Tất cả những cuộc chiến tranh tôn giáo,
dìm thế giới trong máu hằng thế kỉ, đều sinh ra từ những gia nhập
cuồng nhiệt vào những đối nghịch giản đơn: như Ta và Kẻ Khác,
Thiện và Ác, Trắng và Ðen. Nếu văn hoá phương Tây đã chứng tỏ sự
phong phú (không chỉ từ thời kì Ánh Sáng đến hôm nay, mà ngay cả
trước đó, khi vị thày dòng Phrăng-xi-cô Roger Bacon 1) kêu gọi hãy
tìm hiểu những ngôn ngữ khác, vì rằng ngay cả từ những người
“ngoại đạo”, chúng ta cũng có những cái để học hỏi) cũng bởi vì nó
phải tự buộc mình phải “tháo cởi” những giản thô hoá nguy hại ra
trước ánh sáng cho những cuộc khảo cứu và cho tinh thần phê phán.
Dĩ nhiên, văn hoá phương Tây không phải lúc nào cũng giữ được như
thế, bởi vì cũng thuộc về lịch sử phương Tây, Hitler người đã đốt
sách, kết tội nghệ thuật “suy đồi”, giết hại những ai thuộc các
chủng tộc “thấp kém”. Hoặc chủ nghĩa phát-xít đã dậy tôi từ mái
trường phải ngân nga “xin Chúa trù ếm quân Anh” bởi vì họ là “dân
tộc ăn năm bữa”, thật là quân hám ăn, thua các chiến sĩ Ý khắc khổ
phải bóp bụng tằn tiện trong từng miếng ăn. Nhưng chính các mặt
tốt đẹp của văn hoá phương Tây là những gì chúng ta cần bàn luận
cùng người trẻ, bất cứ màu da nào, nếu chúng ta không muốn rằng
những ngọn tháp mới khác sẽ đổ, ngay cả trong những ngày bọn trẻ
sinh sống sau chúng ta.
Một yếu tố lẫn lộn: người ta
thường không nhận ra khác biệt giữa một bên, sự đồng hoá vào gốc
rễ của mình, sự thông cảm người khác với những gốc rễ khác và bên
kia, sự phán quyết tốt, xấu. Về gốc rễ, nếu người ta hỏi tôi: ông
thích về hưu ở một ngôi làng nhỏ thuộc Monferrato [trong vùng đất
nơi Eco sinh ra - Người dịch], hoặc ở một nơi trong khung cảnh
hùng vĩ của vườn hoa quốc gia thuộc vùng Abruzzo, hay là ở trên
những ngọn đồi êm ả quanh thành phố Sienna, tôi sẽ chọn
Monferrato. Nhưng điều này không hàm ý cho rằng những nơi khác ở Ý
là không bằng vùng Piemonte [Monferrato nằm trong vùng này - Người
dịch].
Vậy thì giả dụ rằng, với những lời đã tuyên bố (cho
người phương Tây nhưng xoá bỏ với người Á Rập), vị thủ tướng của
chúng ta 2) muốn nói rằng ông ta thích sống ở vùng đất quê hương
Arcore hơn là ở Kabul, và thích chữa bệnh ở một bệnh viện tại
Milano hơn là một bệnh viện tại Bagdad, tôi sẽ sẵn sàng kí tên
đồng ý với ông (để sang một bên Arcore), ngay cả trong trường hợp
người ta cho tôi biết là ở Bagdad đã dựng lên những nhà thương
được trang bị đủ nhất thế giới. Vì rằng, sống ở Milano tôi cảm
thấy là nhà của mình hơn, và điều này tác động tốt lên khả năng
khỏi bệnh của tôi. Gốc rễ còn có thể mở rộng ngoài phạm vi tỉnh
vùng và quốc gia. Hay là nói như thế này, tôi thích chọn nghỉ hưu
ở Limoges [Pháp] hơn là ở Maxcơva. Nhưng sao lại thế? Maxcơva
không phải là thành phố tuyệt đẹp à? Ðúng vậy, nhưng ở Limoges tôi
thông hiểu ngôn ngữ.
Ðại để là như thế, mỗi người tự đồng
nhất vào nền văn hoá sinh thành ra mình, và những trường hợp cấy
ghép văn hoá triệt để, nếu xảy ra cũng chỉ là số ít. Lawrence of
Arabia 3) đã từng ăn mặc y như người Á Rập, nhưng cuối cùng cũng
trở về nhà mình.
Bây giờ hãy nói về sự đối đầu giữa những
nền văn minh, bởi vì đây mới thật là đi vào vấn đề. Phương Tây,
thường cũng vì lí do bành trướng kinh tế, đã tò mò về những nền
văn minh khác. Nhiều lần nó đã thanh toán với thái độ khinh miệt
những nền văn minh ấy. Người Hi Lạp gọi những dân tộc không cùng
tiếng nói với mình là dã man hoặc là ngọng ngoẹo-cà lăm và xem như
thể họ chẳng biết đến ngôn ngữ. Nhưng ở những người Hi Lạp trưởng
thành nhất như những người theo phái Khắc kỉ [Stoicism] - có thể
bởi vì trong số họ có những người có nguồn gốc từ Phoenicia 4) -
đã nhanh chóng hiểu ra rằng những người dã man đã dùng tiếng nói
khác với tiếng Hi Lạp để diễn tả cùng một ý nghĩ giống như ý nghĩ
của mình. Marco Polo đã tìm cách diễn tả hết sức trân trọng những
phong tục tập quán Trung Quốc. Những nhà thần học bậc thầy thời
Trung cổ cố gắng tìm cách dịch những văn bản triết học, y học và
thiên văn học Á Rập. Thậm chí có những nhân vật thời Phục hưng đã
quá đà trong ý định phục hồi những kiến thức phương Ðông bị mất
mát, từ nền văn minh của người Caldea [thuộc Babylonia, nam Irak
hiện nay] cho đến nền văn minh của giống dân Ai Cập cổ.
Montesquieu đã tìm cách hiểu một người Ba Tư suy nghĩ về một người
Pháp như thế nào. Và những nhà nhân học hiện đại đã tiến hành một
số nghiên cứu đầu tiên trên những phúc trình của những tu sĩ dòng
Salesian 5) là những người, trong khả năng, đã đến với tộc người
Bororo [giống dân Nam Mĩ thuộc Paraguay và Brazil] để truyền giáo
cho họ, cũng như để hiểu phương thức suy nghĩ và sinh sống của họ.
Khi làm những công việc đó, chắc những vị tu sĩ ấy đã nhớ đến
những thất bại của những nhà truyền giáo trước đó vài thế kỉ đã
không hiểu nền văn minh của giống dân da đỏ Amerindian [Bắc Mĩ] và
đã tiếp tay trong việc diệt chủng họ.
Tôi đã đề cập đến
các nhà nhân học và sẽ không nói lên điều gì mới khi nhắc lại rằng
từ khoảng giữa thế kỉ 19 trở đi, ngành nhân học văn hoá [Cultural
Anthropology] đã được khai triển như một ý định làm dịu sự cắn rứt
lương tâm của phương Tây trước những Kẻ Khác, đặc biệt là những Kẻ
được định nghĩa là man rợ, những xã hội vô lịch sử, những dân tộc
sơ khai. Phương Tây đối với những Kẻ “man rợ” không được dịu dàng
là mấy. Nó tự xem là đã “phát hiện” ra họ. Nó mang ý đồ giáo lí
hoá họ. Nó bóc lột họ, đẩy nhiều người trong họ thành nô lệ, có
khi với sự tiếp sức của người Á Rập, bởi vì những chuyến thuyền
cập bến New Orleans đổ người nô lệ của những người chủ tinh tế và
lịch thiệp gốc Pháp, nhưng được tải lên thuyền từ những bờ biển
châu Phi qua tay những thương nhân Hồi giáo. Ngành nhân học văn
hoá (triển khai nhờ sự bành trướng thuộc địa) đã tìm cách sửa sai
những tội lỗi của chủ nghĩa thực dân trong khi chứng tỏ rằng văn
hoá của những Kẻ Khác ấy đúng thực là những nền văn hoá phát triển
trong bối cảnh riêng của họ, với những tín ngưỡng, nghi lễ, những
tập tục rất hợp lí và tuyệt đối hữu cơ. Có nghĩa là những xã hội
ấy cũng được dựa trên những quy luật nội tại của chúng. Nhiệm vụ
của những nhà nhân học văn hoá là chứng tỏ rằng có những lô gích
khác với những lô gích của xã hội phương Tây, cần phải xem xét một
cách nghiêm chỉnh, không được khinh thường và đàn áp.
Nhưng, điều này không có nghĩa là một khi đã giải thích
được quy luật của Kẻ Khác, những nhà nhân học sẽ quyết định sống y
như người bản xứ. Ngược lại là đằng khác, trừ một ít trường hợp,
sau khi đã hoàn thành những công trình nghiên cứu nhiều năm ở hải
ngoại, những nhà nhân học ấy sẽ trở về tiêu nốt tuổi già thanh
thản của mình ở nơi nào đó thuộc vùng Devonshire [Anh] hay là
Picardie [Pháp]. Tuy nhiên, khi đọc những quyển sách của họ người
ta có thể nghĩ rằng ngành nhân học văn hoá ủng hộ một thái độ
tương đối luận và cho rằng nền văn hoá nào cũng có giá trị như
nhau. Tôi không cho là như vậy. Cùng lắm, nhà nhân học muốn nói
với chúng ta rằng cho đến khi những Kẻ Khác vẫn định cư tại nhà
họ, cần phải tôn trọng phương thức sinh sống của họ.
Bài
học đúng nghĩa có thể rút được từ ngành nhân học văn hoá thực ra
là như sau: để có thể nói rằng nền văn hoá này cao hơn nền văn hoá
khác cần phải chuẩn định một số thông số. Một bên có con tính cho
rằng cái gì là văn hoá, thì cũng vậy, bên kia có con tính tính ra
những thông số nào để thẩm định giá trị một nền văn hoá. Chẳng
hạn, một nền văn hoá có thể được diễn tả bằng một phương cách, tạm
xem là khách quan đi, qua những nhận xét sau: đây là nhóm người có
cùng cách hành xử; họ tin vào âm hồn hoặc vào một vị thần linh duy
nhất ẩn ngự khắp thiên nhiên; họ liên kết thành những bộ tộc với
những lề luật của chúng; họ cho rằng là đẹp, khi xâu vào mũi một
loạt những vòng kiềng (xem ra đây cũng có thể là những mô tả về
văn hoá giới trẻ phương Tây hiện nay); họ bảo rằng thịt heo là nhơ
nhớp; họ thực hành tập tục cắt da quy đầu; họ vỗ béo những chú cầy
tơ để quẳng lên những chảo dầu thơm phức trong những buổi nhậu
nhẹt linh đình; hoặc giả như người Mĩ khi nói chuyện về người Pháp
thì gọi họ là bọn ăn thịt ếch nhái.
Hiển nhiên, nhà nhân
học lúc nào cũng thấy rằng những nghiên cứu cho là khách quan của
mình rất dễ bị lung lay, đảo lộn, hay dễ trở thành bị phê phán tuỳ
thuộc vào nhiều yếu tố. Năm qua tôi đã đến xứ Dogon [châu Phi] và
có dịp hỏi một cậu bé rằng cậu có phải là một người Hồi giáo hay
không. Thì cậu trả lời, bằng tiếng Pháp “ Không phải, tôi là một
người theo đạo thờ Linh vật [Animism]”. Thế thì, hãy tin tôi, một
người không thể tự định nghĩa mình theo đạo thờ Linh vật, nếu ít
nhất đã không lấy được một mảnh bằng ở trường École des hautes
études de Paris. Và như thế, cậu bé ấy đã nói về nền văn hoá của
mình y như là của những nhà nhân học đã định nghĩa. Một số nhà
nhân học Phi châu kể cho tôi nghe rằng khi một nhà nhân học Âu
châu đặt chân đến đây để nghiên cứu thì người Dogon, hồ hởi tham
dự hết mình, đã kể cho người này nghe những gì đã viết của nhà
nhân học Marcel Griaule nhiều năm trước đây về họ. Tuy thế, những
người bạn Phi châu thông thái của tôi khẳng định rằng, khi nói cho
Griaule, những người bản địa cung cấp tin đã kể những điều tương
đối không liên hệ gì nhiều lắm giữa chúng với nhau, và rồi nhà
nhân học này kết hợp nên cả một hệ thống thật hấp dẫn, nhưng sự
xác thực cần phải đặt nghi vấn. Tuy thế, ít ra khi tập hợp lại tất
cả những lẫn lộn và hiểu lầm có thể có được khi khảo sát về một
nền văn hoá của Kẻ Khác, người ta có thể có một miêu tả tương đối
“trung tính” về nền văn hoá ấy.
Các thông số thẩm định giá
trị lại là một vấn đề khác. Chúng tuỳ thuộc vào gốc rễ, vào ý
thức, vào thói quen, vào đam mê, và vào hệ thống giá trị của chính
chúng ta. Hãy lấy một thí dụ. Có phải chúng ta cho rằng việc kéo
dài tuổi thọ trung bình từ 40 lên 80 là một giá trị? Một cách cá
nhân, tôi tin là như vậy. Nhưng có nhiều nhà huyền học [mystics]
có thể bảo tôi rằng: giữa một anh chàng cầu bơ cầu bất háu ăn sống
đến 80 tuổi và vị thánh Luigi Gonzaga chỉ nghêu ngao non 23 cái
xuân xanh, thì người thứ hai là người sống trọn vẹn hơn. Nhưng khi
chúng ta chấp nhận việc kéo dài đời sống là một giá trị, và nếu
quả thật là như thế, thì y hocï và khoa học phương Tây chắc hẳn
phải cao hơn nhiều ngành hiểu biết và thực hành y học khác.
Phải chăng sự phát triển công nghệ, sự bành trướng thương
mại, tốc độ nhanh chóng của những phương tiện chuyên chở là một
giá trị? Rất nhiều người nghĩ là như thế? và họ có quyền thẩm định
rằng nền văn minh kĩ thuật của chúng ta là ưu việt. Nhưng, cũng
chính trong nội bộ phương Tây có người cho rằng có một cuộc sống
hài hoà với môi trường không bị ô nhiễm là một giá trị tối cao, và
như thế họ sẵn sàng không cần dùng đến máy bay, xe hơi, tủ lạnh;
họ có thể ngồi đan giỏ và đi bộ từ làng ngày sang làng khác miễn
sao tránh được lỗ hổng khí ô-dôn. Vậy thì cần thấy rằng, để xác
định nền văn hoá này cao hơn nền văn hoá kia chỉ miêu tả không thì
không đủ (như những nhà nhân học đã làm) mà cần phải viện đến một
hệ thống giá trị mà chúng ta cho rằng là bất khả nhân nhượng. Chỉ
từ điểm này chúng ta mới có thể nói được là nền văn hoá của phương
Tây, đối với chúng ta, là tốt nhất.
Trong những ngày qua
người ta được chứng kiến một số lập luận bảo vệ văn hoá dựa trên
những thông số đáng phải bàn cãi. Hôm kia tôi được đọc một lá thư
gửi cho một nhật báo lớn trong đó có nêu lên một cách mỉa mai câu
hỏi là tại sao những giải Nobel chỉ được trao cho người Tây phương
mà không cho người Ðông phương. Ðể qua một bên sự mù mờ của một
người không biết là đã có bao nhiêu giải Nobel văn chương tặng cho
người mang màu da đen và những nhà văn Hồi giáo, và để qua một bên
việc giải Nobel về vật lí năm 1979 đã dành cho một người Pakistan
có tên là Abdus Salam, khẳng định rằng sự đền bù một cách tự nhiên
về khoa học cho người làm việc trong môi trường khoa học phương
Tây là điều tự nhiên, bởi vì chưa từng có ai đặt nghi vấn về sự
tiên phong của nền khoa học và kĩ thuật phương Tây.
Tiên
phong về cái gì? Về khoa học và kĩ thuật. Mức độ tuyệt đối của
thông số phát triển kĩ thuật là đến đâu? Nước Pakistan có bom
nguyên tử, nước Ý lại không có. Thế thì chúng ta là một nền văn
minh thấp hơn? Phải chăng sống ở Islamabad sướng hơn ở Arcore?
Những người ủng hộ sự đối thoại kêu gọi hãy tôn trọng thế giới Hồi
giáo, nơi đã sản sinh ra những Avicenne 6) (sinh ra ở Boukhara,
không xa Afghanistan là bao) và Averroes 7)- đáng tiếc là người ta
hay nhắc đến hai tên tuổi này, như là những người duy nhất mà
không nhắc đến những tên tuổi như Ai-Kindi 8), Avenpace 9),
Avicebron 10), Ibn Tufayl 11), hoặc là nhà sử học lớn của thế kỉ
thứ 14 Ibn Khaldun 12) mà phương Tây coi là người khởi xướng khoa
học xã hội. Những người ủng hộ đối thoại còn gợi cho chúng ta nhớ
là người Á Rập ở Tây Ban Nha còn đam mê trau dồi địa lí, thiên văn
học, toán học hoặc y học trong khi thế giới Thiên Chúa giáo lúc ấy
còn đi sau.
Tất cả những điều này đều là sự thực, nhưng
đây không phải là những lí lẽ, bởi vì nếu lập luận như vậy, người
ta có thể nói rằng Vinci, một thị trấn yêu quý của vùng Toscano,
là hơn hẳn New York bởi vì nó là nơi Leonardo sinh ra, trong lúc
ấy ở Manhattan dăm ba anh da đỏ đang ngồi bệt xuống đất chờ những
người Hà Lan mà hơn 150 năm sau mới đổ bộ đến và mua đứt cả bán
đảo với giá 24 đô-la. Nhưng không phải vậy - xin đừng ai vì thế mà
mếch lòng - trung tâm của thế giới hôm nay là New York chứ không
phải là Vinci.
Sự vật đổi thay. Chẳng có ích khi phải nhắc
lại rằng người Á Rập ở Tây Ban Nha đã từng rất khoan hoà chung
sống với người Thiên Chúa giáo và người Do Thái, trong lúc tại xứ
mình chúng ta tấn công những ghét-tô. Hoặc Saladin 13), khi chiếm
lại được Jerusalem, đã tỏ ra thương xót người Thiên Chúa giáo bao
nhiêu, thì người Thiên Chúa giáo lại kém thương xót người Sarassin
(người Á Rập xưa) hơn bấy nhiêu lúc Jerusalem bị chinh phục trước
đó. Tất cả đều chính xác, nhưng trong thế giới Á Rập hiện nay có
những chế độ thần quyền và toàn thống (Fundamentalism) không khoan
dung người Thiên Chúa giáo sống ở đó, và Osama Bin Laden đâu có
thương xót gì New York. Bactriane đã từng là ngã tư của những nền
văn minh lớn, nhưng hôm nay người Taliban đã bắn đại bác vào những
pho tượng Phật. Ngược lại, người Pháp đã làm cuộc thảm sát
Saint-Barthélemy 14). Nhưng sự cố đó không cho phép ai hôm nay có
quyền gọi họ là người man rợ.
Chúng ta không nên quấy rầy
lịch sử bởi vì đấy là con dao hai lưỡi. Người Thổ Nhĩ Kì dùng cọc
nhọn xuyên vào người (hẳn là đau tột cùng), nhưng người Byzantine
chính thống móc mắt những người họ hàng bị họ coi là nguy hiểm, và
người Thiên Chúa giáo đã thiêu sống Giordano Bruno 15); quân cướp
biển Sarassin chế biến thức ăn từ mọi thứ dù chín hay sống, nhưng
ngay cả những đội chiến thuyền của các ngài vương tước Anh quốc
trang bị mọi loại công thư đầy đủ mã dấu, đã từng phóng hoả các
thuộc địa của Tây Ban Nha ở vùng biển Ca-ri-bê; Bin Laden và
Saddam Hussein là những kẻ thù dữ tợn của văn minh phương Tây,
nhưng trong nội bộ của nền văn minh phương Tây chúng ta có những
vị mang tên là Hitler hoặc là Stalin (Stalin dữ đến độ có kẻ gán
cho là thuộc phương Ðông, dù rằng đã từng tu học ở chủng viện và
đọc Marx).
Không, không thể đặt vấn đề thông số qua lăng
kính lịch sử, mà phải qua lăng kính đương đại. Thế thì, một trong
những điều xứng đáng của những nền văn hoá phương Tây (mang tính
tự do và đa nguyên, những giá trị mà phương Tây xem là không thể
từ bỏ) là việc đã từ lâu nhận ra rằng là chỉ ở trong cùng một
người, trước những vấn đề khác nhau, người ấy có thể xử sự bằng
nhiều thông số khác biệt và mâu thuẫn lẫn nhau. Chẳng hạn như
người ta cho việc kéo dài cuộc sống là điều tốt và việc ô nhiễm
không khí là điều xấu. Nhưng mà, để có những phòng thí nghiệm lớn
nhằm nghiên cứu việc kéo dài sự sống thì cần phải có một hệ thống
thông tin và cung cấp năng lượng, để rồi tới phiên nó lại thải ra
sự ô nhiễm.
Văn hoá phương Tây đã tạo ra khả năng lột trần
một cách tự do những mâu thuẫn của nó. Có thể nó không giải quyết
được những mâu thuẫn ấy, nhưng nó biết rằng nó mang những mâu
thuẫn và nói lên điều này. Xét cho cùng, cuộc bàn cãi thuận hay
không thuận về toàn cầu hoá là ở điểm này, trừ phi màu đen cuả
tuyệt vọng hay manh động làm đổ vỡ tất cả. Làm thế nào để có thể
chịu nổi một hệ số toàn cầu hoá tích cực mà tránh được những nguy
cơ và những bất công của một sự toàn cầu hoá lệch lạc? Làm thế nào
để có thể kéo dài cuộc sống cho cả hàng triệu những người châu Phi
đang chết vì bệnh Aids ( trong lúc vừa lo tăng thêm tuổi thọ của
chúng ta) mà không phải chấp nhận một hệ thống kinh tế toàn cầu
đang làm chết đói những người bệnh Aids và buộc chúng ta phải nuốt
những thực phẩm bị ô nhiễm?
Nhưng, chính sự phê phán về
[sự lựa chọn] những thông số, mà phương Tây theo đuổi và khuyến
khích, khiến chúng ta càng hiểu rằng vấn đề về những thông số biết
bao là tế nhị. Có phải là đúng và văn minh khi bảo vệ những bí mật
ngân hàng? Rất nhiều người nghĩ là đúng. Nhưng nếu sự bí mật này
cho phép những người khủng bố giữ tiền của họ ở kinh thành Luân
Ðôn? Vậy thì, sự bảo vệ cái gọi là sự bí mật riêng tư [privacy]
như thế là một giá trị tích cực hay là một giá trị đáng ngờ? Chúng
ta liên tục đem ra bàn cãi những thông số của mình. Phương Tây
thực thi điều này đến mức cho phép những công dân của mình từ chối
không xem thông số phát triển kĩ thuật là tích cực, để trở thành
những tín đồ đạo Phật, hoặc đi về sống ở những cộng đồng nơi khước
từ đến cả bánh xe cao su, dù chỉ để dùng cho xe ngựa. Trường học
cần phải dạy tinh thần phân tích và bàn luận về những thông số để
làm nền tảng cho những khẳng định cuồng nhiệt của mọi người.
Vấn đề mà ngành nhân học văn hoá chưa giải quyết là việc
phải làm gì khi một thành viên của một nền văn hoá với những
nguyên tắc đã được chúng ta học cách tôn trọng đến sinh sống tại
nhà chúng ta. Trên thực tế, phần lớn những phản ứng kì thị chủng
tộc ở phương Tây không đến từ sự thể những tín đồ Linh vật giáo
sống tại Mali, nhưng đến từ sự thể họ đến đây sinh sống. Hãy gác
qua một bên những tín đồ Linh vật giáo hoặc những ai muốn quay về
hướng Mecca để cầu nguyện, nhưng nếu những người ấy mang màn che
mặt [chador], khâu bịt âm hộ cho đến đêm tân hôn hay cắt âm hạch
của các cô gái, từ chối không chịu truyền máu cho những đứa trẻ
mang bệnh (như xảy ra tại một số giáo phái phương Tây), hoặc giả
một người thích ăn thịt người cuối cùng của xứ New Guinea di dân
sang đây và ít nhất mỗi chủ nhật làm thịt quay một cậu bé thì làm
sao?
Về những người ăn thịt người, tất cả chúng ta đều
đồng ý: phải bắt bỏ bót (đặc biệt vì họ không phải là một triệu
phú); về những cô gái đến trường đeo màn che mặt tôi thấy chẳng có
gì là bi thảm, nếu họ thích như vậy; về khâu bịt âm hộ hay cắt âm
hạch ngược lại, cuộc bàn cãi vẫn còn chưa ngã ngũ (thậm chí có
người khoan dung đến mức gợi ý là hãy để những đơn vị y tế địa
phương làm chuyện ấy, như vậy vệ sinh được bảo đảm). Nhưng, chẳng
hạn như, chúng ta phải làm gì trước sự yêu cầu là những phụ nữ Hồi
giáo được chụp hình hộ chiếu với màn che mặt? Chúng ta có luật lệ
định ra những tiêu chuẩn kiểm tra đồng đều cho tất cả mọi công
dân, không thể thoái thác được. Phần tôi, tôi cởi giầy dép khi
thăm viếng một đền thờ Hồi giáo vì sự tôn trọng luật lệ của nước
chủ nhà. Vậy thì, về cụ thể, làm thế nào để thay thế chụp hình che
mặt?
Tôi tin rằng trong trường hợp này có thể thương
lượng. Nói cho cùng, những hình chụp dùng cho hộ chiếu thường
không trung thực, chỉ cần bởi vì cần. Cần nghiên cứu những thẻ từ
trường phản ứng với dấu tay, ai muốn sử dụng phương tiện ngoại lệ
này phải chịu giá thặng dư. Và biết đâu những phụ nữ này khi theo
học những trường học phương Tây có thể thấy những quyền lợi mà họ
tin rằng chưa có, cũng như rất nhiều người phương Tây đã theo học
các trường học kinh Koran và họ đã tự do chọn lựa trở thành người
Hồi giáo. Suy nghĩ về những thông số cũng có nghĩa là quyết định
rằng chúng ta sẵn sàng khoan dung trước tất cả, nhưng có những
điều đối với chúng ta là không thể nhân nhượng.
Phương Tây
đã dành tiền bạc và năng lực để nghiên cứu phong tục và tập quán
của Kẻ Khác nhưng không ai cho phép Kẻ Khác thực sự nghiên cứu
phong tục và tập quán phương Tây, ngoại trừ những điều được dậy
trong trường học ở hải ngoại do người da trắng thiết lập. Người ta
còn thấy rằng chỉ có những thành phần giàu có cuả Kẻ Khác là được
đồng ý đến học tại những trường đại học Oxford hoặc Paris - rồi
người ta cũng thấy, sau khi học xong ở phương Tây, họ trở về xứ
mình và tổ chức những phong trào toàn thống, bởi vì họ cảm thấy
gắn liền đối với đồng bào của họ, những người không có cơ hội được
đi học như họ. Ðây chỉ là một câu chuyện cũ: những trí thức Ấn Ðộ
sau khi học xong với người Anh đã quay trở về đấu tranh cho nền
độc lập của nước mình.
Những nhà du hành Á Rập và Trung
Quốc cổ xưa đã từng học hỏi những xứ sở phía mặt trời lặn, nhưng
phương Tây chưa rõ gì về những điều ấy. Ðã có bao nhiêu nhà nhân
học Phi châu hoặc Trung Quốc đến nghiên cứu phương Tây để mà kể
lại, không chỉ cho người dân của họ mà cho cả chúng ta, thế nào là
cái nhìn của họ về phương Tây? Từ vài năm nay một tổ chức quốc tế
mang tên là Transcultura [Liên văn hóa] đang tranh đấu cho một
ngành Alternative Anthropology [tạm dịch là nhân học thế vị]. Tổ
chức này đã hướng dẫn một số nhà nghiên cứu Phi châu chưa bao giờ
đặt chân đến phương Tây, miêu tả thôn quê Pháp và xã hội Bologna
[thành phố lớn ở Ý]. Và tôi bảo đảm rằng, sau khi chúng ta, những
người Âu châu đọc được hai trong những quan sát gây ngạc nhiên
nhất cho họ, việc người Âu châu dắt chó của mình đi dạo, và việc
người Âu châu nằm phơi trần truồng bên bờ biển, thì ánh mắt nhìn
nhau sẽ được khai thông từ cả hai phía và những lời bàn cãi thú vị
bắt đầu.
Hãy tưởng tượng rằng những người Hồi giáo toàn
thống được mời đến làm những công trình nghiên cứu về phong trào
toàn thống Thiên Chúa giáo (lần này thì không can dự đến người
Công giáo mà chính là những người Tin lành toàn thống Mĩ, cực đoan
hơn cả một Ayatollah [Giáo lĩnh], đã tìm cách trút bỏ khỏi trường
học những gì liên quan đến Darwin). Tôi tin rằng nghiên cứu nhân
học văn hoá về phong trào toàn thống của người khác có thể giúp
cho sự hiểu biết rõ hơn về bản chất của mình. Những nghiên cứu
viên ấy sẽ có dịp học về khái niệm thánh chiến của phương Tây (tôi
có thể giúp họ nhiều tư liệu lí thú, kể cả gần đây). Và có thể như
thế, họ sẽ có cặp mắt phê phán hơn đối với ý tưởng nghĩ đến cuộc
thánh chiến tại xứ họ. Nói cho cùng, phương Tây đã suy nghĩ về
những giới hạn cuả phương thức tư duy của mình trong lúc miêu tả
tư tưởng hoang dại (la pensée sauvage).
Một trong những
giá trị mà nền văn minh phương Tây nói nhiều đến là sự chấp nhận
những điều khác biệt. Một cách lí thuyết tất cả mọi người đều đồng
ý, nhưng được coi là “phải đạo” về chính trị (politically correct)
nếu trước công chúng ta nói một người nào đó là đồng tình luyến
ái, rồi sau đó về nhà lại nói trong chế diễu đấy là một người “lại
cái”. Làm thế nào để dạy sự chấp nhận những khác biệt? L’Académie
Universelle des Cultures đã đưa lên mạng một trạm internet 16) nơi
đang thảo ra những tài liệu về những đề tài khác nhau (mầu da, tôn
giáo, phong tục, tập quán vv.) dành cho những nhà giáo bất cứ nước
nào muốn dạy học trò cần làm thế nào để chấp nhận những người khác
mình. Trước hết, có sự quyết định không được nói dối với những đứa
trẻ là mọi người đều như nhau. Trẻ em nhận ra rất rõ là có những
đứa hàng xóm hoặc những đứa bạn cùng trường không giống mình.
Những đứa ấy có màu da khác, có những đôi mắt hạnh nhân một mí, có
những mái tóc xoăn hoặc thẳng hơn mình, ăn những thức ăn lạ, hay
là không đi chịu phép xưng tội lần đầu. Cũng không đủ khi nói với
chúng rằng tất cả mọi người đều là con cái Chúa, bởi vì động vật
cũng là con cái Chúa, vả lại có những cậu bé chưa bao giờ thấy một
chú dê lên bục giảng đọc chính tả cho mình. Vì thế cần phải nói
với những đứa trẻ rằng con người rất khác nhau, và giải thích rõ
sự khác nhau là ở chỗ nào, để sau đó chứng minh rằng sự khác biệt
có thể là nguồn của sự phong phú.
Một thày giáo thuộc một
thành phố ở Ý cần phải giúp nhưng đưá trẻ Ý học sinh cuả ông ta
hiểu tại sao những đứa trẻ khác cầu nguyên một vị thần linh khác,
hoặc chơi một thứ nhạc khác nhạc rock. Ðương nhiên, một nhà giáo
Trung Quốc cũng phải cùng làm điều đó với những đứa trẻ Trung Quốc
khi sống cạnh một cộng đồng Thiên Chúa giáo. Bước tiếp theo là
việc chứng minh rằng có những cái chung giữa âm nhạc cuả chúng ta
và âm nhạc cuả những người khác, và Ðấng tối cao cuả những người
khác cũng dạy những điều tốt.
Thông số khoan dung trước sự
khác biệt chắc chắn là một trong những thông số vững nhất và ít
bàn cãi nhất. Chúng ta thẩm định rằng nền văn hoá của chúng ta là
trưởng thành bởi vì nó biết khoan dung sự khác biệt, và chúng ta
cũng thẩm định rằng những người cùng thuộc nền văn hoá cuả chúng
ta mà không chịu được sự khác biệt cuả người khác là dã man. Chấm,
thế là đủ. Nếu không, thì như thể chúng ta quyết định rằng nếu còn
có khu vực nào đó trên trái đất có kẻ ăn thịt người, chúng ta sẽ
đến đấy để ăn thịt họ như vậy họ sẽ hiểu ra lẽ. Chúng ta hi vọng
rằng, với sự thể chúng ta cho phép những đền thờ Hồi giáo hiện
diện ở nhà chúng ta, một ngày nào đó tại nhà họ sẽ có những nhà
thờ Thiên chuá giáo hoặc những ngôi tượng Phật sẽ không bị bắn
sập.
Biết bao là hoang mang ở dưới bầu trời. Có những điều
rất đáng chú ý đang xảy ra cho những ngày này. Hình như sự bảo vệ
những giá trị phương Tây trở thành ngọn cờ cuả cánh hữu, trong lúc
cánh tả, như thường lệ, thiên về khối Hồi giáo. Giờ đây, bên cạnh
sự việc có một cánh hữu và một khuynh hướng Công giáo nguyên vẹn
(integrist) nhất định thiên về thế giới thứ ba, thiên về khối Á
Rập..v..v, người ta không chú ý đến một hiện tượng lịch sử đang
hiện diện trước mắt mọi người. Sự bảo vệ giá trị cuả khoa học, cuả
sự phát triển kĩ thuật và cuả văn hoá phương Tây nói chung đã luôn
luôn là một đặc tính cuả những cánh thế tục và tiến bộ. Không chỉ
vậy, tất cả những chính thể cộng sản cũng được mời gọi vào một hệ
tư tưởng của sự tiến bộ kĩ thuật và khoa học. Tác phẩm Tuyên ngôn
đảng cộng sản năm 1848 mở đầu với một tán dương thản nhiên về sự
bành trướng trưởng tư sản; Marx không nói rằng phải vòng ngược
đường trở lại phương thức sản xuất châu Á, ông chỉ nói rằng nguời
vô sản cần phải làm chủ các giá trị và các thành tựu ấy.
Nhưng ngược lại, tư tưởng phản động (theo nghĩa tốt đẹp
cuả từ này), ít nhất là từ lúc khởi đầu sự chối bỏ cuộc cách mạng
Pháp, đã chống lại hệ tư tưởng thế tục về sự tiến bộ mà chủ trương
phải trở về với những giá trị truyền thống. Chỉ một vài nhóm tân
kì thị chủng tộc là muốn gây dựng lại một ý tưởng huyền thoại về
phương Tây và họ có lẽ sẵn sàng cắt cổ tất cả những người Hồi giáo
ở Stonehenge. Những nhà tư tưởng nghiêm chỉnh nhất thuộc khuynh
hướng truyền thống luôn luôn không chỉ hướng về những nghi lễ và
huyền thoại cuả những dân tộc sơ khai, hoặc về bài học Phật giáo
mà thôi, mà còn về cả đạo Hồi như một nguồn tâm linh có tính thế
vị hiện nay. Những nhà tư tưởng ấy luôn luôn có mặt nơi đây để
nhắc nhở rằng chúng ta không ưu việt hơn người, ngược lại là đàng
khác: chính chúng ta đã bị hệ tư tưởng về sự tiến bộ làm xơ cứng,
và rồi chúng ta phải đi tìm chân lí ở những nhà huyền đạo Sufi
hoặc ở những người tu theo phương pháp xuất thần qua những vũ điệu
xoay vòng. Không phải tôi là người nói lên những điều này, mà
chính những nhà tư tưởng ấy luôn luôn nói như thế. Chỉ cần đến một
hiệu sách và tìm đúng vào những ngăn tủ thì sẽ thấy.
Theo
chiều hướng này, hiện nay trong cánh hữu đang mở ra một sự rạn nứt
đáng chú ý. Nhưng có thể đây chỉ là một dấu hiệu xảy ra trong
những giai đoạn hoang mang lớn (chắc chắn giai đoạn chúng ta đang
sống lúc này là một), không ai biết phải đứng về phía nào. Tuy
nhiên, chính trong những giai đoạn hoang mang mà người ta cần phải
biết sử dụng vũ khí phân tích và phê phán. Phân tích và phê phán
về những mê tín cuả chúng ta cũng như cuả những người khác. Tôi hi
vọng rằng những điều này sẽ được thảo luận ở các trường học chứ
không chỉ ở những cuộc họp báo.
° ° °
Umberto Eco sinh năm 1932
tại Alessandria, Ý. Ông hoạt động trong nhiều lãnh vực: triết học,
sử học, mĩ học, văn học, phê bình, báo chí, và sưu tầm sách (sở
hữu hơn 30.000 đầu sách). Giáo sư đại học Bologna, ngành kí hiệu
học (Semiotics), môn học nghiên cứu ý nghĩa của mọi thứ tín hiệu,
nói rộng ra là bất cứ những gì có thể giải thích được, không chỉ
gồm lời nói, chữ viết mà cả cử chỉ, cách ăn mặc, kiến trúc thiết
kế, tác phẩm nghệ thuật, truyền hình, phim ảnh, máy tính..v..v.
Ngoài tư cách là một học giả uyên thâm hàng đầu thế giới
với nhiều tác phẩm lí thuyết về kí hiệu học, mĩ học và những
nghiên cứu kinh viện, ông còn là tác giả của nhiều bài viết về
những hiện tượng xã hội đương đại từ bóng đá cho đến superman, của
những CD-Rom bách khoa, và của những bestsellers (sách ăn khách
nhất); tiêu biểu là cuốn tiểu thuyết Il Nome della Rosa
(1980), hơn 26 triệu bản, đã dựng thành phim, được công chúng rộng
rãi trên thế giới yêu thích. Hiện thời có lưu hành một bản tiếng
Việt: Tên của đoá hồng do Nhà xuất bản Trẻ, TPHCM, phát
hành năm 1989, dịch giả Ðặng Thu Hương.
Bài viết Le
guerre sante passione e ragione phản ánh sự suy nghĩ và lo
lắng của một trí thức thế kỉ thứ 21, kế thừa truyền thống Kinh
viện trung cổ Ý (Scolasticismo) và Ánh sáng của phương Tây, trước
sự cố lịch sử 11/09/2001. Với phong cách điển hình Eco, vừa bác
học vừa đại chúng, (có nhà nghiên cứu ví ông là một Diderot hoặc
một Voltaire của thời này, vì sự hiểu biết bách khoa và nỗ lực
không mỏi mệt trong việc giáo dục, truyền bá kiến thức và nâng cao
ý thức đại chúng) lại vừa giàu tín hiệu hình ảnh cũng như tinh
thần dí dỏm sắc sảo và minh mẫn, bài viết phác họa lên một số nét
cơ bản về sự đối đầu của các nền văn minh cho đến ngày hôm nay chủ
yếu là tương quan giữa TA và KẺ KHÁC. Trướùc khuynh hướùng toàn
cầu hóa không thể tránh được và ý muốn duy trì thế giới đơn cực
hiện hành, nhân loại đang đứng trướùc nhiều căng thẳng và nhiều
câu hỏi. Hơn bao giờ hết, tư tưởng khoan dung về tôn giáo và văn
hoá càng trở nên cấp thiết. Bài viết của Umberto Eco chắc sẽ giúp
chúng ta có thêm một số suy nghĩ về vấn đề chung này của mọi nền
văn hoá trong tương lai.
Cuối cùng, người dịch đoán rằng,
trung thành với quan niệm của mình (mỗi văn bản như một “mê
cung”), “Tác gia” Eco có lẽ đã hình dung đến mọi tình huống thuộc
về một “Người đọc mẫu mực” (Il Lettore modello) khi ông dùng một
số thuật ngữ quan trọng được lập đi lập lại vài lần trong bài như
passione (thương khó) và misericordioso (thương xót)
là những phạm trù tôn giáo căn bản của Ðạo Thiên Chúa.
_______________
1) Roger Bacon
(1214-1292), nhà kinh viện, nhà triết học, nhà khoa học, tu sĩ
Anh. Người đưa vào khoa học phương pháp quan sát và thực nghiệm.
Ông còn quan tâm sâu sắc đến phép Luyện đan (Alchemy).
2)
Silvio Berlusconi, thủ tướng Ý, lãnh tụ cánh hữu, trong một buổi
nói chuyện, nhấn mạnh sự ưu việt của phương Tây đối với thế giới
Hồi giáo, sau đó phải xoá bỏ khi in lại bài nói trên báo.
3)
Lawrence of Arabia (1888-1935), nhà thám hiểm, nhà quân sự, học
giả người Anh. Gia nhập và trở thành cấp lãnh đạo cuộc đấu tranh
của dân Á Rập chống lại đế quốc Thổ. Sau thế chiến thứ nhất tham
dự hội nghị Paris nhằm bênh vực nền độc lập của dân Á Rập nhưng
không thành.
4) Phoenicia, tên vùng đất cổ thuộc miền đông Ðịa
Trung Hải, một trung tâm văn minh phồn thịnh có thuộc địa gồm cả
các đảo Cyprus, Sicily, Sardinia, và châu Phi, Tây Ban Nha, đạt
đến đỉnh cao văn minh khoảng 1000 trước CN. Ngôn ngữ của họ
(semitic) có văn tự kí âm là tiền thân của mẫu tự Hi Lạp và La Mã.
Sau bị Alexander đại đế tàn phá năm 332 trước CN.
5) Salesian,
tên một dòng tu truyền giáo, đặt trọng tâm trên những cơ sở giáo
dục, thành lập năm 1859 tại Torino (Ý), lấy tên của Thánh Francis
de Sales.
6) Avicenne (980-1037), tên Á Rập Ibn-Sina, nhà vật
lí, nhà khoa học, nhà triết học người Iran, nổi tiếng và ảnh hưởng
nhất của Hồi giáo. Soạn ra tác phẩm Kitab-ash-shifa ‘Sách chữa
bệnh’ (Book of Healing), một bộ bách khoa lớn về triết học và khoa
học, và bộ ‘Quy điển y học’ (Canon of Medicine), một trong những
tác phẩm nổi tiếng nhất của lịch sử y học.
7) Averroes
(1126-1198), tên Á rập Ibn-Rusd, nhà triết học Hồi giáo lớn, sinh
ở Tây Ban Nha và mất ở Thổ Nhĩ Kì. Người đã kết hợp truyền thống
Hồi giáo và tư tưởng Hi Lạp. Ông đã tổng kết và bình giảng phần
lớn những tác phẩm của Aristotle và tác phẩm Republic của Plato,
để lại nhiều ảnh hưởng sâu sắc cho nhiều thế kỉ sau. Ông còn viết
nhiều tác phẩm bảo vệ quan điểm triết học tôn giáo trước quan điểm
của các nhà thần học.
8) Al-Kindi, người Irak sống ở thế kỉ
thứ 9, nhà triết học Hồi giáo xuất chúng đầu tiên còn được gọi là
‘Triết gia của người Á Rập’. Ông không chỉ quan tâm đến triết học
Aristotle và tân-Plato, mà còn đến hàng loạt các lãnh vực khác như
thiên văn, y học, số học Ấn Ðộ, phép đố chữ (logogriphs), chế tạo
gươm và nấu ăn. Ông để lại hơn 270 tác phẩm, phần lớn là
ngắn.
9) Avenpace (khoảng 1095-1138), nhà triết học, nhà thơ,
nhà thiên văn, nhà toán học người Tây Ban Nha. Ðại biểu sớm nhất
của truyền thống triết học Á Rập/Aristotle/tân-Plato. Cốt tuỷ suy
tư triết học của ông là niềm tin vào một sự hợp nhất giữa phần hồn
và Ðấng thánh thần sau một hành trình từ ấn tượng cảm quan đến
giai đoạn cuối cùng phản ánh sự giới hạn của tư duy. Tác phẩm quan
trọng nhất Tadbiz al-mutawahhid ‘Ðịnh chế cho người ở ẩn’ (The
Regime of The Solitary) chưa hoàn tất thì mất.
10) Avicebron
(khoảng 1022-1070), nhà thơ Hebrew lớn, nhà triết học tân-Plato
quan trọng, một trong những đại biểu xuất chúng của trường phái
thơ tôn giáo và thế tục tiếng Hebrew trong ‘Thời kì vàng son của
dân Do Thái’ trong một nước Tây Ban Nha - Moorish.
11) Ibn
Tufayl, bác học, triết gia Á Rập nổi tiếng sống vào thế kỉ thứ 6.
Tác giả của bộ tiểu thuyết triết học Havy Ibn Yaqzan, một trong
những tác phẩm quan trọng nhất thời trung cổ.
12) Ibn Khaldun
(1332-1406), nhà sử học Á Rập lớn nhất, người đã phát triển một
truyền thống triết học lịch sử không tôn giáo. Kiệt tác của ông là
Muquaddimah ‘Lịch sử nhập môn’ (Introduction to History).
13)
Saladin (1137-1193) Hoàng đế (Sultan) của Ai Cập, Syria, Yemen, và
Palestine, anh hùng dân tộc nổi tiếng nhất của Hồi giáo. Trong
những cuộc thánh chiến với Thiên chúa giáo, ông chiếm lại
Jerusalem (1187) sau 88 năm chiếm đóng của người Franks (Ðức). Do
thiên tài quân sự của ông, cuộc tổng phản công của Thập tự quân
sau đó (thánh chiến lần thứ ba) bị đình trệ.
14) Ngày
Saint-Barthélomy, để chỉ ngày 24/08/1572, ngày người Thiên Chúa
giáo thảm sát người Huguenots (Tin lành Pháp).
15) Giordano
Bruno (1548-1600), nhà triết học, nhà thiên văn, nhà toán học, nhà
huyền thuật (occultist) người Ý. Ði trước khoa học hiện đại, lí
thuyết của ông cho rằng vũ trụ là vô tận và đa thế giới. Ông bác
bỏ thiên văn học truyền thống xem trái đất là trung tâm
(geocentric) và trực giác của ông vượt qua cả quan niệm của
Copernic xem mặt trời là trung tâm (heliocentric) nhưng vẫn nằm
trong một vũ trụ giới hạn với những thiên hà cố định. Vì tư tưởng
táo bạo của mình, ông bị Nhà Thờ đem ra xử thiêu ờ một quảng
trường ở Roma nơi hiện nay có ngôi tượng của ông.
16)
www.tolerance.it: đây là một site nhằm giáo dục tinh thần khoan
dung tôn giáo và văn hoá. Tư liệu trong site này có tính giáo dục
và khoa học cao (bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp và Ý), dành cho các
nhà giáo và các bậc phụ huynh.