết ra chỉ là khúc bi ca cho một giai đoạn khi con người còn có khả năng diễn giải các văn bản một cách ngữ học, cụ thể, biểu cảm và trực giác, khi con người còn dùng được sự uyên bác cùng năng lực sử dụng kỳ diệu vô số ngôn ngữ để có thể hiểu nổi điều nhận thức mà Goethe bảo vệ về nhận thức của ông đồi với nền văn học đạo Hồi.
Sự hiểu biết tích cực các ngôn ngữ và lịch sử là điều cần thiết, nhưng chẳng khi nào được coi là đủ, cũng như việc thu thập máy móc các sự kiện chẳng thể coi là một phương pháp thu thập đúng đắn mà một tác giả chẳng hạn như Dante đã dùng. Ðòi hỏi chủ yếu để hiểu cách nhận thức ngữ học mà Auerbach và những người trước ông đã nói tới và tìm cách thực thi là cái đã đi vào đời sống của văn bản viết một cách đồng cảm và chủ quan theo trục nhìn của thời đại và tác giả của nó. Thay vì mang tính tha hoá và hận thù đối với thời đại khác cùng nền văn hoá khác, ngữ học được ứng dụng trong nghiên cứu Văn học thế giới (Weltliteratur) mang tinh thần nhân bản sâu xa đầy rộng lượng và mến khách, tôi muốn dùng từ này nữa. Vậy là, cái tư duy của người diễn giải tích cực tạo ra một chỗ đứng trong đó cho một "kẻ khác" xa lạ. Và sự sáng tạo ra một chỗ đứng này cho những tác phẩm lý ra đã thành xa lạ và xa vời là khía cạnh quan trọng nhất hạng của sứ mệnh diễn giải.
Hiển nhiên là tất cả những điều này đã bị chủ nghĩa quốc xã phá sạch ở nước Ðức. Sau chiến tranh, Auerbach buồn rầu nhận xét, sự tiêu chuẩn hoá các tư tưởng, sự chuyên môn hoá tri thức ngày càng cao đã dần dần thu hẹp các cơ may thực thi kiểu nghiên cứu ông đã trình bày trong công trình ngữ học của mình; và hỡi ôi điều gì còn đau đớn hơn nữa sau cái chết của Auerbach năm 1957, đó là cả tư tưởng lẫn thực thi cách nghiên cứu nhân bản đã bị thu hẹp cả ở bề rộng lẫn ở độ tập trung. Thay vì đọc lấy cái ý nghĩa đích thực của ngôn từ, sinh viên ngày nay thường tản mạn đi vào các mảnh tri thức tìm thấy trên Internet và trong các phương tiện thông tin đại chúng.
Tồi tệ hơn nữa, nền giáo dục còn bị đe doạ bởi những kẻ chính giáo dân tộc và tôn giáo, truyền bá qua các phương tiện truyền thông bằng chiến tranh điện tử một cách phi lịch sử và giật gân, khiến người bị tuyên truyền có cảm giác thấy mọi chuyện y như thật, thực tình là làm lu mờ nỗi đau khủng khiếp do các phương tiện chiến tranh hiện đại gây nên. Trong việc biến một kẻ thù không ai biết thành ma thành quỷ với cái nhãn hiệu "khủng bố" làm cho quần chúng bị khuấy động và tức giận, các hình ảnh trên phương tiện truyền thông chi phối ghê gớm sự chú ý của mọi người và có thể đem ra khai thác vào những thời điểm khủng hoảng và bất ổn kiẻu như sau vụ 11 tháng 9 năm 2001.
Lên tiếng với hai tư cách, một Mỹ và một A-rập, tôi phải yêu cầu bạn đọc không đánh giá thấp cách nhìn thế giới đơn giản hoá mà một nhúm tương đối nhỏ những người dân sự tinh hoa ở Lầu năm góc vẫn phát biểu về chính sách của Hoa Kỳ đối với toàn thể thế giới A-rập và Hồi giáo, một cách nhìn - được hỗ trợ bởi một ngân sách quân sự lớn nhất hạng trong lịch sử - trong đó khủng bố, chiến tranh phủ đầu và đơn phương thay đổi chế độ là những ý tưởng chủ đạo được bàn thảo không bao giờ ngừng và làm cho con người nghèo nàn đi bởi những phương tiện tự trao cho mình cái vai trò tạo ra những "chuyên gia" làm công việc công nhận giá trị đường lối chung của chính phủ. Suy tư, thảo luận, lập luận có lý có lẽ và có nguyên tắc đạo lý dựa trên khái niệm lâu đời cho rằng con người phải tạo ra lịch sử của chính mình đã bị thay thế bằng những ý tưởng trừu tượng ca tụng tính chất đặc chủng của Mỹ và phương Tây, báng bổ bối cảnh thích đáng, và nhìn các nền văn hoá khác với một vẻ khinh thị.
Có thể bạn sẽ nói rằng tôi đang tạo ra quá nhiều bước quá độ dốc đứng giữa một bên là cách diễn giải nhân bản và một bên là chính sách đối ngoại, và nghĩ rằng một xã hội công nghệ hiện đại cùng với quyền lực chưa từng thấy lại có thêm Internet và máy bay tiêm kích F-16 thì cuối cùng phải được chỉ huy bởi những chuyên gia kỹ thuật-chính sách khủng khiếp như Donald Rumsfeld và Richard Perle. Nhưng có cái gì đã thực sự mất đi ấy là ta không còn nữa cái cảm giác về sự tinh chất và sự tương hỗ của cuộc sống con người, cái không thể nào bị thu gọn thành một công thức hoặc bị gạt ra rìa vì bị coi là không thích hợp.
Ðó là một phương diện của cuộc tranh luận chung. Trong các nước A-rập và Hồi giáo, tình hình khó nói được là khá hơn. Như Roula Khalaf đã nói, vùng này đã bị trượt vào một chủ nghĩa chống Mỹ dễ dãi nó cho thấy người ta ít hiểu biết xã hội Mỹ thực sự là thế nào. Do chỗ các chính phủ đều tương đối không có quyền lực để có thể tác động đến chính sách của Hoa Kỳ đối với họ, nên họ dồn năng lượng sang trấn áp và kiềm chế chính dân chúng nước mình, dẫn đến kết quả là bất bình, giận dữ và chửi rủa vô vọng, không làm gì để làm mở mang được các xã hội nơi đó các ý tưởng lâu đời về lịch sử và sự phát triển con người đã được thay thế bằng thất bại và thất vọng cùng với một chủ nghĩa Hồi giáo xây dựng trên giáo điều và ngăn cấm nhìn nhận ra những dạng nhận thức khác, mang tính ganh đua, trần tục. Sự biến mất dần dần của truyền thống Hồi giáo đặc biệt ijtihad - tiến trình phát triển các luật lệ Hồi giáo thể theo kinh Koran - là một trong những thảm hoạ văn hoá to lớn của thời đại chúng ta mà kết quả là lối tư duy phê phán và cách thức mỗi con người vật lộn với những vấn đề của thời hiện đại đã nhẹ nhàng rớt khỏi tầm mắt con người.
Như thế không có nghĩa là cho rằng thế giới văn hoá đã đơn giản tụt hậu, một mặt trở thành một chủ nghĩa Tân phương Đông hiếu chiến, và mặt khác thành chủ nghĩa từ chối bao trùm. Năm ngoái, hội nghị thượng đỉnh thế giới của Liên Hiệp Quốc ở Johannesburg, với tất cả những hạn chế của nó, đã vạch ra một mảng lớn những lo lắng chung toàn cầu và đề nghị sự ra đời của một tập thể bầu cử mới, và cái danh từ dễ dãi "một thế giới" đã được nhận một sự khẩn cấp mới. Nhưng trong toàn bộ khung cảnh này chúng ta phải thừa nhận rằng không một ai có thể biết được tính thống nhất phức tạp cao độ của cái thế giới được toàn cầu hoá của chúng ta.
Những cuộc xung đột khủng khiếp đã dắt dẫn lầm lạc mọi người vào những chuyên mục mang tính chất tập hợp như "nước Mỹ," "phương Tây" hoặc "đạo Hồi" và bịa ra những bản sắc tập thể cho số đông cá thể thực sự khác nhau, chẳng thể nào tồn tại với đầy đủ sức mạnh của chúng, và chúng phải bị phản đối lại. Chúng ta vẫn còn trong tay những kỹ năng diễn giải duy lý thừa hưởng từ nền giáo dục nhân bản, không coi đó như là một thứ tình thương kêu gọi ta quay trở về với những giá trị truyền thống hoặc cổ điển mà coi đó là thực hành tích cực của lời giảng thế tục duy lý của toàn thế giới. Thế giới thế tục là thế giới của lịch sử do con người tạo ra. Tư duy phê phán không bị khuất phục theo những mệnh lệnh bắt ta tham gia đội ngũ lên đường chống lại cái kẻ thù nào đó đã được thừa nhận. Thay vì tham gia vào những vụ đụng độ được bầy đặt ra giữa các nền văn minh, chúng ta cần tập trung vào việc dần dần làm cho các nền văn hoá chồng chéo nhau, vay mượn của nhau và chung sống cùng nhau được hợp tác cùng nhau. Nhưng để có được cách nhìn rộng rãi đó, chúng ta cần thời gian, cần kiên nhẫn và cần biết hồ nghi, được trụ đỡ bởi niềm tin vào những cách diễn giải có chung với nhau, đó là điều khó giữ được trong một thế giới đòi hỏi hành động và phản ứng chớp nhoáng.
Chủ nghĩa nhân bản tập trung vào những cá thể người và cái trực cảm chủ quan hơn là vào những ý tưởng và quyền năng mình đi mà nhận. Các văn bản cần phải được đọc như là những văn bản tạo ra và tồn tại trong mọi cung cách mang tính thế giới. Nhưng điều này không hề phủ định quyền lực, mà ngược lại, ngay cả trong những nghiên cứu thuộc loại khó hiểu nhất, tôi từng tìm cách đưa ra những lời bóng gió về những quyền lực đan nhau. Và cuối cùng, điều cực kỳ quan trọng, chủ nghĩa nhân bản là duy nhất, và tôi những mong được đi xa hơn và nói rằng đó là cuộc kháng cự cuối cùng của chúng ta chống lại những điều bất nhân khiến diện mạo lịch sử con người bị biến dạng.
Lời mở đầu bản in mới cuốn
Ðông phương học của nhà xuất bản Penguin, đăng trên báo
The Guardian số 2 tháng 8 năm 2003.
Edward W. Said sinh năm 1935 tại Jerusalem, hiện là giáo sư môn Văn học tiếng Anh và Văn học so sánh tại Đại học Columbia thuộc New York. Tác phẩm nổi tiếng của ông, Orientalism (Đông phương học) đã được dịch sang tiếng Việt với nhan đề Đông phương học, Nxb Chính trị quốc gia, Tủ sách Tham khảo cơ bản, Khoa học xã hội và nhân văn, 1998. Xem thêm bài viết của ông:
Xung đột của vô tri (The Clash of Ignorance) trong chuyên đề "11 tháng Chín và xung đột văn hoá" trên talawas.
© 2003 talawas