Äiểm nóngChÃnh trị Việt Nam28.9.2007
Nguyễn Hữu Liêm
Äúng trong khẳng định, sai trong phá»§ nháºn
John Stuart Mill, triết gia tự do cấp tiến người Anh, khi bàn về Coleridge trong khung cảnh của các cuộc tranh luận về chính trị giữa thế kỷ 19, đã viết về các trường phái tranh luận rằng: "They are in the right in what they affirmed, though in the wrong in what they denied." (Họ đúng ở những điểm mà họ khẳng định, nhưng sai ở những điểm mà họ phủ nhận). Nhận xét này hẳn là chính xác khi áp dụng vào những thái độ và chính sách hiện nay của hai phía chống cộng ở hải ngoại và chính quyền Việt Nam.
Ở hải ngoại, nhất là ở California, người Việt đã nghe rất nhiều ngôn từ quen thuộc từ phía chống cộng khẳng định những nguyên tắc phổ quát của dân chủ, nhân quyền, tự do, vang đầy các trang báo, khung máy tính, sóng phát thanh. Và ở điểm đó thì họ đúng. Không ai có thể phủ nhận các giá trị dân chủ, nhân quyền, tự do. Chính quyền và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đồng ý như thế. Các trí thức, chuyên gia, các doanh nhân, công nghệ gia Việt kiều về nước làm việc, đầu tư, kinh doanh cũng đồng ý và minh định như vậy. Như thế, tả trung hữu, trên nguyên tắc đại thể, đều đồng ý rằng những gì họ khẳng định là đúng.
Nhưng cả hai phía dường như đang sai lầm trầm trọng trong nhiều vị thế phủ định của mình đối với những chính sách đặc thù, những vấn đề cụ thể của đất nước. Phía chống cộng ở hải ngoại thì phủ nhận tính chính thống của thẩm quyền chính trị của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam và theo đó là những thành quả tích cực mà Việt Nam đã đạt được. Phía Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thì phủ nhận tính chính đáng của những đòi hỏi chính trị của người Việt hải ngoại cũng như nhiều vấn nạn trầm trọng mà đất nước đang phải đối đầu.
Trước hết, xin nói về phía chống cộng ở hải ngoại trong thái độ không công nhận những kết quả, những tiến bộ kinh tế và phát triển mà Việt Nam đã đạt được từ khi có chính sách "Đổi Mới".
Tôi xin nêu lên một thực tế mà tôi tương đối quen thuộc. Về Việt Nam, nếu ai đi vào nông thôn, chịu khó nghiên cứu và thăm dò tình hình đời sống dân quê, thì đều phải thấy rằng chưa bao giờ nông thôn Việt Nam, nhất là trên phương diện kinh tế và hạ tầng cơ sở, có được một mức sống vật chất khả dĩ ổn định và đầy đủ như hiện nay. Như ở vùng quê tôi là Quảng Trị, quận Triệu Phong, tất cả các làng đều có điện. Các đường vào ngõ, thôn xóm hầu hết đều được trải đá, nhựa, hay xi măng. Hệ thống trường trung, tiểu học cũng tương đối có đủ. Sinh hoạt tín ngưỡng, chùa, đình làng, cúng tế đều bình thường, nếu không nói là khởi sắc. Các tổ chức Gia đình Phật tử đã và đang được mở rộng và con em Phật tử cuối tuần đều mặc áo lam đi lễ chùa và cắm trại như hồi những năm 1963-1972. Các ngôi chùa lớn bị tàn phá bởi chiến tranh nay đã được phục hồi uy nghi hơn trước, như chùa Tỉnh Hội ở Cổ Thành hay chùa lịch sử Ái Tử. Một số chùa và nhà thờ Công giáo vẫn chưa được tái thiết vì con số Phật tử hay giáo dân trong làng không còn đủ đông để xây dựng - hoặc vì chính sách bất thiện cảm của chính quyền địa phương. Ngay ở tại Thành Cổ, nay đã có một trường trung học nội trú cho học sinh miền núi, được bao cấp ăn ở theo học cho hết trung học với nhiều ưu đãi.
Dân nông thôn miền Trung xưa nay chỉ lo sợ thiếu ăn. Nay thì vấn đề đó đã không còn. Họ bắt đầu đòi ăn ngon, chứ không là ăn để no như xưa. Những gánh nặng cày cấy, dẫn thuỷ nhập điền, gieo mạ, gánh lúa về nhà, đập lúa, xay lúa, nấu cơm nay đã được cập nhật theo kỹ thuật công nghệ hiện đại. Không còn hình ảnh gian khổ của các cô thôn nữ cấy lúa, gánh thóc, của người nông dân cày ruộng bằng trâu bò; không còn những hình ảnh các o thôn nữ giã gạo, các anh xay lúa, các em lum khum thổi bếp nấu ăn. Phần lớn đều đã được cơ khí hóa.
Hãy nói đến giai cấp tư bản đang lên ở các thành phố lớn. Sự phát triển kinh tế hiện nay đang tạo ra một tầng lớp trung lưu khá giả đông đảo - mà không chỉ riêng cho đảng viên cộng sản. Tôi quen một ông cựu sĩ quan quân đội miền Nam, sau 1975 đi tù cải tạo bảy năm về, nay là một công nghệ gia thành đạt về sản xuất đồ gia dụng, bàn ghế nội thất ở Sài Gòn. Một anh khác là cựu lính miền Nam, từng lên rừng làm nghề đốn củi sau chiến tranh, nay là một đại gia xây cất phố thị và công lộ, cơ sở hạ tầng hàng đầu ở Bà Rịa, Vũng Tàu. Rất nhiều trường hợp khác như tôi nêu trên, đến độ gần như là phổ biến. Dĩ nhiên chênh lệch giàu nghèo là vấn đề đang xảy ra, nhưng đó là hệ quả tự nhiên trong một nền kinh tế đang phát triển - mà ở Việt Nam thì hố phân biệt giàu nghèo chưa đến độ quá vô lý hay vô đạo đức. Đó là tôi chưa đề cập đến những thành công to lớn khác mà Việt Nam đạt được từ khi có chính sách hội nhập với thế giới trong suốt hơn 10 năm qua. Thế nhưng, phía chống cộng hải ngoại không bao giờ công nhận những thành tựu tích cực này.
Và gần đây ở hải ngoại là chính sách "miễn thị thực" cho Việt kiều được phát động từ chuyến đi của Chủ tịch Nguyễn Minh Triết sang Hoa Kỳ ba tháng trước. Đây là một trường hợp mà nhà nước Việt Nam làm đúng, khi họ công nhận Việt kiều là "khúc ruột ngàn dặm" bằng chính sách cụ thể; còn về phía chống cộng ở hải ngoại thì sai lầm khi phủ nhận chính sách tích cực này. Ai cũng có thể hiểu và chia sẻ sự nghi ngờ của một số đông Việt kiều vốn là nạn nhân từ một quá khứ đầy sai lầm của Đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhưng ít nhất là trên phương diện dân tộc, khi phía chính quyền đã đi trước nửa đường bằng chính sách xác nhận thì phía chống cộng ở hải ngoại không thể mãi phủ nhận thiện chí ấy để đứng yên hoài một chỗ.
Những trường hợp trên chỉ là một số nổi bật điển hình. Điều đáng nói là khi cả một tập thể người Việt hải ngoại, dù là vì những lý tưởng cao đẹp, nhưng khi bị chi phối và hướng dẫn bởi một tinh thần thuần phủ định đầy thiển cận thì không thể tiến xa trên vai trò chính trị chiến lược và lịch sử được.
Tuy nhiên, sự sai lầm về phủ định không chỉ dành cho phía chống cộng ở hải ngoại. Về phía Đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam cũng như thế. Họ cùng mang chung một bản chất sai lầm cho những gì họ đang phủ nhận. Điều đáng nhấn mạnh ở đây là thái độ phủ định của phía chống cộng hải ngoại phần lớn mang tính thụ động, thuần phản ứng; còn phía Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thì lại mang nhiều tính vô trách nhiệm, nếu không nói là bất lực, trước những hiểm họa lớn mà đất nước đang phải đối diện.
Hãy nhìn vào nông thôn Việt Nam với chế độ thuế khóa, lệ phí nặng nề và vô lý đánh vào nhà nông. Trung bình một hộ nông dân hằng năm phải bị đánh trên một trăm thứ thuế, thu phí, và bị quyên góp bắt buộc cho đủ mọi khoản ngân sách từ trung ương đến địa phương. Nhưng chính quyền vẫn không công nhận điều này là có vấn đề.
Trầm trọng hơn, là tình trạng bất cập trong chính sách sử dụng đất đai, giải tỏa, di dời dân cư và bồi thường cho nhu cầu phát triển. Đây là một cơn dịch mang mầm đại họa. Báo chí trong nước, vốn bị kiểm soát chặt chẽ, đã không có một bài viết vô tư hay một tường thuật nghiêm túc về vấn đề "khiếu kiện". Phía nhà nước thì gần như bất lực, dù biết rằng đây là một mầm ung thư trong cơ thể của chế độ. Phía các nhà dân chủ, bất đồng chính kiến trong nước thì chỉ viết về "dân oan khiếu kiện" như một hiện tượng bất mãn thuần chính trị, mang những tiền đề lịch sử, cơ chế, xã hội. Tôi chưa thấy một công trình nghiên cứu vấn đề một cách thấu đáo trên căn bản sự kiện khách quan. Nói chung thì đối với tình trạng khiếu kiện, phía chính quyền vẫn cứ tiếp tục phủ nhận thực chất của vấn đề, vẫn đặt nhiều nghi vấn trong bóng tối với đầy những con ma chính trị mà không chịu thắp đèn lên để nhìn thấy rõ nguyên nhân.
Trách nhiệm về mặt tiêu cực, mà vấn đề nông dân khiếu kiện là một, phải nằm trên vai của Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam. Trên hầu hết mọi mặt, chính phủ từ trung ương đến địa phương đang là một bộ máy bất cập, bất lực, với một tập thể nhân sự dung chứa rất nhiều phần tử thiếu đạo đức. Chế độ lý lịch và tuyển dụng công chức đi đôi với cám dỗ quyền lực và quyền lợi kinh tế đang mang tính bao che có hệ thống, để cho nhiều thành phần cán bộ dựa vào cơ chế chính trị và công quyền để trục lợi, khuynh loát. Nạn quan liêu, thối nát là phổ biến, không còn là ngoại lệ ở Việt Nam ngày nay, bất cứ ở đâu và ở cấp độ nào. Cứ nhìn vào vấn đề luật pháp: đó là một nền công lý ba tầng. Một cho nhân dân; một cho đảng viên; một cho tầng lớp có tiền. Chế độ lý lịch vẫn là định chế chính trị và an ninh, dù rằng ngày nay ít được dùng để trừng phạt, nhưng vẫn được sử dụng để ban ơn huệ và bao che. Điều này Đảng và nhà nước Việt Nam vẫn không chịu công nhận.
Quay sang vấn đề tôn giáo: Hai tuần trước, tôi có gặp một vị thượng tọa, đại biểu trong phái đoàn Quốc hội sang Mỹ để tiếp xúc với Việt kiều. Vị sư này nói rằng ở Việt Nam không có vấn đề tự do tôn giáo. Theo ông thì hãy nhìn con số tu sĩ, linh mục, tín đồ, nhà thờ, thánh thất, chùa chiền được xây dựng rất nhiều, khắp nơi như là bằng chứng của tự do tôn giáo. Trong tinh thần phản biện tích cực và xây dựng với vị tu sĩ trên và phái đoàn, tôi đã đồng ý về sự kiện vừa nêu lên là tích cực và coi đó như một thước đo cho tự do tín ngưỡng. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là chính sách phủ nhận tự do tôn giáo trên cơ sở tổ chức và hội đoàn. Phần lớn những tố cáo hiện nay liên quan đến tự do tôn giáo ở Việt Nam đều nhắm đến chính sách cấm cản Giáo hội Phật giáo Thống nhất (GHPGTN) được sinh hoạt trên cơ sở tổ chức giáo hội. Tự do tôn giáo không thể được mệnh danh chỉ trên một vế tín ngưỡng trong khi vế khác về tự do giáo đoàn, trên cơ sở tổ chức và định chế nhân sự giáo hội lại bị phủ nhận khắt khe và thuần áp chế. Tôi nhấn mạnh với phái đoàn Quốc hội Việt Nam rằng người Việt hải ngoại đa số là Phật tử, mà hầu hết vẫn có cảm tình với GHPGTN. Nếu tổ chức này vẫn tiếp tục bị phủ nhận và cấm cản thì những biện luận về tự do tôn giáo ở Việt Nam sẽ không được người Việt hải ngoại chấp nhận.
Từ những phân tích và dẫn chứng trên tôi nhận thấy rằng, bài toán mâu thuẫn dân tộc khó khăn hiện nay giữa người Việt chống cộng hải ngoại và chính quyền Việt Nam có thể có cơ hội được giải hóa đến một mức độ khả dĩ nếu cả hai phía biết nhìn lại mình để nhận thức những gì sai lầm về tinh thần và chính sách phủ định của bản thân.
Tôi thiết nghĩ, phía người Việt chống cộng ở hải ngoại hãy nên học chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Dù rằng hai chính phủ có những bất đồng lớn, nhưng phía Mỹ biết công nhận thực tế chính trị và quyền lực quốc gia của Việt Nam nhằm tìm cách khẳng định đối với những gì tích cực, biết công nhận những thành quả của Việt Nam nhằm cố gắng giảm thiểu khác biệt, nhất là trên vấn đề quan điểm, để phát huy những gì đã được đồng thuận.
Tuy nhiên, trách nhiệm nặng hơn và cao hơn phải nằm về phía Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam. Họ phải có đủ can đảm để công nhận rằng những phong trào ở hải ngoại chống đối Đảng Cộng sản và chính quyền Việt Nam, dù có lúc đến mức cực đoan và vô lý, phần lớn đều phát xuất từ tâm tư yêu nước trước những vấn đề lớn mà quốc gia và dân tộc đang gặp phải. Khi nào những khuyết điểm và tiêu cực cơ bản của quốc gia được chính quyền Việt Nam giải quyết đến mức độ chấp nhận được thì tinh thần và thái độ phủ định của người Việt chống cộng hải ngoại cũng sẽ thay đổi theo hướng tích cực. Trái banh xác định, vì thế, đang ở trên sân của phía nhà nước Việt Nam.
© 2007 talawas