© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
27.10.2005
Hoàng Văn Hoan
Giọt nước trong biển cả
(Hồi ký cách mạng) 16 kì
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16 
 
III. Một số hoạt động ở trong nước

Tôi tuy là Đại sứ Việt Nam và Đại biểu Trung ương Đảng tại Trung Quốc, nhưng là ủy viên Trung ương Đảng và ủy viên Ban thường trực Quốc hội, nên thường phải về nước báo cáo công tác và tham gia một số hoạt động ở trong nước. Đặc biệt là sau thắng lợi chiến dịch Biên giới, việc đi lại dễ dàng hơn trước, tôi càng có dịp về nước hoạt động được nhiều hơn. Những hoạt động ở trong nước có cảm nghĩ sâu sắc mà đến nay vẫn còn in sâu trong trí nhớ, có thể kể ba việc như sau:



1. Về chiến dịch Biên giới (tháng 9-1950)

Nói đến chiến dịch Biên giới, trước hết cần phải hiểu lai lịch của nó. Đầu năm 1950, khi cuộc kháng chiến chống Pháp của ta đang ở giai đoạn cầm cự, nhân dịp cách mạng Trung Quốc thắng lợi, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập (1-10-1949), Hồ Chủ tịch bí mật qua Bắc Kinh đặt vấn đề yêu Trung Quốc viện trợ. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Mao Chủ tịch đã vui vẻ chấp nhận ngay yêu cầu đó. Việc trước tiên là ngày 18-1-1950 Trung Quốc tuyên bố thừa nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như đã nói ở mục trên. Sau đó Trung Quốc phái một đoàn cán bộ do đồng chí La Quý Ba dẫn đầu vào Việt Nam để cùng Trung ương Đảng Việt Nam nghiên cứu tình hình kháng chiến. Qua sự nghiên cứu thấy rằng, muốn được sự viện trợ to lớn của Trung Quốc thì điều kiện quan trọng là phái khai thông vùng Biên giới Việt-Trung, nghĩa là phải tiêu diệt được quân Pháp ở vùng Biên giới. Và như vậy là Trung Quốc phải giúp nhiều mặt, mà mặt quan trọng là kinh nghiệm quân sự. Được báo cáo của các đồng chí, Mao Chủ tịch đồng ý phải khai thông Biên giới bằng cách mở chiến dịch Biên giới, và quyết định phái đồng chí Trần Canh, một vị tướng tài đã đánh quen trăm trận và đã quen biết Hồ Chủ tịch ở Quảng Châu từ những năm 1925-1926, đến giúp Việt Nam tổ chức chiến dịch này.

Đầu tháng 7 năm 1950, đồng chí Trần Canh mang theo một số cán bộ xuất phát từ Vân Nam, trèo đèo lội suối đến Việt Bắc gặp Hồ Chủ tịch ở một địa điểm trong khu rừng thuộc tỉnh Thái Nguyên, đó là “Phủ Chủ tịch của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Ở đây, Hồ Chủ tịch và đồng chí Trần Canh cùng nghiên cứu chiến dịch Biên giới. Trời nóng, hai người thường mặc áo may-ô suồng sã như người trong một nhà, cùng chỉ trỏ trên một bản địa đồ để ở trước mặt, bàn tính về cách đánh của chiến dịch. Hồ Chủ tịch nói: “Có người chủ trương đánh vào cứ điểm địch ở Cao Bằng, giải phóng được Cao Bằng tức là khai thông được Biên giới”. Đồng chí Trần Canh cho rằng, Cao Bằng là một cứ điểm lớn của địch, quân đội ta chưa quen đánh trận địa lớn, đánh vào đó chắc phải kéo dài ngày và có thể phải hy sinh nhiều. Rất tốt là ta đánh Đông Khê, một cứ điểm nằm trên đường Cao Bằng- Lạng Sơn, ở đó lực lượng địch chỉ có độ ba trăm, ta có thể đánh thắng mau và gọn. Như vậy quân địch ở Cao Bằng sẽ bị cô lập, Thất Khê sẽ phải kéo đến cứu viện, ta sẽ chặn đánh tiêu diệt địch trên đường hành quân. Mục đích của chúng ta là tiêu diệt binh lực địch càng nhiều càng tốt. Địch bị tổn thất nặng thì hoặc phải co lại hoặc phải tháo chạy, thế là ta giành được thế chủ động ở Biên giới. Hồ Chủ tịch rất tán thưởng ý kiến này và đưa ra bàn ở Bộ Chính trị và Bộ chỉ huy quân đội thì mọi người đều đồng ý. [1]

Kế hoạch đã định. Mọi việc chuẩn bị cho chiến dịch bắt đầu. Hồ Chủ tịch đích thân ra mặt trận Biên giới nắm việc chỉ đạo chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh từ phía Quảng Tây đến với một bộ máy đầy đủ gồm các cố vấn thanh mưu, chính trị, hậu cần, là những đồng chí cán bộ ưu tú của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc. Mối tình hữu nghị chiến đấu giữa quân đội cách mạng hai nước Việt-Trung chan hòa khắp dọc vùng Biên giới. Nhân dân các dân tộc hết sức phấn khởi và tin tưởng, tích cực xông ra chi viện tiền tuyến. Một cảnh tượng chiến tranh nhân dân hiện ra trước mắt chúng ta.


*

Ngày 16-9-1950, quân đội ta đánh thẳng vào Đông Khê, đến sáng ngày 18-9-1950 thì toàn bộ 300 quân địch ở đây bị tiêu diệt. Sau khi Đông Khê mất, viên chỉ huy binh đoàn địch ở Cao Bằng là thượng tá Sác-tông (Charton) phải bỏ Cao Bằng đưa toàn bộ binh đoàn chạy về phía Thất Khê, viên chỉ huy binh đoàn địch ở Thất Khê là thượng tá Lơ-pa-giơ (Lepage) đưa hai nghìn quân lên phía Đông Khê để cứu viện, đều bị quân ta bao vây chặn đánh kịch liệt. Qua nhiều ngày đêm liên tục chiến đấu, đến ngày 8- 10 thì cả hai binh đoàn đều bị ta tiêu diệt. Thượng tá Sác-tông, thượng tá Lơ-pa-giơ và một số sĩ quan chỉ huy địch bị ta bắt sống. Bộ chỉ huy địch ở Hà Nội, hết sức hoảng sợ phải ra lệnh cho các đồn ở Thất Khê, Nà Sầm, Đồng Đăng, Lạng Sơn, Lào Cai phải toàn bộ rút lui. Hệ thống phòng ngự của Pháp ở Biên giới hoàn toàn bị tan rã. Khu giải phóng của ta với Đại hậu phương Trung Quốc nối liền với nhau thành một dải.

Sau khi chiến dịch Biên giới thắng lợi, trong một cuộc hội nghị cán bộ, Hồ Chủ tịch nói: “Thắng lợi của chiến dịch Biên giới là thắng lợi của tinh thần chủ nghĩa quốc tế vô sản”. Tư lệnh chỉ huy chiến dịch Võ Nguyên Giáp nói: “Chiến địch Biên giới đã phá tan sự phong tỏa của thực dân ở Biên giới, phá tan ý đồ chiến lược của địch muốn cô lập ta. Thắng lợi này sẽ ảnh hưởng rất lớn cả về mặt quân sự, chính trị và kinh tế, đó là một thắng lợi lớn nhất trong lịch sử kháng chiến Việt Nam. Thắng lợi đó chứng tỏ tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông hết sức thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam và cuộc đấu tranh vũ trang của ta”.

Riêng tôi, sau khi đi dự Quốc khánh Tiệp Khắc (9-5) về qua Bắc Kinh một thời gian, vào khoảng đầu tháng 9 thì về đến Biên giới, lúc chiến dịch đang chuẩn bị. Khi nghe nói Trung ương hai Đảng chủ trương đánh Đông Khê trước chứ không đánh Cao Bằng trước, thì chỉ hiểu giản đơn rằng, Đông Khê là một cứ điểm nhỏ dễ đánh hơn Cao Bằng, nhưng sau khi đánh Đông Khê rồi, binh đoàn Sác-tông và binh đoàn Lơ-pa-giơ đến cứu viện đều bị diệt gọn, thì mới thấy rõ chủ trương đánh Đông Khê là một chủ trương chiến lược rất sáng suốt, chiến thuật “đánh điểm diệt viện” và chiến thuật “vận động chiến” quả là chiến thuật có hiệu quả rõ rệt. Khi chiến dịch kết thúc, tôi cùng với một số cán bộ địa phương đi thẳng vào thị trấn Cao Bằng để quan sát, thì thấy là một thành phố bỏ trống, chẳng những không còn một tên địch nào, mà ngay cả dân chúng cũng đã sơ tán hết. Tôi chỉ ở thị trấn Cao Bằng hai hôm rồi lại trở về chỗ Trung ương và Hồ Chủ tịch làm việc. Báo cáo công việc và nhận chỉ thị xong, tôi lại sang Trung Quốc. Ngày 5-11-1950 đến Bắc Kinh, mang theo thư Trung ương Đảng Việt Nam gửi Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, và gặp đồng chí Lưu Thiếu Kỳ để thông báo cụ thể về mọi vần đề.

Công tác ở Bắc Kinh một thời gian, đầu năm 1951, tôi lại về nước để tham gia Đại hội lần thứ hai của Đảng.


2. Về Đại hội lần thứ hai của Đảng (tháng 2-1951)

Đại hội Đảng họp từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951 ở một khu rừng tỉnh Tuyên Quang, được gọi là Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng gọi là Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam. Vì sao thế? Để thấy rõ vấn đề, tôi thấy ở đây cần nhắc lại tóm tắt quá trình thành lập và sự phát triển của Đảng trong hơn hai mươi mốt năm qua.

Ngày 3-2-1930, ba nhóm Cộng sản Việt Nam dưới sự chủ trì của Hồ Chủ tịch, chủ trương thống nhất cả ba nhóm thành một Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối năm 1930, theo ý kiến của Quốc tế Cộng sản, Trung ương chủ trương đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương với ý nghĩa là một Đảng cộng sản chung cho cả ba nước Đông Dương là Việt, Miên, Lào cùng chống thực dân Pháp. Sau phong trào Xô-viết Nghệ-Tĩnh, thực dân Pháp khủng bố ác liệt, phong trào bị lắng xuống. Năm 1935 Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương triệu tập một cuộc hội nghị ở Ma-cao để chỉnh đốn lại hàng ngũ của Đảng. Cuộc hội nghị này được gọi là Đại hội Ma-cao, Đại hội lần thứ nhất của Đảng. Đại hội đã bầu đồng chí Hà Huy Tập làm Tổng Bí thư của Đảng thay cho đồng chí Trần Phú đã hy sinh. Tháng 9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, nhưng nước Việt Nam bị chia thành hai phần, một phần từ vĩ tuyến 16 trở vào do quân Anh tiếp quản, một phần từ vĩ tuyến 16 trở ra do quân Tưởng tiếp quản, phần lớn lãnh thổ Miên và Lào đều bị quân Pháp trở lại chiếm đóng. Để đối phó với tình hình phức tạp đó, ngày 11-11-1945 Đảng Cộng sản Đông Dương công khai tuyên bố tự giải tán. Tuyên bố như vậy nhưng thực tế Đảng vẫn tồn tại lãnh đạo cách mạng dưới danh nghĩa Mặt trận Việt Minh. Qua hơn bốn năm anh dũng kháng chiến chống Pháp, nhất là sau thắng lợi chiến dịch Biên giới, Việt Nam đã nối liền với Trung Quốc, Liên Xô và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa thành một khối vững chắc. “Những chuyển biến mới của tình hình thế giới và tình hình trong nước đòi hỏi Đảng ta công khai hoạt động để lãnh đạo, tổ chức và động viên toàn Đảng và toàn dân quyết chiến và quyết thắng thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn”. Vì vậy Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập cuộc Đại hội lần thứ hai của Đảng.

Đại hội lần này có mấy điểm nổi bật cần nêu rõ, đặc biệt là việc thành lập Đảng Lao động Việt Nam và việc nêu cao tầm quan trọng của kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông đối với cách mạng Việt Nam.


*


Việc thành lập Đảng Lao động Việt Nam

“Sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời, Đảng ta đã trở thành Đảng nắm chính quyền; sinh hoạt chính trị và phương thức hoạt động của Đảng cũng có những thay đổi mới, khác với thời kỳ hoạt động không hợp pháp trước kia. Để phù hợp với tình hình mới và yêu cầu mới của cách mạng, điều lệ của Đảng cần phải bổ sung và sửa đổi cho thích hợp. Hơn nữa, từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Đông Dương là Đảng chung của giai cấp công nhân cả ba nước Việt Nam, Cam-pu-chia và Lào. Từ ngày kháng chiến toàn quốc, Việt Nam là một xã hội có ba tính chất: Dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến. Trong khi đó, ở Cam-pu-chia tuy hai phần ba đất nước đã được giải phóng và ở Lào đã có những chiến khu giải phóng rộng lớn ở cả Thượng Lào, Trung Lào và Hạ Lào, nhưng nhìn chung ở hai nước đó phổ biến vẫn là xã hội thuộc địa và phong kiến, và ở nhiều nơi thuộc nước Lào, giai cấp vẫn chưa phân hóa rõ rệt. Cho nên, tuy cả ba dân tộc đều cùng ở trên bán đảo Đông Dương, cùng có chung một kẻ thủ là bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, và cùng phát triển trong chu kỳ chiến tranh và cách mạng mới của thế giới, nhưng điều kiện lịch sử và dân tộc của mỗi nước không giống nhau. Tình hình đó đòi hỏi mỗi nước cần có một Đảng hợp với tình hình thực tế của nước mình.

“Hình thế trên đây đã đề ra yêu cầu gấp rút triệu tập Đại hội lần thứ hai của Đảng, đề nghị rõ chính cương, sách lược của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, quyết định việc Đảng ra hoạt động công khai và sửa đổi điều lệ Đảng cho thích hợp tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới, bầu lại Ban Chấp hành Trung ương để thay mặt Đại hội lãnh đạo công việc chung của toàn Đảng, toàn dân” [2] .

Như vậy, việc thành lập Đảng Lao động Việt Nam là sự chấm dứt của Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời cũng là sự xúc tiến việc Cam-pu-chia và Lào sẽ lập ra chính đảng riêng của mình để lãnh đạo cách mạng Cam-pu-chia và Lào cho đúng với điều kiện lịch sử và dân tộc của các nước đó.


*


Việc nêu cao tầm quan trọng của kinh nghiệm cách mạng Trung quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông đối với cách mạng Việt Nam

Từ trước, các Đảng cộng sản và công nhân trên thế giới đều đặt nhiệm vụ nghiên cứu và học tập kinh nghiệm cách mạng Nga và học thuyết Mác- Lê-nin. Từ khi cách mạng Trung Quốc thành công, thì các đảng đều đặt vấn đề nghiên cứu và học tập kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông. Riêng cách mạng Việt Nam thì từ trước Cách mạng tháng Tám (1945), Hồ Chủ Tịch đã dùng kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc kết hợp với hoàn cảnh thực tế của ta, xây dựng Khu giải phóng, xây dựng quân đội và chính quyền, xây dựng Mặt trận thống nhất dân tộc, đưa cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền, cuộc kháng chiến chống Pháp đến giai đoạn cầm cự. Lần này ở Đại hội lần thứ hai của Đảng lại nâng cao tầm quan trọng của việc học tập kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông thành một nhiệm vụ cho toàn Đảng, bằng cách ghi rõ vào trong điều lệ mới của Đảng một đoạn như sau: “Đảng Lao động Việt Nam lấy học thuyết của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Sta-lin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tế của cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam của tất cả mọi hành động. Có thể nói đó là một việc đặc biệt, đó là sự thể hiện tình hữu nghị chiến đấu khăng khít giữa hai nước Việt-Trung như môi với răng.

Chúng ta còn nhớ tại Hội trường Đại hội, “trước mặt các đại biểu, dưới chân dung của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin là chân dung của Sta-lin và Mao Trạch Đông” [3] . Và trong bức điện Đại hội thành lập Đảng Lao động Việt Nam gửi Đảng Cộng sản Trung Quốc có đoạn nói: “Đảng Lao động Việt Nam nguyện noi gương anh dũng Đảng Cộng sản Trung Quốc, học tập tư tưởng Mao Trạch Đông, tư tưởng lãnh đạo nhân dân Trung Quốc và các dân tộc Á Đông trên con đường độc lập và tự chủ” [4] .

Kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông đã ảnh hướng khá sâu rộng trong Đảng và trong cuộc chiến đấu của nhân dân ta để bảo vệ Tố quốc. Trong bài giới thiệu quyển Kháng chiến nhất định thắng lợi của anh Trường Chinh trên báo Nhân Dân ngày 2-1-1956 có đoạn nói: “Đảng có đường lối chính trị và đường lối quân sự đúng đắn, lấy chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch Đông làm nền tảng”. Lại có đoạn nói: “Đồng chí Trường Chinh theo tinh thần chỉ thị của Hồ Chủ tịch, đã vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Mao Trạch Đông để phân tích quy luật chiến tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam, vạch rõ phương châm chiến lược và chiến thuật của cuộc trường kỳ kháng chiến”.

Trong bài xã luận Mừng 30 năm thành công vĩ đại của Đảng Cộng sản Trung Quốc, báo Nhân dân ngày 28-1-1951 viết: “Để mừng 30 năm đấu tranh thắng lợi của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta phải:

…Học tập kinh nghiệm phong phú của Đảng Cộng sản Trung Quốc về mọi mặt: Đấu tranh vũ trang, kinh tế, tài chính, chính sách mặt trận, chính quyền dân chủ nhân dân v.v…”

Và trong dịp kỷ niệm mười năm chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết bài “Những bài học thắng lợi của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ nói riêng và của cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ nói chung” đăng trên báo Nhân dân ngày 7-5-1964 có đoạn viết: “Từ năm 1950 trở đi, sau cách mạng Trung Quốc thắng lợi, quân đội và nhân dân ta càng có điều kiện học tập những kinh nghiệm quý báu của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, học tập tư tưởng quân sự Mao Trạch Đông. Đó là một yếu tố quan trọng giúp vào sự trưởng thành nhanh chóng của quân đội ta, góp phần vào những thắng lợi liên tiếp của quân ta, đặc biệt là trong chiến địch Thu Đông năm 1953-1954 và trong chiến dịch Điện Biên Phủ vĩ đại...”

Điểm qua một vài nét lớn như trên, chúng ta thấy những kẻ sau này chủ trương xâm lược Cam-pu-chia, khống chế Lào và chống Trung Quốc là đã phản bội đường lối Hồ Chủ tịch, là vong ơn bội nghĩa đến và trụy lạc đến chừng nào?


3. Hội nghị Trung ương về vấn đề sửa sai cải cách ruộng đất (tháng 9-1956)

Cải cách ruộng đất là một chủ trương chiến lược nhằm xóa bỏ chế độ bóc lột phong kiến ở nông thôn, nâng cao đời sống của nông dân để đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi.

Để đảm bảo việc cải cách ruộng đất được tiến hành đúng đắn, tháng 2 năm 1953 Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã thông qua một Cương lĩnh về vấn đề ruộng đất; tháng 12 năm 1953 lại đề nghị Quốc hội ra đạo luật cải cách ruộng đất để thực hành việc cải cách ruộng đất trên toàn miền Bắc. Đồng thời một Ủy ban cải cách ruộng đất được thành lập để chỉ đạo việc thực hành cải cách ruộng đất.

a) Cương lĩnh ruộng đất của Đảng. Có mấy điểm về nguyên tắc cơ bản như sau:



b) Luật cải cách ruộng đất do Quốc hội thông qua còn quy định cụ thể:



c) Một ủy ban cải cách ruộng đất được thành lập: Gồm Trường Chinh, Tổng Bí thư Trung ương Đảng là Trưởng ban; Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Hồ Viết Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng là ủy viên.

Việc cải cách ruộng đất do Trung ương đề ra với chủ trương đường lối như trên và một ủy ban chỉ đạo gồm những thành viên quan trọng như vậy là hoàn toàn đúng đắn và cần thiết. Nhưng khi thực hành thì do tác phong gia trưởng và ý thức tả khuynh của Trường Chinh đã đưa đến những sai lầm nghiêm trọng là đánh tràn lan vào trung nông, phú nông và những người có một ít ruộng đất cho thuê, đánh tràn lan cả vào cơ sở Đảng.

Tôi còn nhớ trong một cuộc hội nghị Trung ương năm 1955, Ủy ban cải cách ruộng đất báo cáo về đợt thí nghiệm ở Thái Nguyên do Hoàng Quốc Việt lãnh đạo. Trong đợt có năm trăm địa chủ lọt lưới và bốn trăm địa chủ bị quy sai. Các ủy viên Trung ương đã nêu lên rằng, những người lọt lưới, thì sau có thể quy định lại, nhưng những người bị quy sai, thì mất hết cả tài sản, cả danh dự, gây thành một sự thù oán trong nhân dân, đó là một việc rất nguy hiểm không thể để xảy ra tình trạng ấy. Ý kiến đó đã không được Ủy ban cải cách coi trọng, mà lại tự do cho phép các đội cải cách ruộng đất được bắn địa chủ gian ác để nâng cao khí thế nông dân. Việc bắn địa chủ mở đầu từ Thái Nguyên, sau lan tràn đi nhiều nơi, coi đó là một phương pháp tốt, để nâng cao uy thế nông dân.

Tiếp đó việc cải cách ruộng đất mở rộng ra thành vấn đề chỉnh đốn tổ chức Đảng. Do phương pháp chỉ nghe nhân chứng không trọng vật chứng, và phương pháp nhục hình ép phải cung nhận, kết quả là chỗ nào cũng có người “phản Đảng” hoặc người “chui vào Đảng để phá hoại”. Ở Nghệ-Tĩnh là nơi cơ sở Đảng mạnh nhất, thì cũng là nơi bị phá hoại nghiêm trọng nhất.

Từ trước, Trung ương vốn tin ở Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, nay vì sai lầm lớn ở Nghệ-Tĩnh, sự phản ứng mãnh liệt của nhân dân vang dội đến Hà Nội, Trung ương phải khấn cấp họp hội nghị đặc biệt để nghiên cứu tình hình. Việc sửa sai bắt đầu.


*


Hội nghị Trung ương về sửa sai cải cách ruộng đất họp vào tháng 9 năm 1956, là một cuộc hội nghị họp nhiều ngày nhất [5] từ khi có Đảng. Hầu hết các đồng chí Trung ương đều cho rằng trong quá trình cải cách ruộng đất, Ủy ban có cách ruộng đất đã không thi hành đúng chủ trương của Đảng. Thí dụ:


Tai hại hơn là lúc chuyển sang giai đoạn “chỉnh đốn tổ chức” thì chẳng những đánh vào trung nông và phú nông, mà còn đánh cả vào các tổ chức cơ sở Đảng, phần lớn những người đảng viên vào Đảng từ năm 1930, hoặc tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội từ những năm 1925-1926 đều bị đấu tố và giam cùm. Đặc biệt là ở Nghệ-Tĩnh, do Đặng Thí phụ trách thì nhà tù dựng lên khắp nơi, hầu hết cơ sở Đảng đều bị đánh phá tan nát.

Những sai lầm như trên đã được nêu lên khá rõ rệt và đầy đủ, nhưng người phụ trách Ủy ban cải cách ruộng đất là Trường Chinh tuy không chối cãi được, nhưng cứ lý luận rằng cải cách đã đưa lại ruộng đất cho nông dân là một thắng lợi lớn, còn những sai lầm thì tránh né không thừa nhận một cách thẳng thắn. Hoàng Quốc Việt cũng không nhận sai lầm. Chỉ có Lê Văn Lương, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương là thành thực nhận sai lầm trong việc chỉnh đốn tổ chức. Hồ Chủ tịch tuy không ở trong Ủy ban cải cách ruộng đất, nhưng với cương vị là Chủ tịch Đảng, đã nghiêm khắc tự phê bình trước Hội nghị về việc thiếu kiểm tra đôn đốc, và chủ trương kiên quyết sửa sai.

Hội nghị Trung ương đáng lẽ phải có một nghị quyết tổng kết kinh nghiệm về cải cách ruộng đất. Nhưng Trường Chinh vừa là Tổng Bí thư Trung ương Đảng vừa là Trưởng ban cải cách ruộng đất, vì tư tưởng không thông, nên dự thảo nghị quyết mấy lần đều không được Hội nghị Trung ương chấp nhận. Kết quả vì cuộc họp đã lâu quá không thể kéo đài, đành phải kết thúc bằng chủ trương kiên quyết sửa chữa và thi hành kỷ luật với một số người phụ trách. Còn về nghị quyết thì phải tạm gác lại, giao cho Trường Chinh viết lại để trình Trung ương duyệt trong một phiên họp khác.

Về việc thi hành kỷ luật, Trung ương quyết định như sau:


Để bổ sung vào Bộ Chính trị, Hội nghị Trung ương bỏ phiếu bầu Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị và Hoàng Văn Hoan làm ủy viên Bộ Chính trị. Đồng thời Trung ương cũng nghĩ đến việc Hồ Chủ tịch vừa là Chủ tịch Đảng, vừa kiêm chức Tổng Bí thư thì sẽ phải quản cả mọi việc sự vụ, cần phải nhắm đến người thay thế chức vụ Tổng Bí thư.

Lê Duẩn là một cán bộ công tác ở miền Nam, trước đã viết thư đề nghị Trung ương phải cải cách ruộng đất để cải thiện đời sống nông dân. Các đồng chí trong Bộ Chính trị đều nghĩ rằng một người đã có sáng kiến như vậy thì chắc chắn có thể giúp Hồ Chủ tịch trong chức vụ là Bí thư Trung ương Đảng. Không bao lâu thì Lê Duẩn được điều từ miền Nam ra làm việc ở miền Bắc.


*


Vào khoảng cuối năm 1956 đầu năm 1957, Lê Duẩn đến Hà Nội, Trung ương quyết định ủy nhiệm làm quyền Tổng Bí thư để giúp Hồ Chủ tịch giải quyết các việc hàng ngày của Ban Chấp hành Trung ương.

Với tư cách là quyền Tổng Bí thư Trung ương Đảng, nhưng Lê Duẩn không mải miết ở bàn giấy như Trường Chinh, mà liên hệ rộng rãi với cán bộ đảng viên với các nhân sĩ dân chủ. Trong các cuộc họp Bộ Chính trị hay Trung ương cũng tỏ ra khiêm tốn, lắng nghe ý kiến của người khác và phát biểu không nhiều. Theo anh ta nói, thì mới ra miền Bắc chưa hiểu tình hình, cần phải học hỏi, đặc biệt là cần phải nghiên cứu tình hình kinh tế để xây dựng miền Bắc.

Về việc sửa sai trong cải cách ruộng đất, trong một cuộc họp Bộ Chính trị, Lê Duẩn có nêu một số ý kiến, cho rằng cải cách ruộng đất sai lầm chủ yếu là ở chỗ không dựa vào Đảng, mà chỉ dựa vào các tổ cải cách ruộng đất. Ở Trung Quốc sau khi giải phóng, cải cách ruộng đất ở các vùng Hoa Trung, Hoa Nam phải dựa vào tổ cải cách ruộng đất là vì ở đó cơ sở Đảng rất yếu, có chỗ hầu như không có. Còn ở Việt Nam, qua nhiều năm chiến đấu, cơ sở Đảng đã phát triển sâu rộng trong nhân dân, nhưng cải cách ruộng đất chẳng những không dựa vào Đảng mà lại còn đánh tràn lan cả vào cơ sở Đảng. Qua sự phân tích đó, Bộ Chính trị thấy rằng việc thảo nghị quyết Trung ương tổng kết kinh nghiệm cải cách ruộng đất, giao cho Lê Duẩn phụ trách là hợp lý. Lê Duẩn từ chối với lý do Trường Chinh là người phụ trách cải cách ruộng đất thì cứ để Trường Chinh phụ trách thảo nghị quyết là tốt hơn. Nhưng rồi Trường Chinh cứ mắc míu dây dưa mãi cho đến Đại hội lần thứ ba của Đảng cuối năm 1960 mà nghị quyết vẫn không thảo ra được. Trong lịch sử Đảng, lần đầu tiên một cuộc họp Trung ương quan trọng như thế mà không có một bản nghị quyết tổng kết là một việc làm cho đảng viên hết sức thắc mắc. Chẳng những hội nghị Trung ương không có nghị quyết, mà ngay cả trong quá trình sửa sai, Trường Chinh vẫn không dứt khoát, nên những án oan, án giả không được minh oan và người bị quy sai thành phần cũng không được tuyên bố một cách rõ rệt, cho nên mối oán thù trong cải cách ruộng đất vẫn ăn sâu trong lòng một số người, thậm chí cho đến ngày nay vẫn chưa phai nhạt. Trường Chinh vốn là một người có uy tín lớn trong Đảng trong nhân dân vì thời gian trước và sau Cách mạng Tháng Tám đã nghiêm chỉnh chấp hành đúng chủ trương đường lối của Hồ Chủ tịch, đã góp phần đáng kể vào việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, vào việc đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi. Nhưng qua việc sai lầm trong cải cách ruộng đất và việc sửa sai không triệt để, nên uy tín bị tụt xuống rõ rệt, đặc biệt là do sự mớm ý hết sức khéo léo của Lê Duẩn, càng làm cho sự tin tưởng của cán bộ và đảng viên dần dần chuyển từ Trường Chinh qua Lê Duẩn, mà bản thân Trường Chinh có lẽ cũng không ý thức đến.

Tham dự xong Hội nghị Trung ương về cải cách ruộng đất, tôi lại trở ra Bắc Kinh. Thủ tướng Chu Ân Lai được biết tin và rất quan tâm về vấn đề sai lầm trong cải cách ruộng đất, khi gặp tôi liền hỏi: Việc sai lầm trong cải cách ruộng đất có liên quan gì đến các đồng chí cố vấn Trung Quốc không? Tôi trả lời: Kinh nghịệm cải cách ruộng đất của Trung Quốc là rất tốt. Ủy ban cải cách ruộng đất ở Việt Nam phạm sai lầm, như coi thành phần địa chủ lên quá nhiều, đánh vào phần lớn phú nông và trung nông, đánh vào những người chỉ có một ít ruộng đất nhưng nguồn thu nhập chính là ở nghề nghiệp khác, đánh vào những địa chủ kháng chiến, địa chủ có công lao với cách mạng, đặc biệt là đánh tràn lan cả vào cơ sở Đảng, thì đó là sai lầm của Ủy ban cái cách ruộng đất Việt Nam, chứ không phải là sai lầm của các cố vấn Trung Quốc.

Sai lầm trong cải cách ruộng đất, đối với Trường Chinh là một bi kịch, đối với Lê Duẩn lại là một dịp tốt để từng bước xây dựng bè cánh, dần dần xa lìa đường lối của Hồ Chủ tịch, đưa vận mệnh Tổ quốc đến chỗ tai nạn.


Phần thứ bảy

Cách mạng Việt Nam với sự phản bội của Lê Duẩn (1957-1979)


Tháng 4-1957, Trung ương quyết định cử anh Nguyễn Khang thay tôi làm Đại sứ ở Trung Quốc, anh Trần Độ thay tôi làm Đại sứ ở Triều Tiên, còn tôi thì về nước nhận nhiệm vụ khác.

Thời gian này công tác ở Đảng triển khai trên nhiều mặt. Tôi được phân phối phụ trách công tác Quốc hội giúp Bác Tôn là Trưởng Ban thường trực Quốc hội nhưng tuổi cao sức yếu, mà tôi là Ủy viên Ban thường trực Quốc hội được Quốc hội bầu từ tháng 10-1946.

Năm 1961 tại Đại hội Đảng bộ Hà Nội, tôi được bầu làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Sau một thời gian không lâu, Trung ương quyết định tôi thôi chức Bí thư Thành ủy Hà Nội, chuyển sang giữ chức Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng.

Thế là từ năm 1957 về sau, sinh hoạt chính trị của tôi gắn liền với sinh hoạt Bộ Chính trị Trung ương Đảng, trừ trường hợp tôi phải dẫn đầu (hoặc tham gia) Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ, hoặc dẫn đầu Đoàn đại biểu Quốc hội đi hoạt động ở nước ngoài, và trường hợp tôi phải nghỉ ngơi dưỡng bệnh.

Theo quy định, Bộ Chính trị mỗi tuần họp một lần, khi Hồ Chủ tịch vắng mặt thì Lê Duẩn chủ trì; hội nghị Trung ương thì toàn thể Bộ Chính trị là Đoàn Chủ tịch, mỗi ủy viên Bộ Chính trị luân lưu chủ tọa hội nghị một ngày hoặc một buổi theo sự sắp xếp trong thời gian hội nghị.

Do sự quan hệ về công tác, tôi thường xuyên tiếp xúc với Lê Duẩn suốt từ năm 1957 đến năm 1979, và do sự tiếp xúc đó, mà tôi được biết rõ Lê Duẩn là con người như thế nào.

Lê Duẩn là một người thông minh, hiểu biết chính trị nhiều cả về mặt lý luận cũng như mặt thực tiễn. Nhưng là một người không thật thà, có dã tâm lớn về danh vọng và địa vị, ưa nịnh hót, ghét người trung trực, không có phong độ của một người đàn anh trong hàng ngũ cách mạng. Điều đó không có gì khó hiểu, vì hầu hết người cách mạng đều xuất thân từ xã hội cũ, từ xã hội phong kiến và thuộc địa, khi vào hàng ngũ cách mạng vẫn mang theo ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng của xã hội đó. Tuy vậy người cách mạng thật lòng muốn đi cải tạo xã hội thì đồng thời phải tự cải tạo mình. Trong quá trình thực tiễn cách mạng sẽ dần dần tự cải tạo mình trở thành người có phẩm chất, có đạo đức cách mạng, trở thành người thật lòng thật dạ phục vụ quyền lợi cách mạng, quyền lợi Tổ quốc và nhân dân.

Nhưng qua hơn hai mươi năm gần gũi, quan sát, tôi thấy Lê Duẩn là một người không tự cải tạo. Đã không tự cải tạo để phục vụ lợi ích cách mạng, thì dần dần sa ngã thành một người phản bội cách mạng là lẽ tất nhiên.

Cách mạng Việt Nam bị Lê Duẩn phản bội trong bối cảnh quốc tế là phe xã hội chủ nghĩa và phong trào Cộng sản quốc tế bị rạn nứt do Khơ-rút-sốp, người choán quyền Đảng Cộng sản Liên Xô từ tháng 9 năm 1953 gây nên; và bối cảnh là Hồ chủ tịch bị đau yếu luôn trong mấy năm và mất trước ngày miền Nam giải phóng.

Cách mạng Việt Nam bị Lê Duẩn phản bội chẳng những là một việc đau xót cho nhân dân Việt Nam mà cũng là một việc đau xót cho cả những người đã từng hết lòng hết sức giúp nhân dân Việt Nam chống đế quốc giành độc lập dân tộc, đau xót cho cả những người lương thiện muốn thế giới có một nền hòa bình, muốn nhân dân Việt Nam ấm no hạnh phúc.

Lê Duẩn được điều động ra miền Bắc công tác vào khoảng cuối năm 1956 đầu năm 1957. Mấy năm mới đến vì chưa xây dựng được vây cánh, chưa có một địa vị vững chắc trong cơ cấu lãnh đạo của Đảng, nên y còn khiêm tốn tỏ vẻ chan hòa với mọi người. Cuối năm 1960, trong Đại hội lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam, y được chính thức bầu làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng thì nhích dần từng bước, từng bước xa rời khỏi đường lối của Đảng và của Hồ Chủ tịch, đến sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng thì trắng trợn trở thành một tên phản bội cách mạng. Những hành động phản bội cụ thể của y là việc lợi dụng Đại hội lần thứ tư của Đảng cuối năm 1976 gạt một phần ba (23/71) ủy viên Trung ương ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương mới; việc ép Trung ương ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương mới; việc ép Trung ương Đảng ra nghị quyết chống Trung Quốc (7-1978); việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt – Xô mà thực chất là hiệp ước liên minh quân sự nhằm chống Trung Quốc (11-1978); việc đưa hai mươi vạn quân sang xâm chiếm Cam-pu-chia.

Để nói rõ quá trình phản bội của Lê Duẩn, phần hồi ký này sẽ thuật lại những biến cố hữu quan trong nhiều năm, qua các mục sau đây:



I. Những sự việc xảy ra ở Liên Xô sau khi Sta-lin mất và thái độ của Đảng Lao động Việt Nam

Trước Đại hội lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam, một sự việc bất ngờ đã xảy ra ở Liên Xô là sau khi Sta-lin mất (tháng 3-1953) không lâu, thì Khơ-rút-sốp lật đổ Ma-len-cốp và nắm chức Bí thư thứ nhất Đảng Cộng sản Liên Xô, rồi làm một số việc nguy hại đến sự đoàn kết trong phe xã hội chủ nghĩa và trong phong trào Cộng sản quốc tế:



*


Những việc làm của Khơ-rút-sốp đã công khai bộc lộ trước thế giới sự rạn nứt trong phong trào Cộng sản quốc tế, đặc biệt là sự bất hòa giữa hai nước lớn xã hội chủ nghĩa là Liên Xô và Trung Quốc. Đối với tình hình đó, Đảng Lao động Việt Nam hết sức lo lắng. Một Đoàn đại biểu do Hồ Chủ tịch dẫn đầu, Hoàng Văn Hoan, Xuân Thủy là đoàn viên, ngày 10-8-1960 đã gấp rút lên đường đi Liên Xô để thuyết phục Khơ-rút-sốp duy trì mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc, nhưng không có kết quả vì Khơ-rút-sốp văn khăng khăng chống Trung Quốc. Tuy vậy trong thời gian này Hồ Chủ tịch vẫn chủ trương phải bảo vệ uy tín của Liên Xô, vẫn xem Liên Xô là “người anh cả” trong phong trào Cộng sản quốc tế, vẫn chủ trương phải đoàn kết Liên Xô, đoàn kết Trung Quốc và đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa. Các chủ trương đó đã thể hiện rõ trong các văn kiện của Đại hội lần thứ ba của Đảng Lao động Việt Nam họp từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 9 năm 1960.

Sau ba mươi năm đấu tranh gian khổ, lần đầu tiên Đảng họp Đại hội ở Thủ đô Hà Nội, có sự tham gia của đại biểu Đảng các nước xã hội chủ nghĩa, đại biểu của một số Đảng cộng sản lớn như Đảng Pháp, Đảng Ấn Độ, Đảng In-đô-nê-xi-a, Đảng Ca-na-da và đại biểu một số đảng cần giữ bí mật không nêu tên. Đó là Đại hội “xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh thống nhất nước nhà”, là Đại hội “góp phần tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong phe xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự thống nhất phong trào Cộng sản quốc tế”.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành Trung ương gồm 71 ủy viên trong đó có 43 ủy viên chính thức, 28 ủy viên dự khuyết. Tiếp đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mới đã bầu Hồ Chủ tịch làm Chủ tịch Trung ương Đảng, Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng. Hội nghị Trung ương cũng bầu Bộ Chính trị gồm 11 ủy viên chính thức là Hồ Chủ tịch, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan và hai ủy viên dự khuyết là Trần Quốc Hoàn, Văn Tiến Dũng.

Đại hội kết thúc trong bầu không khí tưng bừng phấn khởi. Mọi người đều mong chờ ở Lê Duẩn những kết quả công tác tốt đẹp trong nhiệm vụ đoàn kết Liên Xô, đoàn kết Trung Quốc, đoàn kết phe xã hội chủ nghĩa, đoàn kết phong trào Cộng sản quốc tế. Nhưng sau Đại hội không bao lâu, thì Lê Duẩn đã dần dần ngả theo Khơ-rút-sốp, càng ngày càng có những hành động trái ngược với nhiệm vụ cao cả đó!


*


Sau Đại hội lần thứ ba của Đảng, Hồ Chủ tịch dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đi Mạc Tư Khoa để dự lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Nhân dịp này, Khơ-rút-sốp đột kích triệu tập một cuộc hội nghị các đảng cộng sản và công nhân để bàn về phong trào Cộng sản quốc tế. Trong hội nghị, một số đại biểu đã thẳng thắn phát biểu ý kiến, nhẹ nhàng phê bình cách làm của Khơ-rút-sốp, nhưng rồi thỏa thuận thông qua một bản thông cáo chung có tính chất xây đựng. Bản thông cáo chung đó có đoạn viết: “Tất cả các đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin đều độc lập, bình đẳng, đều xuất phát từ những điều kiện cụ thể của nước mình và dựa vào những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lê-nin mà đề ra chính sách, đồng thời ủng hộ lẫn nhau[7] . Điều đó nói lên sự ước mong của các đảng anh em trong phong trào Cộng sản quốc tế là độc lập tự chủ quyết định đường lối của đảng mình, không bị bắt buộc phải làm theo càng chỉ huy của một đảng nào khác.

Thế nhưng sau đó, Khơ-rút-sốp vẫn ép một số đảng anh em chống Trung Quốc, phong trào Cộng sản quốc tế càng rạn nứt. Biểu hiện cụ thể là tại Đại hội của các đảng, như Đảng Cộng sản Bun-ga-ri, Đảng Công nhân xã hội Hung-ga-ri, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc vào cuối năm 1962, Đảng Xã hội thống nhất Đức vào đầu năm 1963, trong bản báo cáo chính trị của Trung ương các đảng đó đều có chỗ công khai phê phán Trung Quốc, làm cho đại biểu Đảng Trung Quốc phải công khai tỏ thái độ bác lại những lời phê phán đó ngay ở trước đại hội. Với tư cách là Trưởng đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam đến dự những cuộc đại hội đó, tôi được chứng kiến một tình trạng đau xót là tình trạng bất hòa trong phe xã hội chủ nghĩa mà khi về đến Hà Nội tôi đã báo cáo rõ với Hồ Chủ tịch và Bộ Chính trị Trung ương Đảng.

Đến như các đảng anh em chưa nắm chính quyền thì từ đông sang tây đảng nào cũng có sự phân hóa: Nhóm được gọi là “chính thống” thì theo chủ trương của Khơ-rút-sốp chống Trung Quốc; nhóm “mác-xít” thì chống chủ trương của Khơ-rút-sốp và ủng hộ Trung Quốc. Các nhóm chống chủ trương của Khơ-rút-sốp đều giương cao ngọn cờ chống chủ nghĩa xét lại vì cho rằng trong khi toàn thế giới đang chống chủ nghĩa đế quốc, mà Khơ-rút-sốp lại chủ trương thi đua hòa bình với đế quốc, chủ trương tiến lên chủ nghĩa xã hội bằng con đường nghị viện, như vậy là chẳng khác gì giội nước lạnh vào cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới, như vậy là không phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lê-nin. Về tình hình này, Đảng Lao động Việt Nam thảo luận nội bộ rất nhiều, đến cuối năm 1963, thì trong Đảng mới cơ bản nhất trí là phải kiên trì nguyên tắc chủ nghĩa Mác-Lê-nin, không thể chấp nhận kiểu “chung sống” của Khơ-rút-sốp trong khi nhân dân miền Nam đang vùng dậy chống Mỹ-ngụy phá hoại Hiệp đinh Giơ-ne-vơ và ráo riết khủng bố bất kể những ai đòi thực hiện thống nhất Tổ quốc. Bấy giờ, Hồ Chủ tịch mới chủ trương họp hội nghị lần thứ chín của Trung ương Đảng để thảo luận vấn đề chống chủ nghĩa xét lại.

Lê Duẩn trong mấy năm trước đó, đi lại Mạc Tư Khoa nhiều lần, bị Khơ-rút-sốp tìm mọi cách lôi kéo, đã ngấm ngầm đứng về phía Khơ-rút-sốp chống Trung Quốc, nên khi Bộ Chính trị quyết định họp Trung ương để nghiên cứu vấn đề chống chủ nghĩa xét lại, thì Lê Duẩn tránh né không tự mình chuẩn bị bản báo cáo, mà đẩy trách nhiệm đó cho Trường Chinh.


*


Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam thảo luận về vấn đề chống chủ nghĩa xét lại họp cuối năm 1963.

Trong hội nghị, sau khi nghe Trường Chinh đọc báo cáo, các đồng chí thảo luận rất sôi nổi. Tố Hữu thì phê phán Liên Xô rất mạnh bằng cách nêu ra mười tội trạng với giọng nói lên bổng xuồng trầm của một nhà thơ. Riêng Lê Duẩn thì không phát biểu gì cả. Sau nhiều ngày thảo luận, hội nghị thông qua nghị quyết. Trong bản dự thảo nghị quyết có đoạn nêu rõ tên Khơ-rút-sốp. Lê Duẩn đề nghị không nên nêu tên Khơ-rút- sốp. Cuối cùng Trung ương quyết định không nêu tên Khơ- rút-sốp. Trung ương quyết định rằng nghị quyết này là một văn kiện học tập trong nội bộ chứ không công bố, nhưng tinh thần chủ yếu thì như bản thông cáo đăng ở báo Nhân dân ngày 21-l-1964. Thông cáo có đoạn viết:

Đảng Lao động Việt Nam ra sức đấu tranh để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, chống chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh là nguy cơ chủ yếu của phong trào Cộng sản quốc tế, đồng thời chống chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa biệt phái”; “Trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, Đảng ta đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc của hai bản tuyên bố Mạc Tư Khoa năm 1957 và năm 1960”; “Kiên quyết chống chủ nghĩa xét lại hiện đại không những là nghĩa vụ quốc tế của Đảng ta, mà còn là một yêu cầu cấp bách để bảo vệ sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, bảo vệ đường lối đúng đắn của Đại hội toàn quốc lần thứ ba của Đảng và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng của nhân dân cả nước.

Việc Trung ương ra được bản nghị quyết chống chủ nghĩa xét lại như thế là kết quả của một cuộc đấu tranh nội bộ kể từ năm 1960 khi Khơ-rút-sốp đã ra mặt chống Trung Quốc. Bản nghị quyết ra được mấy hôm thì Liên Xô mời một Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam qua Liên Xô. Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam liền cử Đoàn đại biểu do Lê Duẩn làm trưởng đoàn, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Tố Hữu và Nguyễn Văn Kỉnh là đoàn viên. Ngày 27-1- 1964, Đoàn lên đường đi Liên Xô. Khi qua Bắc Kinh, Mao Chủ tịch đã thết tiệc thân mật. Trong bữa tiệc Lê Duẩn đã nói rõ với Mao Chủ tịch rằng, chuyến này chúng tôi qua Liên Xô là để trình bày lập trường và quan điểm của Đảng chúng tôi, đồng thời cũng sẵn sàng nghe lập truờng và quan điểm của Đảng Cộng sản Liên Xô, nhưng Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch đã dặn chúng tôi là không ra thông cáo chung. Mao Chủ tịch tỏ lòng khâm phục đối với Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã quan tâm đến phong trào Cộng sản quốc tế, quan tâm đến sự đoàn kết giữa Trung Quốc với Liên Xô. Mao Chủ tịch chúc Đoàn sẽ đạt được thành công trong sứ mệnh của mình.


*


Ngày 31-1-1964, Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam đến Mạc Tư Khoa.

Sau nhiều ngày hội đàm với Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn đầu là Xu-xlốp, Liên Xô đưa ra một bản thông cáo chung, Đoàn đại biểu Việt Nam từ chối không ký, vì trước khi lên đường, Hồ Chủ tịch đã dặn rõ ràng rằng không ký thông cáo chung. Một lý do cụ thể mà Đoàn đại biểu Việt Nam không ký là vì nội dung của bản thông cáo có chỗ không phù hợp với tinh thần chống chủ nghĩa xét lại của Hội nghị Trung ương lần thứ chín.

Việc Đoàn đại biểu Việt Nam không chịu ký thông cáo chung đã làm cho Liên Xô không vui lòng, nên khi Đoàn đại biểu Việt Nam về nước, Liên Xô chỉ mua cho bốn cái vé máy bay hàng không dân dụng [8] , mà thông thường thì một Đoàn đại biểu như vậy là Liên Xô phải phái một máy bay chuyên cơ. Trong khi Đoàn đại biểu Việt Nam đang ngồi chờ máy bay dân dụng ở sân bay Mạc Tư Khoa thì Liên Xô kéo Lê Duẩn đi bàn riêng. Thế là Lê Duẩn tự ý ký bản thông cáo chung với Liên Xô rồi về chỗ ngồi cũ gặp mấy người chúng tôi và giải thích rằng, không ký thông cáo chung với Liên Xô là không xã giao. Tôi liền hỏi, lúc ra đi Hồ Chủ tịch đã dặn là không ra thông cáo chung sao bây giờ lại ra thông cáo chung? Lê Duẩn trả lời rằng, về việc này, tôi sẽ chịu trách nhiệm với Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch.

Được một hồi, cán bộ lễ tân Liên Xô thông tri cho biết là Liên Xô đã chuẩn bị cho Đoàn một chiếc chuyên cơ để đi Bắc Kinh. Rõ ràng đây không phải là một chiếc chuyên cơ thông thường, mà là kết quả của một việc mua bán.

Sau khi Đoàn đại biểu từ Mạc Tư Khoa về đến Hà Nội, Lê Duẩn đọc kỹ lại báo Nhân dân thì thấy ngày 21-1-1964 có bài xã luận nhan đề là “Tăng cường đoàn kết nhất trí, nâng cao ý chí chiến đấu đưa sự nghiệp của chúng ta tiến tới những thắng lợi mới”, có đoạn viết:

“Hội nghị lần thứ chín của Trung ương Đảng là một sinh hoạt tư tưởng quan trọng của Đảng ta. Nghị quyết của Trung ương là cơ sở lý luận để thống nhất tư tưởng và hành động của toàn Đảng và toàn dân ta”.

Lại có đoạn viết: “Về thực chất sai lầm của chủ nghĩa xét lại là xuyên tạc và vứt bỏ những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê-nin và những nguyên tắc cách mạng của hai bản tuyên bố Mạc Tư Khoa năm 1957 và năm 1960, thi hành chính sách thỏa hiệp giai cấp, chính sách hợp tác vô nguyên tắc với chủ nghĩa đế quốc, xóa bỏ ranh giới giữa ta, bạn, địch, chia rẽ phe xã hội chủ nghĩa và phong trào Cộng sản quốc tế”. Báo Nhân dân ngày 29-1-1964 lại đăng bài tuyên bố của Đảng Cộng sản In-đô-nê-xi-a có đoạn viết: “Những người mác-xít- lê-nin-nít toàn thế giới hãy đoàn kết lại, tiếp tục đập tan chủ nghĩa xét lại”.

Lê Duẩn đọc xong các bài báo đó, liền gọi Hoàng Tùng đến cảnh cáo rằng, nếu còn đăng những bài như thế này nữa thì sẽ cách chức Tổng Biên tập báo Nhân dân. Thế là Hoàng Tùng xin nhận lỗi và hứa sau này sẽ không đăng những bài như thế nữa.

Việc ký thông cáo chung với Liên Xô và việc không cho đăng bài ở báo Nhân dân như đã nói trên, thực chất là một việc chống nghị quyết Trung ương về vấn đề chống chủ nghĩa xét lại, thực chất là một sự vào hùa với bọn xét lại trong việc “thi hành chính sách thỏa hiệp giai cấp, chính sách hợp tác vô nguyên tắc với chủ nghĩa đế quốc… chia rẽ phe xã hội chủ nghĩa và phong trào Cộng sản quốc tế”.


*


Nhưng chính sách hợp tác vô nguyên tắc với đế quốc không mảy may làm cho đế quốc giảm bớt tính tàn bạo của nó.

Ngày 5-8-1964, Mỹ bịa chuyện Vịnh Bắc Bộ, cho máy bay bắn phá thành phố Vinh (Nghệ An), cửa sông Gianh (Quảng Bình), thị xã Hòn Gai (Quảng Ninh). Đối với sự kiện này, thái độ của Trung Quốc và của Liên Xô là khác hẳn nhau.

Ngày 6-8-1964, Chính phủ Trung Quốc tuyên bố: “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nước láng giềng khăng khít như răng với môi của Trung Quốc, nhân dân Việt Nam là những người thân như ruột thịt của nhân dân Trung Quốc. Mỹ xâm lược nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa tức là xâm lược Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc quyết không khoanh tay ngồi nhìn mà không cứu. Nhất định Mỹ phải trả món nợ máu đối với nhân dân Việt Nam”.

Tiếp đó, ngày 9-8-1964, mười vạn nhân dân Bắc Kinh họp mít tinh có các đồng chí Chu Ân Lai, Lục Định Nhất, La Thụy Khanh, Hoàng Viên Bồi, Lâm Phong, Quách Mạt Nhược, Liêu Thừa Chí tham gia. Tôi và Tố Hữu thăm Cu-ba về qua Bắc Kinh cũng được mời tham gia. Cuộc mít tinh đó đã gửi đến Hồ Chủ tịch bức thư biểu thị lòng quyết tâm ủng hộ Việt Nam của nhân dân Trung Quốc. Thư có đoạn viết:

Trung Quốc và Việt Nam là láng giềng thân thiết như môi với răng. Nhân dân hai nước chúng ta là những người anh em cùng chia bùi sẻ ngọt. Đế quốc Mỹ xâm lược chống nhân dân Việt Nam tức là chống nhân dân Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc sẽ không ngồi yên mà không giúp đỡ… Dù việc gì xảy ra đi nữa, 650 triệu nhân dân Trung Quốc chúng tôi vẫn mãi mãi đứng bên cạnh những người anh em Việt Nam…

Tiếp đó, ngày 10-8-1964, một triệu tám mươi vạn nhân dân Thượng Hải, mười vạn nhân dân ở Phúc Châu, và đông đảo nhân dân ở Hút Hao [9] , ở La Xa [10] , ở đảo Hải Nam và nhiều thành phố khác đã ra phố biểu tình tỏ quyết tâm ủng hộ Việt Nam.

Về tình hình hoạt động của Trung Quốc như đã nói trên, báo Nhân dân đều có thuật lại đầy đủ trong các số báo từ ngày 7 đến ngày 15-8-1964.

Khác với Trung Quốc, Chính phủ Liên Xô không tỏ thái độ gì mà chỉ cho Thông tấn xã Liên Xô tuyên bố”

Các giới có thẩm quyền ở Liên Xô kiên quyết lên án những hành động xâm lược ở Vịnh Bắc Bộ của Mỹ hiện đang làm cho tình trạng Đông Nam Á vốn đã căng thẳng lại nghiêm trọng thêm một cách nguy hiểm. Những hành động đó cùng với những hành động dại dột mới hoặc những sự khiêu khích ở vùng này có thể dẫn tới những sự việc có khả năng biến những vụ rắc rối vừa xảy ra thành một cuộc xung đột quân sự mở rộng với tất cả những hậu quả nguy hiểm của nó[11] .

Cảm nghĩ về thái độ khác nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc như trên, nhà thơ Tố Hữu [12] đã viết mấy vần thơ Nhật ký đường về đăng ở báo Nhân dân ngày 2-9-1964 có những đoạn như sau:


Pra-ha

Bỗng tin đâu tới, bàng hoàng,
Quê ta giặc đến mấy tràng bom rơi.
Mỹ toan cướp biển, cướp trời,
Quê ta anh dũng tuyệt vời đánh tan.



Mạc Tư Khoa

Mạc Tư Khoa của ta ơi,
Dấu chân Cách mạng Tháng Mười còn đây,
Ngôi sao đỏ giữa sương dầy,
Vẫn trông mỗi bước, mỗi ngày ta đi.
Lê-nin đang nghĩ suy gì,
Krem-lin in bóng thành trì, lặng im.



Bắc Kinh

Sáng rồi rộn rã trong tim,
Đường về phơi phới, cánh chim tung hoành.
Cờ bay Vạn Lý Trường Thành,
Bắc Kinh tay chị tay anh triệu vòng.
Bạn mừng ta những chiến công,
Vui như tiền tuyến giữa lòng hậu phương.


Vì thấy thái độ của Liên Xô đối với Việt Nam lạnh nhạt như vậy là không tốt, nên trong dịp đi dự lễ kỷ niệm lần thứ 47 Cách mạng Tháng Mười, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ đã đề nghị Liên Xô cử một Đoàn đại biểu qua thăm Việt Nam tỏ thái độ sẵn sàng viện trợ cho Việt Nam chống Mỹ cả về mặt quân sự để giảm bớt uy tín của Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam. Đề nghị đó được Liên Xô tán thành.

Ngày 6-2-1965, Liên Xô cử một Đoàn đại biểu của Chính phủ Liên Xô [13] do Cô-xư-ghin, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dẫn đầu sang thăm Việt Nam. Qua mấy buổi hội đàm thẳng thắn, ngày 10-2-1965, Phạm Văn Đồng và Cô-xư-ghin cùng ký bản tuyên bố chung của hai Chính phủ trong đó có đoạn viết: “Hai Chính phủ đã đi tới một thỏa thuận thích đáng về những biện pháp sẽ được tiến hành nhằm củng cố khả năng quốc phòng của nước Việt Nam[14] . Qua lời tuyên bố đó người ta có thể hiểu Liên Xô sẽ viện trợ quân sự cho Việt Nam chống Mỹ, nhưng chỉ nói một cách lờ mờ không rõ ràng.

Tiếp đó, ngày 17-4-1965, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp lại đi Mạc Tư Khoa để bàn bạc thêm về vấn đề viện trợ quân sự cho Việt Nam. Qua sự bàn bạc lần này, Liên Xô mới thỏa thuận ghi rõ trong bản tuyên bố chung: “Liên Xô xác nhận rằng từ nay về sau vẫn sẵn sàng có sự giúp đỡ cần thiết cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đánh bại sự xâm lược của Mỹ[15] .



[1]Ghi chép của tác giả trùng với quan điểm của Trung Quốc và ngược với quan điểm của Việt Nam về việc ai chủ trương đánh Đông Khê. BT
[2]Ba mươi lăm năm đấu tranh của Đảng tập II trang 95-96
[3]báo Nhân dân ngày 11-3-1951
[4]báo Nhân Dân ngày 11-3-1951
[5]gần một tháng
[6]báo Nhân dân ngày 24-11-1957
[7]báo Nhân dân ngày 6-12-1960
[8]Nguyễn Văn Kỉnh là Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô, nên hội đàm xong thì ở lại Liên Xô chứ không về nước
[9]thủ phủ Khu tự trị Nội Mông (Hohhot-BT)
[10]thủ phủ Tây Tạng (Lhasa-BT)
[11]báo Nhân dân ngày 7-8-1964
[12]cùng đi với tôi từ Cu Ba về
[13]chỉ dùng danh nghĩa Đoàn đại biểu Chính phủ chứ không dùng danh nghĩa Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ như thường lệ
[14]báo Nhân dân ngày 11-2-1965
[15]báo Nhân dân ngày 19-4-1965
Nguồn: Nhà xuất bản Tin Việt Nam, tháng 7.1986. Bản điện tử do talawas thực hiện.