© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị thế giới
Loạt bài: Má»™t năm chiến tranh Iraq (tháng 3.2003- tháng 3.2004)
 1   2   3   4   5   6 
31.3.2004
Patrick Martin
Hai mươi điều nói dối của George W. Bush
Lê Tuấn Huy dịch
 
Cuộc chiến Iraq, xét về mặt chính trị, một lập trường bất di bất dịch cho mọi thời điểm, theo tôi, thì không được thỏa đáng cho lắm. Giờ đây, khi chiến cuộc đã "kết thúc", vấn đề là cần nhìn tới tương lai, vì quá khứ không thể nào lật ngược lại được. Theo đó, ít nhất một điều mà cuộc chiến này đem lại (hoặc có thể đem lại) được là sự ra đi của một chế độ độc tài. Đầy dẫy ra đó khó khăn của một xã hội hậu chiến, bùng nổ "dân chủ" vô chính phủ sau mấy chục năm không hưởng được điều đó, nguy cơ xung đột tôn giáo và phi thế tục hóa nhà nước, khủng bố của lực lượng chống Mỹ và đồng minh…; nhưng dù sao, tiền đề ban đầu cho một thể chế khả dĩ dân chủ hơn đã được đặt nền.
Tuy nhiên, tôi vẫn nằm trong số những người hoàn toàn không tán đồng hành động quân sự của chính quyền Bush. Đem lại dân chủ cho Iraq không cứ gì là phải giải pháp đó, và từ những nguyên do phi lý và phi pháp. Cuộc chiến đó có lẽ đã thúc đẩy nhanh sự cáo chung của một nhà nước chuyên quyền, nhưng hậu quả của nó có lẽ cũng không nhỏ một chút nào. Liên Hợp quốc bộc lộ rõ là một định chế quốc tế kém hiệu năng và thực quyền. Các quốc gia giờ đây nhìn nhau với một thái độ không thiếu phần nghi kỵ về an ninh, và một cuộc chạy đua vũ trang mới ở tầm mức khu vực và quốc tế coi như đã nghe một phát pháo lệnh chính thức. Những định kiến xuất phát từ khác biệt nền văn minh càng gia cố thêm. Tiếng nói của đa số quần chúng nhân dân các nuớc đã bị xem thường, tạo một tiền lệ xấu cho nền dân chủ… Không những thế, dư chấn của cuộc chiến vẫn đang tiếp tục tác động lên các chính quyền đã tham gia hay tích cực ủng hộ chiến tranh. Xáo động đã đến trên chính trường Anh, rồi Tây Ban Nha, và cả Mỹ.
Cuộc điều trần đang diễn ra tại đất nước cầm đầu cuộc chiến, là về vụ khủng bố 11 tháng 9, nhưng lại liên quan mật thiết đến Iraq. Việc cựu cố vấn về chống khủng bố suốt bốn đời Tổng thống, Richard Clarke, khẳng định rằng G.W. Bush luôn đòi hỏi ở ông những báo cáo quy buộc khủng bố về cho Iraq cho thấy phần nào sự không trung thực của chính quyền này đối với vấn đề. Dư luận truyền thông trước, trong và sau chiến tranh đã nhiều lần lên tiếng về điều đó.
Khi cơn lốc chiến tranh đã cận kề, ngày 20/03/2003, nhà báo Patrick Martin đã có bài viết phân tích những điều nói dối của Bush nhằm chính thức khởi phát chiến cuộc. Đúng là nay cần hướng đến tương lai, nhưng nhìn lại quá khứ là việc làm luôn không bao giờ thừa, vì từ đó có thể nhận chân thêm nữa về sự việc và có thể có những bài học cần có cho tương lai, đặt biệt là bài học về sự trung thực của chính quyền đối với những người đã uỷ thác quyền lực cho mình trong chức năng quản trị quốc gia.
Xin giới thiệu cùng bạn đọc bài báo vừa nêu.
Lê Tuấn Huy

Diễn văn dài 15 phút đọc vào đêm thứ hai 17/03 của Tổng thống Bush, hạn định 48 tiếng đồng hồ cho việc mở màn cuộc chiến chống Iraq, đã vượt quá sự xuyên tạc thông thường theo kiểu "nửa sự thật". Nó viện đến sợ hãi và chậm trễ, đến độ đưa ra những lời nói dối trơ trẽn, quá dễ bị bắt bẻ lại.

Trình độ thượng hạng của sự nói dối này dẫn đến hai kết luận chính trị: chính quyền Bush sẽ đi đến chiến tranh chống Iraq hoàn toàn bất chấp dân chủ và ý kiến công luận, và, sự tuyên truyền chiến tranh của chính quyền này trông mong rất nhiều vào hệ thống truyền thông nước Mỹ, vốn không có thái độ phản đối những dối trá mà còn lặp lại và gia cường cho chúng, liên tu bất tận.
Không cần một cố gắng toàn diện lắm, nhưng cũng đáng bõ công để nêu lên một số điều nói dối quan trọng nhất, đồng thời tương phản những khẳng định của Bush bằng các hồ sơ đã phổ biến. Mọi tuyên bố sai trái liệt kê bên dưới được trích trực tiếp từ bản sao nguyên văn của Bush đã công bố trên internet.

Lời nói dối thứ nhất: "Thưa đồng bào, sự việc Iraq nay đã đi đến những ngày [phải có] quyết định cuối cùng".

Chiến tranh với Iraq là điều đã được quyết định trước đó rất lâu, thời điểm được chọn nằm trong nỗ lực nhằm tạo nên một hoàn cảnh chính trị mà binh lính Mỹ có thể khai triển việc tấn công. Theo tin tức báo chí, mà gần đây nhất là ngày 16/03, trên tờ Baltimore Sun, vào những cuộc họp đầu tiên của Hội đồng An ninh Quốc gia với Tổng thống, nhiều tháng trước cuộc tấn công khủng bố vào Trung tâm Thương mại Quốc tế và Lầu năm góc, Bush đã thể hiện quyết tâm lật đổ Saddam Hussein, và sẵn sàng cho phép quân Mỹ tấn công Iraq vì mục đích này. Tất cả những gì cần có là một cái cớ thích hợp, và nó đã có được vào ngày 11/09 .

Điều nói dối thứ hai: "Trong hơn một thập niên qua, Hoa Kỳ và các quốc gia khác đã kiên trì và thật tâm theo đuổi những nỗ lực nhằm giải giáp chế độ tại Iraq mà không cần đến chiến tranh".

Cái chế độ quản trị "xin - cho" chống lại Iraq từ Liên hiệp quốc vốn do Mỹ cầm đầu, cùng với những vùng cấm bay và những cuộc thanh sát vũ khí đầy tính khiêu khích, là một sự áp bức tàn bạo. Những chối từ cố tình cho việc cung cấp thực phẩm, thuốc men, và những nhu cầu thiết yếu khác, đã gây ra cái chết cho hơn một triệu người Iraq, mà hơn một nửa trong số này là trẻ em. Hai quan chức Liên hiệp quốc phụ trách chương trình đổi dầu lấy lương thực đã từ chức để phản đối những điều kiện ngặt nghèo tại Iraq gây nên từ chế độ quản trị này. CIA thì sử dụng các thanh sát viên như bình phong, cài điệp viên vào UNSCOM, tức chương trình thanh sát Liên hiệp quốc. Mục đích của CIA là dọ thám các quan chức hàng đầu của Iraq và ám sát Saddam Hussein.

Điều nói dối thứ ba: "Chế độ tại Iraq đã sử dụng ngoại giao như một mánh khóe để tranh thủ thời gian và thuận lợi. Điều đó đã đồng thời chính là sự thách đố những nghị quyết của Hội đồng Bảo an cho việc giải giáp hoàn toàn…".

Iraq đã không bao giờ "thách đố" nghị quyết của Hội đồng Bảo an từ khi kết thúc chiến tranh Vùng vịnh, năm 1991. Nước này đã "hợp tác" với những mệnh lệnh được đưa ra từ các cơ quan Liên hiệp quốc, dù họ vẫn thường phản đối và có những hạn chế nào đó, vì nhiều quyết định như vậy xâm phạm thô bạo chủ quyền của họ. Từ năm 1991 đến năm 1998, các thanh sát viên đã giám sát việc tiêu hủy hàng loạt các khí tài hóa học và sinh học, cũng như những hệ thống phát tán chúng, là những cái mà Iraq đã tích góp được (dưới sự giúp đở của Mỹ) trong cuộc chiến Iran - Iraq. Và họ cũng đã phá hủy tất cả những phương tiện phục vụ cho việc tạo nên những vũ khi mới loại này.

Điều nói dối thứ tư: "Những nỗ lực giải giáp trong hòa bình chế độ Iraq đã thất bại, hết lần này đến lần khác, vì chúng ta đang giải quyết vấn đề không phải với những con người hòa bình".

Theo tờ Washington Post ra ngày 16/03, trong những cuộc thanh sát giai đoạn 1991-1998, "dưới sự giám sát của Liên hợp quốc, Iraq đã phá hủy 817 trong số 819 tên lửa tầm trung không được cho phép, 14 giàn phóng, 9 xe kéo tên lửa, và 56 bệ phóng cố định. Họ cũng đã phá hủy 73 trong số 75 đầu đạn hóa, sinh học, và 163 đầu đạn thông thường. Các thanh sát viên Liên hợp quốc cũng đã giám sát việc tiêu hủy 88.000 quả đạn đã và chưa được nạp chất hóa học, hơn 600 tấn nguyên liệu vũ khí hóa học thành phẩm và bán thành phẩm, 4.000 tấn nguyên liệu hóa học tiền chế, và 980 thiết bị chủ lực của việc sản xuất những vũ khí như vậy".

Điều nói dối thứ năm: "Chế độ Iraq tiếp tục sở hữu và giấu diếm một số vũ khí giết người hàng loạt đã từng được chế tạo".

Bài báo được nhắc ở trên của tờ Washington Post đã lưu ý rằng các quan chức CIA có dính líu "hay không vào việc các quan chức chính phủ cường điệu tin tức tình báo, trong nỗ lực nhằm thuyết phục công chúng Mỹ và các chính phủ khác, rằng Iraq đã vi phạm lệnh cấm đối với vũ khí hóa, sinh học, vũ khí hạt nhân, và hệ thống tên lửa tầm xa". Bài viết đã trích "một nhà phân tích tình báo cấp cao" nói rằng các thanh sát viên có thể đã không xác định được vị trí cất giấu vũ khí, "vì có lẽ không có nhiều vũ khí dự trữ".

Nguyên Ngoại trưởng Anh, Robin Cook, người đã từ chức vào thứ hai để phản đối quyết định tham chiến mà không có sự cho phép của Liên hiệp quốc, đã tuyên bố: "Iraq có lẽ không còn vũ khí giết người hàng loạt, theo nghĩa được hiểu phổ biến của từ này". Ngay cả nếu Iraq đang giấu diếm những vũ khí cũ kỹ, thừa thãi của những năm 1980, thì những thứ này cũng khó mà xứng với những mô tả khủng khiếp của Bush, vì chúng chỉ là đồ thô sơ và tương đối không có hiệu quả. "Một số vũ khí giết người hàng loạt đã từng được chế tạo" lại chính là những cái đang được làm ra từ phía Mỹ, và đe dọa lên Iraq: trên lửa hành trình, bom thông minh, bom đốt không khí, "bom mẹ" [1] 10.000 pound, và bom MOAB [2] 20.000 pound vừa được thử nghiệm ở Florida. Thêm vào đó, Mỹ cũng không loại trừ việc sử dụng vũ khí hạt nhân.

Điều nói dối thứ sáu: "(Iraq) đã viện trợ, huấn luyện, và chấp chứa khủng bố, kể cả những hoạt động của Al Qaeda".

Không một ai, ngay cả trong chính quyền Hoa Kỳ, lại tin một cách nghiêm túc rằng có dấu hiệu liên kết giữa những người theo chủ nghĩa Hồi giáo chính thống với những người theo chủ nghĩa quốc gia thế tục của đảng Baath của chế độ Iraq, vốn đã có nhiều kẻ thù chí mạng rồi, trong vài thập niên qua. Tiếp tục khẳng định về liên minh Al Qaeda - Iraq là một cố gắng liều lĩnh nhằm liên kết Saddam Hussein với cuộc tấn công ngày 11/09.

Điều này cũng phục vụ cho việc che đậy trách nhiệm của đế quốc Mỹ trong việc đở đầu cho những kẻ khủng bố theo chủ nghĩa chính thống Hồi giáo. Có những điều nay được tin rằng cả Al Qaeda đã được tuyển mộ rộng rãi, được huấn luyện, vũ trang, và được trù hoạch hành động, bởi chính CIA, như một phần của chính sách lâu dài sử dụng những người chính thống Hồi giáo như một vũ khí chống lại phong trào cánh tả tại các quốc gia Hồi giáo. Chính sách này đã được theo đuổi từ những năm 1950, và càng được ưu tiên hơn trong giai đoạn Liên xô can thiệp vào Afghanistan, trước khi lực lượng chính thống này quay trở lại chống Washington trong những năm 1990.

Điều nói dối thứ bảy: "Nước Mỹ đã cố làm việc với Liên hiệp quốc về mối đe dọa này, vì chúng ta muốn giải quyết vấn đề một cách hòa bình".

Chính quyền Bush đến với Liên hiệp quốc vì muốn tổ chức này chuẩn thuận cho hành động quân sự, và muốn các muốn gia thành viên nhả chi phí cho các hoạt động hậu chiến, giống như hành động "rung cây hái quả" hồi chiến tranh Vùng vịnh 1991. Những cố vấn diều dâu nhất của Bush, như Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và Phó tổng thống Cheney ban đầu đã chống lại việc tìm đến Liên hiệp quốc, vì không muốn ngoại giao làm chậm lại cổ máy chiến tranh. Họ chỉ đồng ý sau khi Ngoại trưởng Colin Powell cho rằng tiến độ tập kết quân Mỹ ở Vùng vịnh sẽ có đủ thời gian, trong khi cùng lúc đó tìm đến con dấu chuẩn thuận chiến tranh của Liên hiệp quốc.

Điều nói dối thứ tám: "Những chính phủ này [nhóm đa số trong Hội đồng Bảo an] chia sẻ với khẳng định của chúng ta về hiểm họa [Iraq], nhưng không chia sẻ quyết tâm của chúng ta giải quyết nó".

Đây là điều gây ấn tượng, bởi hầu như mọi truyên bố về Iraq từ các chính phủ Pháp, Nga, Trung Quốc, Đức, và các quốc gia khác chống lại hành động quân sự, đều lặp lại rằng họ không thấy mối đe dọa trực tiếp nào từ Iraq. Bush dán nhãn cho những đối thủ của ông ta trong Hội đồng Bảo an là nhát gan, như thể họ sợ phải thực hiện hành động chống lại Saddam Hussein. Trong thực tế các quốc gia này đã cảm thấy cảnh giác ngày một tăng, từ chính Hoa Kỳ chứ không phải Iraq. Họ quyết tâm tập hợp lại - đến độ gây sốc cho chính quyền Bush - từ chối ủng hộ cuộc chiến mà Washington đã quyết định tiến hành.

Điều nói dối thứ chín: "Dù vậy, nhiều quốc gia đã có được quyết tâm và dũng cảm hành động chống lại mối đe dọa này đối với hòa bình, và một liên minh rộng rãi nay đang tập hợp để thực hiện cho được đòi hỏi này của thế giới".

Chỉ có ba quốc gia đóng góp quân cho cuộc chiến: Mỹ 250.000 binh sĩ, Anh 40.000, và 2.000 khác đến từ Úc. Những thành viên khác của "liên minh rộng rãi" thì được mua chuộc hay bị hăm dọa cho phép không lực Mỹ vào không phận của họ để bỏ bom Iraq, hoặc cung cấp nơi trú đóng quân đội, tàu chiến hay máy bay trên lãnh thổ của họ, hay cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật, thiết bị cho chiến tranh. Không một quốc gia nào nữa trực tiếp tham chiến vì hành động như vậy là ngược lại với thái độ của công chúng nước họ.

Điều nói dối thứ mười: "Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc không hành xử đúng với trách nhiệm của họ, vì vậy chúng ta sẽ hành động theo trách nhiệm của chúng ta".

Bush xác định trách nhiệm của cơ quan Liên hiệp quốc này là đóng dấu chuẩn thuận cho bất kỳ hành động nào theo yêu cầu của Hoa Kỳ. Du sao thì trong quan hệ với Liên hiệp quốc, Hoa Kỳ có những trách nhiệm rõ ràng, gồm cả việc không tiến hành chiến tranh nếu không có sự cho phép của Hội đồng Bảo an, ngoại trừ trường hợp phòng vệ tức thời. Theo Điều khoản 42 Hiến chương Liên hiệp quốc, Hội đồng Bảo an - chứ không phải là Mỹ hay Anh - được trao quyền quyết định "thực thi hiệu lực" các nghị quyết của cơ quan này, như Nghị quyết 1441 chẳng hạn. Quyết định của Mỹ "thực thi hiệu lực" theo sự diễn dịch của họ đối với Nghị quyết 1441, bất chấp ý chí của Hội đồng Bảo an, là xâm phạm luật pháp quốc tế.

Điều nói dối thứ mười một: "Nếu chúng tôi phải bắt đầu một chiến dịch quân sự, nó sẽ nhắm vào những con người không tôn trọng luật pháp đang cai trị đất nước các bạn, chứ không phải chống lại các bạn".

Chiến lược quân sự của Mỹ đã được loan tải rộng rãi, là tiến hành đánh bom Iraq đến độ sẽ gây "sốc và sợ" cho người dân Iraq, và buộc các lực lượng quân sự Iraq nhất loạt đầu hàng. Theo những bình luận báo chí, các lực lượng Mỹ và Anh "có kế hoạch tung những đòn chí tử nhất chưa từng có trong lịch sử không lực, ngay trong đêm đầu tiên, lên quốc gia này. Hàng trăm mục tiêu trên khắp lãnh thổ Iraq sẽ bị đánh cùng lúc". Thương vong thường dân Iraq do bom đạn và tên lửa, là từ hàng ngàn cho đến hàng trăm ngàn, và thậm chí còn cao hơn nếu tính cả những hậu quả lâu dài.

Điều nói dối thứ mười hai: "Khi liên minh của chúng tôi thực thi quyền hạn, chúng tôi sẽ cung cấp thực phẩm và thuốc men mà các bạn cần".

Đây là một điều đặt biệt nhạo báng, vì hậu quả trực tiếp từ tối hậu thư 48 giờ của Bush là việc rút tất cả các nhân viên viện trợ nhân đạo Liên hiệp quốc và ngưng chương trình đổi dầu lấy lương thực vốn bảo đảm việc cung cấp thực phẩm cho 60% dân số Iraq. Về dược phẩm, nước Mỹ đã tước đoạt một cách có hệ thống nhu cầu thuốc men của người dân Iraq trong mười hai năm qua, ngay cả với việc cung cấp những dược phẩm thiết yếu nhất, như kháng sinh và ống tiêm, vốn bị cấm như những thứ có "công dụng kép", có thể được sử dụng vào chương trình vũ khí sinh học.

Điều nói dối thứ mười ba: "Chúng tôi sẽ lật đổ bộ máy [chính trị] gieo rắc kinh hoàng và sẽ giúp xây dựng một nuớc Iraq mới, thịnh vượng và tự do".

Mục đích của chính quyền Bush là thiết lập một chế độ bù nhìn của Mỹ tại Baghdad, mà ban đầu sẽ dưới hình thức quân quản của Mỹ. Sẽ không ngoa khi nói rằng chính phủ Mỹ đã là người bảo trợ hàng đầu cho các chế độ độc tài trên khắp thế giới, từ Pinochet ở Chile, Suharto ở Indonesia, cho đến chính Saddam Hussein, người mà theo một thông tin gần đây, đã khởi đầu sự nghiệp chính trị của mình với vai trò một tên lưu manh chống cộng, được CIA thuê mướn trong âm mưu giết hại vị Tổng thống theo chủ nghĩa quốc gia cánh tả của Iraq, Qasem, vào năm 1959.

Một báo cáo mật của Bộ ngoại giao được tờ Los Angeles ra ngày 14/03 thuật lại, không chỉ kết luận rằng một Iraq dân chủ không chắc sẽ xuất hiện từ sự tàn phá của chiến tranh, mà còn cho rằng đó là điều thậm chí không được trông đợi từ lập trường của lợi ích Hoa Kỳ, vì "tình cảm chống Mỹ sẽ lan rộng đến mức các cuộc tuyển cử trong những thời điểm gần sẽ dẫn đến sự chiến thắng của những chính phủ Hồi giáo thù địch với nước Mỹ".

Điều nói dối thứ mười bốn: "Saddam Hussein chọn lựa sự đối đầu, người dân Mỹ có thể biết rằng mọi biện pháp đã được thực hiện để tránh chiến tranh, và mọi biện pháp sẽ được thực hiện để chiến thắng trong cuộc chiến này".

Đây là sự kết hợp của một lời nói dối và một sự thật nghiệt ngã. Chính quyền Bush đã thực hiện mọi biện pháp có thể để bảm đảm chiến tranh xảy ra. Hãy nhìn lại việc tái tục công việc thanh sát vũ khí của Liên hiệp quốc như một hành động chuẩn bị chiến tranh được ngụy trang công khai, và việc hướng những lời cay độc chống các quốc gia cho rằng dàn xếp ngoại giao cho vấn đề Iraq là khả thi. Trong khi theo đuổi chiến tranh, chính quyền Bush đã thật sự chuẩn bị sử dụng "mọi pbiện pháp", đến mức có thể sử dụng vũ khí hạt nhân để chiến thắng.

Điều nói dối thứ mười lăm: "Chiến tranh không có sự chắn chắn nào, ngoại trừ chắc chắn có hy sinh".

Sẽ có những hy sinh to lớn cho nhân dân Iraq, và cũng có những hy sinh bằng máu và hy sinh sự sung túc kinh tế của nhân dân Mỹ. Nhưng đối với những cử tri "ruột" của Bush, tầng lớp giàu có nhất của xã hội Mỹ, sẽ không có bất kỳ sự hy sinh nào. Thật vậy, chính quyền Bush đang tìm giải pháp cắt giảm trên 700 tỷ dollar thuế, gồm cả thuế đánh trên cổ tức công ty. Những đại công ty của Mỹ sẽ thu được hàng trăm triệu dollar lợi nhuận từ việc tái thiết kết cấu hạ tầng Iraq, vốn sẽ bị tàn phá bởi cuộc tấn công của Mỹ. Trong số những công ty này có cả hãng xây dựng dầu khí Halliburton mà Phó tổng thống Cheney có tên trong bảng lương của nó, và luôn chiếm ưu thế trong những liên hệ với chính quyền Bush.

Điều nói dối thứ mười sáu: "cách duy nhất để giảm thiểu thiệt hại và thời gian chiến tranh là gắn kết toàn bộ các lực lượng và những gì có thể của quân đội chúng ta, và chúng ta đã chuẩn bị để làm điều đó".

Mọi kẻ xâm lược đều khẳng định sự thương xót trước chiến tranh và tìm cách đổ tội cho nạn nhân của nó, vì đã chống cự, và vì thế kéo dài sự thống khổ. Bush cũng không khác. Tuyên bố đạo đức giả của ông ta về sự "quan tâm" dành cho nhân dân Iraq không thể khác với thực tế rằng, như nhiều chính quyền thừa nhận "thoải mái", đó là "cuộc chiến của chọn lựa", được chủ tâm tìm kiếm của chính quyền Bush, nhằm theo đuổi những kế hoạch chiến lược tại Trung Đông.

Điều nói dối thứ mười bảy: "Khủng bố đe dọa nước Mỹ, và thế giới sẽ được rút ngắn thời đoạn giải giáp Saddam Hussein ".

Không một ai, ngay cả trong giới tính báo - quân đội, tin tưởng nghiêm túc vào điều này. Các quan chức chống khủng bố Mỹ đã lặp lại rằng sự xâm lược và chiếm đóng Iraq của Mỹ, đi cùng với việc giết chóc hàng ngàn người Arab và Hồi giáo, sẽ châm ngòi cho dư luận công chúng Arab, và xa hơn thế, sẽ khơi thêm dậy thêm nữa chủ nghĩa khủng bố - không hơn không kém.

Điều nói dối thứ mười tám: "Chúng ta nay phải hành động vì những rũi ro của việc không hành động còn nhiều hơn [những rũi ro của hành động]. Trong một năm hay năm năm tới, sức mạnh của Iraq, vốn đã đe dọa lên mọi quốc gia tự do, sẽ được nhân lên gấp nhiều lần".

Điều này được chứng tỏ là sai bởi hồ sơ từ mười hai năm trước, nhận định sự suy yếu rõ rệt trong sức mạnh của quân đội Iraq. Saddam Hussein đã không bao giờ được xem như mối đe dọa đối với bất kỳ "quốc gia tự do" nào, nếu từ này có một ý nghĩa nào đó, mà chỉ đối với những lãnh thổ dầu hỏa gia đình trị ở vùng vịnh Persic và đối với người láng giềng Iran, vốn bị cai trị bởi các chế độ cũng hà khắc không khác gì chế độ của ông ta.

Điều nói dối thứ mười chín: "Khi chúng ta thực hiện những đòi hỏi của thế giới, chúng ta cũng sẽ làm vinh danh hành động quân sự có giá trị nhất của đất nước chúng ta".

Những đòi hỏi của thế giới đã được thể hiện bằng hàng triệu người biểu tình tại các thành phố trên khắp thế giới vào ngày 15/02 và 15/03 để phản đối hành động đơn phương tấn công Iraq của Mỹ. Bush tìm kiếm "đòi hỏi" này bằng cả hai cách - đòi thực thi hiệu lực những nghị quyết trước đây của Hội đồng Bảo an về Iraq ("những đòi hỏi chính đáng của thế giới"), trong khi trắng trợn thách đố ý chí đa số các nước thành viên của cơ quan này, của đa số các chính phủ trên thế giới, của đa số khổng lồ công chúng trên thế giới.

Điều nói dối thứ hai mươi: "Khác với Saddam Hussein, chúng ta tin tưởng rằng nhân dân Iraq đáng được và có thể hưởng được quyền tự do con người… Hoa Kỳ cùng với những nước khác sẽ nỗ lực để thăng tiến tự do và hòa bình trên vùng đất này".

Đối với "nhân dân Iraq", hay thay vào đó là "nhân dân Ai Cập", "nhân dân bán đảo Arab", "nhân dân Pakistan", hay nhân dân nào khác dưới những chế độ độc tài do Mỹ bảo trợ, mà lại không nói đến những người Palestine đang sống dưới ách chiếm đóng khắc nghiệt của Israel vốn được Washington ủng hộ. Chính phủ Hoa Kỳ có tin rằng bất kỳ ai trong số họ "đáng được và có thể hưởng được quyền tự do con người"? Khi Quốc hội Thổ Nhĩ Kỳ, dưới sức ép của quần chúng, đã bỏ phiếu không cho Mỹ sử dụng lãnh thổ của họ cho việc xâm lược Iraq, chính quyền Bush lại kêu gọi quân đội Thổ gây áp lực với chính phủ lật ngược lại quyết định dân chủ này.

20.3.2003

Dịch ngày 21.03.2003

© 2004 talawas


[1]Nguyên văn: "daisy-cutter" bomb.
[2]MOAB: Massive Ordnance Air Blast (LTH).

Nguồn: http://www.wsws.org/articles/2003/mar2003/bush-m20.shtml