Äiểm nóngChÃnh trị Việt Nam30.7.2005
Tôn Vân Anh
Không xuống nước thì không thể biết bơi
Dân chủ, xã hội dân sự, nhân quyền là những khái niệm được dùng làm thước đo các hoạt động, tính chất và hệ quả tích cực của đối lập Việt Nam trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, các khái niệm này liên quan nhiều đến mục đích và hệ quả của các hoạt động đối lập, hơn là công cụ hoạt động của những tổ chức đối lập, nhất là những tổ chức hoạt động trong nước. Ðiều hiển nhiên và không thể tranh cãi là những hoạt động đối lập, nhất là trong nước, dù có sử dụng các phương pháp và mang hơi hướng xã hội dân sự (tinh thần trách nhiệm, ý thức cộng đồng, ý thức quyền lợi) vẫn không thể và sẽ không bao giờ có thể được hình thành như một cơ cấu dân chủ toàn diện, hội đủ các yêu cầu tối thiểu của dân chủ và xã hội dân sự. Lý do đơn giản nhất và cũng hết sức hiển nhiên nằm ở vấn nạn cộng sản và độc tài toàn trị tại Việt Nam vốn là đối phương duy nhất, cơ bản nhất của đối lập Việt Nam. Ðây dĩ nhiên là điểm yếu, nhưng cũng là đặc tính nhất thiết của mọi đối lập độc tài cộng sản.
Việc xác định đối phương và những cản trở của phe đối lập từ lâu đã được công nhận và là vấn đề có thể nói là đã đạt được sự thoáng nhất. Tuy vậy, vẫn có những nhầm lẫn trong các phân tích về đối lập Việt Nam, giữa các tiêu chí, phương pháp thực hành và tính chất của đối lập Việt Nam với thành quả công việc hay các dự đoán thành công của phe đối lập.
Tân tổng thống Ukraina, trong cuộc vận động da cam của mình có dùng hình ảnh của nhóm người muốn xuống nước để bơi sang bên kia sông nhưng luôn bị đối phương ngăn cản bằng cách dèm pha, rằng “tụi bay đâu biết bơi, cũng không biết chèo thuyền”. Ðể đáp lại những dè bỉu này, ông Yushchenko đã nói, rằng “chúng tôi sẽ không bao giờ qua được bên kia sông, cũng sẽ không bao giờ biết bơi nếu các ông không cho chúng tôi xuống nước”.
Ðối lập Việt Nam cũng đang ở trong tình thế tương tự. Ðã có rất nhiều phàn nàn không phải không có cơ sở, rằng dân chúng người Việt chưa hội đủ khả năng để sống trong xã hội dân sự để qua đó xây dựng xã hội dân chủ, còn đối lập Việt Nam thì tuy có sức mạnh dân chủ nhưng chưa thắng nổi cộng sản toàn trị.
Có điều rằng những phân tích tương tự như vậy không có ý nghĩa hay có thể nói là hoàn toàn vô mục đích và không phục vụ một cách tích cực cho những vướng mắc chung của một nước Việt Nam hiện tại. Vướng mắc của đối lập Việt Nam trong thời điểm này không phải là câu hỏi: “Có biết bơi không?”. Mục tiêu lớn nhất của phe đối lập trong thời điểm này phải là câu trả lời tích cực cho câu hỏi mấu chốt: “Có được xuống nước hay không?”. Nếu còn ở quá xa bến nước hay viễn cảnh được xuống nước là quá xa vời thì việc biết hay không biết bơi coi như hoàn toàn vô nghĩa. Có thể dùng thí dụ của một cộng đồng đang bị giam kẹt giữa sa mạc, dù có kinh nghiệm đóng thuyền hay đánh cá là giấc mơ tột cùng của họ thì mục đích lớn nhất và mấu chốt duy nhất phải là giải thoát mình, bài trừ mầm mống nô lệ và ngục tù, sau đó mới là tự do tìm nguồn nước, đất sống và những giải pháp liên quan.
Hiện, trong các phân tích của đối lập hay các phân tích được cho là khách quan về phe đối lập vẫn còn những nhầm lẫn giữa các giải pháp 3) bơi như thế nào, 2) tìm đường ra biển và 1) đạp đổ ngục tù.
Có thể đồng ý hoặc tranh luận về tính hữu hiệu của chiến lược “tiến hành các bước song song”, nhưng việc tranh luận này dường như lại làm lu mờ ranh giới giữa ba quá trình trên, vốn rất khác biệt với nhau nếu không nói là hoàn toàn biệt lập cùng nhau. Mặc dù đó là ba giai đoạn của một quá trình kế tiếp nhau và không phải không thể vận dụng song song (bởi đối lập Việt Nam rất đa dạng, hoạt động trong nhiều môi trường phong phú), cản trở cho việc nối kết của các giai đoạn với nhau nằm ở chỗ không có những xác nhận ranh giới rõ ràng cho từng gian đoạn. Bởi không có xác định ranh giới nên hậu quả là thiếu các chiến lược kết nối, tiếp sức, hay gối vai.
Sai lầm mang tính chiến lược này gây ảnh hưởng và hiểu lầm không nhỏ trong cộng đồng phe đối lập.
Ðiều này có thể giải thích vì sao đối lập Việt Nam thống nhất trong mục đích đường dài nhưng chưa ăn ý hoặc gây cảm giác chưa ăn ý trong hành động. Trong khi đối phương là các công cụ tuyên truyền cộng sản, hay chính nạn nhân của nó không thấy được ưu điểm hay không coi những ưu thế tự nhiên là tiềm năng thực tiễn của đối lập Việt Nam. Hậu quả của sự hiểu nhầm các hoạt động tích cực của đối lập Việt Nam, hiểu lầm những khác biệt trong cách hành động, cộng thêm sự lu mờ các ranh giới của các giai đoạn biệt lập với nhau dẫn tới việc dư luận đi tìm các câu trả lời lơ lửng thiếu lý luận cho những câu hỏi vu vơ. Ðiều này tất nhiên dẫn đến hậu quả vô tình khẳng định lại những lý lẽ mà cộng sản tuyên truyền, ví dụ như: bọn phản bội chỉ biết hô hào với biểu tình (trong khi chúng ta vận động dân chủ và hành động dân chủ – tức là đang bơi), nếu có lên tiếng, nhất là ở trong nước cũng không ăn thua, không ai nghe hoặc bị bịt miệng ngay lập tức (trong khi việc lên tiếng là công cụ duy nhất để lật đổ độc tài một cách bất bạo động – tức là xóa bỏ gông xiềng), tự do ngôn luận hay nhân quyền là những khái niệm mù mờ xa lạ (trong khi những giá trị này đã đồng nghĩa với cuộc sống ngoài ngục tù – tức là giải pháp cho dân chủ mà Việt Nam chưa có khi độc tài còn tồn tại). Các nhận xét tương tự không thiếu, như: chưa có được một tổ chức đối lập nào mang tầm vóc, xứng đáng cho công cuộc đấu tranh, hay, chưa có người lãnh tụ dẫn dắt, cầm đầu, được toàn dân tin tưởng (như thể Việt Nam cần một Bác Hồ thứ hai để xây dựng dân chủ vậy...)..
Các lập luận trên, tuy mâu thuẫn và đặc sệt những dè bỉu nhưng vì có các lô-gích của sự cô lập đối lập phụ trợ nên không phải không có những hậu quả tiêu cực cho tiến trình dân chủ Việt Nam. Ngoài ra, chúng ta hãy để ý tới tính mạch lạc của các lập luận dẻ bỉu đó, mặc dù không nhằm vào ba gian đoạn và ba tính chất của các chiến lược của phe đối lập, chúng vẫn đáp ứng được nhu cầu của người muốn có câu trả lời rõ ràng (hay có khi trên hết là đơn giản) cho một tình thế phức tạp, trong khi đối lập chưa có hoặc chưa quan tâm chính đáng tới tính mạch lạc trong việc tiếp cận dư luận về những hành động hay chiến thuật của mình.
Không biết có phải là lạm dụng hay không khi phát biểu rằng một trong những cản trở lớn nhất của đối lập Việt Nam không phải là các cản trở tự nhiên, những khó khăn khách quan xuất phát từ vai trò của một cộng đồng đứng về phe đối lập cộng sản mà trên hết là vấn đề chấp nhận những khó khăn khách quan để soạn thảo chiến thuật trong hành động xây dựng dân chủ và tiếp cận dư luận về những hành động đó. Ở đây không nói về những thông điệp hiển nhiên, về mục đích có thể khẳng định là trong sáng và lương thiện của phe đối lập. Ở đây muốn nói về sự thiếu thốn các giải thích mạch lạc cho một quá trình dân chủ hoá phức tạp tại Việt Nam. Ngoài ba giai đoạn khác nhau, vốn đòi hỏi những lô-gíc hoạt động khác nhau, đối lập cần soạn thảo phương cách để có thể tận dụng thành quả lao động của các giai đoạn tiến hành dân chủ vốn đã được thực thi từ 30 năm nay. Có thể đối lập đã tình cờ lơi là một phần chiến lược quan trọng đó?
Nếu nhìn nhận theo lô-gíc của ông Yushchenko thì mấu chốt thành công của đối lập Việt Nam mới ở trong giai đoạn đầu, cơ bản nhất là “đòi xuống nước” và mục đích trước mắt là “lật đổ độc tài”. Nếu giai đoạn này không thực hiện được (nếu không thoát khỏi nhà tù trên sa mạc) thì các bước đi tiếp theo và kể cả khả năng bước tiếp coi như vô nghĩa.
Có những bình luận cho rằng đối lập Việt Nam đang ở trong thế yếu, là đội ngũ “lép vế” so với độc tài cộng sản.
Chính trị lại là ngạch duy nhất trong tất cả các ngạch đại chúng có khả năng chứng minh, rằng người lép vế không nhất thiết phải là người có hoặc không có mục đích lương thiện. Chính trị luôn chứng minh, rằng người chiến thắng phải là người chủ động.
© 2005 talawas