© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcVăn học Việt Nam
Loạt bài: 240 năm sinh Nguyễn Du (1765-1820)
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12 
2.12.2005
Nguyễn Huệ Chi
Trở lại câu chuyện so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của ông Đổng Văn Thành
2 kì
 1   2 
 
Bài „So sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân với Truyện Kiều của Nguyễn Du“ của nhà nghiên cứu Trung Quốc Đổng Văn Thành xuất hiện đã gần hai thập kỉ nay, gây không ít sóng gió trong giới nghiên cứu Truyện Kiều ở Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, công chúng văn học đông đảo dường như còn chưa biết đến cuộc tranh luận này. Bài viết mới nhất của nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi sau đây sẽ mở đầu loạt bài của cuộc tranh luận. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
talawas
Năm 1989, tôi là người có cái may mắn tiếp xúc với hai cuốn Minh Thanh tiểu thuyết luận tùng tập 4 (1986) và tập 5 (1987) trong đó có bài „So sánh Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân với Truyện Kiều của Nguyễn Du“ in liền hai kỳ của ông Đổng Văn Thành mà nhà Trung Quốc học người Nga Riftine nhã ý trao cho đọc tại Moskva rồi sau đó nhờ tôi đem về tặng lại chị Phạm Tú Châu. Vừa đọc, tôi đã nhận thấy đây là một bài viết có ngữ khí không bình thường, có vẻ là một hồi chuông “cảnh mê”, hay một gáo “nước xối sau lưng” cho người ta tỉnh lại, như lời Huỳnh Thúc Kháng nói về bài Ngô Đức Kế cũng về chuyện đánh giá Truyện Kiều 70 năm về trước. Lời lẽ của Đổng Văn Thành kể như là lời tâm huyết của một “tráng sĩ” muốn “ra tay tế độ” khi chứng kiến cảnh “trầm luân” của một sản phẩm thuộc “kho báu” tinh thần của đất nước mình, bị đồng loại (người Trung Hoa) quên lãng, trong khi đó thì người chị em sinh đôi với nó tại một quốc gia khác - Truyện Kiều - lại được hết thảy người Việt và rộng hơn, rất nhiều người đọc trên thế giới, kể cả một số học giả Trung Quốc rất mực trân trọng, đề cao, coi đó như kiệt tác của một thiên tài. Tôi cảm thông với nỗi phẫn hận chính đáng của nhà nghiên cứu họ Đổng và kính trọng công phu kiên trì tìm kiếm bóng dáng nguyên bản Kim Vân Kiều truyện của ông, cũng như hứng thú đón nhận những thông tin mới mẻ về Kim Vân Kiều truyện mà ông cung cấp, cả những lời bàn giải về nhiều mặt khả thủ ông gợi ra từ tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân, nhưng lại rất không đồng tình với cách ông bênh vực Kim Vân Kiều truyện bằng việc hạ thấp Truyện Kiều. Tôi thầm hẹn với lòng thế nào cũng phải có ngày hầu chuyện ông. Vì thế, mặc dù từ bấy đến nay kể cũng đã lâu, đã có nhiều người như Phạm Tú Châu, Hoàng Văn Lâu, Nguyễn Khắc Phi và cả Trần Ích Nguyên ở Đài Loan lên tiếng [1] , xem ra tiếng chuông của Đổng Văn Thành gióng lên mười tám năm về trước vẫn còn gây hiệu ứng trên văn đàn Trung Quốc, Đài Loan, có thể ở Việt Nam và biết đâu ở một số nước khác nữa [2] , nên xin tiếp tục có mấy lời mạo muội trao đổi với Đổng tiên sinh.


1. Tôi rất tán đồng với Nguyễn Khắc Phi rằng muốn so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều một cách khoa học nhất thiết phải có những thao tác nghiêm chỉnh và tỷ mỉ nhằm đối chiếu chỗ dị đồng giữa hai bên thật rành mạch chứ không thể tùy tiện. Tôi cũng không kém tán đồng Phạm Tú Châu và Hoàng Văn Lâu rằng muốn làm so sánh cho chính xác, không chỉ phải thành thạo cổ Hán ngữ mà còn phải rất thành thạo tiếng Việt nhất là tiếng Việt thế kỷ XIX, cái mà ông Đổng Văn Thành chỉ mới có được một vế. Đến nỗi khi so sánh, ông đã vô tình rơi vào lầm lẫn vì phải dựa vào bản dịch Truyện Kiều ra chữ Hán chưa mấy chuẩn xác của ông Hoàng Dật Cầu [3] . Tôi sẽ không nhắc lại ở đây những gì họ Đổng đã thất thố khi không vượt qua nổi “cái bẫy” của bản dịch mà Phạm Tú Châu và Hoàng Văn Lâu đã thẳng thắn chỉ ra, khiến cho những chỉ trích của ông, chẳng hạn nói rằng Nguyễn Du đã hạ thấp tính cách hai nhân vật Thúy Kiều và Từ Hải, hoặc Nguyễn Du đã dùng điển không chỉnh... đều trở nên vô nghĩa. Tôi cũng chưa thể làm cái việc so lại từng đoạn từng câu thật kỹ lưỡng giữa Kim Vân Kiều truyệnTruyện Kiều như Nguyễn Khắc Phi mong muốn. Việc ấy Phạm Đan Quế đã thực hiện từ năm 1991 [4] , sau đó Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan và Lô Úy Thu lại tiếp tục tuy nhằm chủ đích khác nên chỉ thu gọn trong “một số nhận xét” [5] . Tuy nhiên, tôi cũng tự mình đối chiếu ở một chừng mực nhất định giữa hai tác phẩm, với một mục tiêu hạn chế, nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong bài này.

Chỗ quan trọng trước hết, theo tôi, là hãy nhìn sâu vào chủ ý của ông Đổng Văn Thành. Ông muốn đề xuất điều gì cấp thiết khi so sánh Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện? Nguyễn Khắc Phi cho rằng “không thể phủ nhận ý định đề cao, thậm chí rất cao Truyện Kiều của Nguyễn Du” trong bài của ông [6] . Đọc đi đọc lại bài Đổng Văn Thành nhiều lần tôi thấy không hẳn đã như thế. Nguyễn Khắc Phi không thích cách lấy tiêu chí của một tác phẩm Trung Quốc như Hồng lâu mộng để làm thước đo giá trị Truyện Kiều của Việt Nam. Rất đúng, nhưng mà thôi cũng cứ được đi, nếu Đổng Văn Thành thực tâm muốn sánh Truyện Kiều với Hồng lâu mộng. Đọc lại câu văn của ông Đổng Văn Thành, thì nào đâu có phải. Ông chỉ nói đó là dư luận từ trước đến nay về Truyện Kiều chứ không phải ý kiến của bản thân ông. Thậm chí ông còn dẫn lời ông Trương Triều Kha trong sách Sơ giản lịch sử văn học Á Phi cho rằng “Người dân Việt Nam so Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, với Pouskine của Nga, Balzac của Pháp và Tào Tuyết Cần của Trung Quốc” [7] . Vậy “cái thước đo” mà Nguyễn Khắc Phi e ngại thực chất theo Đổng Văn Thành là của người Việt đấy, tuyệt không phải của người Trung Hoa và người nước ngoài. Như sau đây ta sẽ thấy, dẫn ra những lời này, Đổng Văn Thành muốn kín đáo hoàn lại thước đo ấy cho người Việt theo kiểu cái gì của César thì trả về cho César. Đó mới là chỗ dụng ý thâm trầm của tiên sinh họ Đổng. Vì sao tôi dám nói vậy? Hãy xem trình tự phân tích trong bài của Đổng Văn Thành.

Sau khi hết lời phàn nàn sự bất công của dư luận trong nước đã bỏ quên Kim Vân Kiều truyện suốt mấy trăm năm, thậm chí “sổ toẹt”, họ Đổng bèn so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều theo một tiến trình hai chặng. Chặng thứ nhất chia làm hai bước nhỏ là so sánh cốt truyện và so sánh chủ đề tư tưởng giữa hai tác phẩm, chặng thứ hai là so sánh những tình tiết sai dị giữa hai tác phẩm, từ đó rút ra kết luận cũng theo một tiến trình hai cấp, nâng luận điểm lên dần dần. Tiến trình đầu, có ba kết luận cơ bản được rút ra: a. “Nhân vật chính cùng tình tiết cốt truyện ở hai bộ Truyện Kiều của Trung Quốc và Việt Nam hoàn toàn giống nhau, kể cả kết cấu tự sự cũng không chút thay đổi. Chỗ khác nhau chỉ là Truyện Kiều Trung Quốc có bản 12 hồi và có bản 20 hồi, còn Truyện Kiều Việt Nam chỉ có bản gồm 12 quyển, không có bản gồm 20 quyển. Tiểu thuyết Truyện Kiều Trung Quốc lưu truyền cuối đời Minh, tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân in đầu đời Thanh còn Truyện Kiều của Việt Nam được Nguyễn Du hoàn thành vào năm thứ hai sau chuyến đi sứ Trung Quốc lần thứ nhất (năm 1815, niên hiệu Gia Khánh năm thứ 20), muộn hơn Truyện Kiều của Trung Quốc ít nhất trên 160 năm. Rõ ràng Nguyễn Du chịu ảnh hưởng tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân chứ quyết không thể là chuyện ngược lại” [8] ; b. “Nhìn tổng thể, tôi - tức Đổng Văn Thành - thấy Truyện Kiều của Nguyễn Du bất luận về nội dung hay về nghệ thuật đều không vượt được bản gốc - Truyện Kiều của Trung Quốc - mà nó mô phỏng” [9] (một chỗ khác trong Minh Thanh tiểu thuyết giám thưởng từ điển, Đổng quân còn nói trắng ra rằng Truyện Kiều là “bản dịch” từ Thanh Tâm Tài Nhân như Nguyễn Khắc Phi đã lưu ý); c. “Truyện Kiều của Nguyễn Du bảo tồn được phần lớn tinh hoa của nguyên tác tiểu thuyết Trung Quốc, tuy có tăng giảm về nội dung và nghệ thuật song phần nhiều vẫn bảo tồn được nguyên tác, vì vậy có cống hiến cho sự giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc và Việt Nam. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một tác phẩm đáng được khẳng định” [10] . Tiến trình đầu tiên gồm ba luận điểm này thật chặt chẽ và lôgic. Cốt truyện thì không thay đổi, ai cũng chấp nhận. Chủ đề tuy có thay đổi nhưng không đi xa nguyên tác, mà Nguyễn Du lại viết Truyện Kiều sau Kim Vân Kiều truyện những 160 năm là ít, vậy Nguyễn Du không “mô phỏng”, không “dịch lại” Thanh Tâm Tài Nhân thì là gì. Hẳn ít ai, dù có muốn cũng khó thoát ra khỏi tình thế lưỡng đao của kết luận thứ hai. Truyện Kiều của Nguyễn Du có giá trị đấy, “đáng được khẳng định”, nhưng nhìn cho kỹ giá trị ấy chỉ nằm trong phạm vi “bảo tồn được nguyên tác” và đóng góp vào sự “giao lưu văn hóa Trung Việt”, nói cụ thể là “bất luận nội dung hay nghệ thuật đều không thể vượt lên trên nguyên tác” được. Chỉ qua hai thao tác so sánh đơn giản, ông Đổng Văn Thành đã đặt người ta vào cái thế phải thu hẹp lại phạm vi ý nghĩa Truyện Kiều, từ chỗ là một tác phẩm độc lập và có giá trị nhân loại để đời đến chỗ phải nằm trong tương quan với Kim Vân Kiều truyện mới thấy rõ giá trị, thế có đáng để chúng ta thán phục hay không.

Nhưng xin chớ vội lạc quan. Ngay sau mấy lời khẳng định thế rồi, ông Đổng Văn Thành chuyển sang đánh giá về Kim Vân Kiều truyện. Vâng, đánh giá là việc cần làm, và chúng tôi nghĩ rất nên hoan nghênh những tìm tòi thấu đáo để đi tới sự đánh giá khách quan đúng mức. Nhưng ở đây ta hãy lưu ý tới một ý kiến chốt lại của ông, rằng Kim Vân Kiều truyện là “một tác phẩm loại hai” trong kho tàng tiểu thuyết Minh Thanh, từ đó liên hệ trở lại với những kết luận ông rút ra ở phần trước, thì sẽ thấy dụng ý sâu xa của một lời phán quyết vô ngôn trong mạch ý tứ của tác giả. Xin thử chắp nối hai ý: nếu “bất luận về nội dung hay về nghệ thuật Truyện Kiều không thể nào vượt được bản gốc”, mà bản gốc thuộc vào hàng những tác phẩm loại hai, từ lâu đã bị bạn đọc Trung Hoa xếp xó, thì cái tác phẩm gọi là “mô phỏng bản gốc” ấy làm sao đáng được xem là một sản phẩm thiên tài, có thể đem sánh với Hồng lâu mộng như người Việt đã làm? Chẳng phải Đổng tiên sinh đã cho chúng ta một bài học thâm thúy về cách dùng tam đoạn luận cũng rất thâm thúy đấy sao.

Song đâu đã hết. Ông Đổng Văn Thành sẽ còn bước sang chặng so sánh thứ hai về những sai dị giữa hai tác phẩm như trên tôi đã đề cập, để cuối cùng dành cho độc giả tự phán đoán lấy, thông qua những kiến giải có vẻ không nỡ nói thật cạn ý, nhưng ai chịu khó nghiền ngẫm chắc còn bàng hoàng sửng sốt hơn. Ông nói: a. “Nguyễn Du đã in dấu ý thức chủ quan của mình cho một số nhân vật, làm tổn hại sự thống nhất về tính cách của những nhân vật ấy ở mức độ nhất định” [11] ; b. “Nguyễn Du đã làm sâu thêm quan niệm số mệnh phong kiến” [12] ; c. “Nguyễn Du còn thêm chân cho rắn khiến chúng mâu thuẫn với hoàn cảnh và tình tiết trong toàn bộ nguyên tác” [13] . Nghĩa là bất luận về phương diện nào, tuy nói Truyện Kiều không thua Kim Vân Kiều truyện, cứ đi sâu vào thì rõ là thua trông thấy, mà thua là do chủ quan Nguyễn Du đã thay đổi tình tiết cốt truyện; do “thành phần giai cấp quý tộc” của Nguyễn Du khiến Nguyễn Du quá nương nhẹ trong việc kết án giai cấp thống trị; và do Nguyễn Du chưa nhuyễn điển cố văn học Trung Quốc, còn “hổng về kiến thức”, lại “thích khoe khoang” nên nhiều chỗ đã “dùng sai” “dùng gượng” “dùng chồng chất” các thứ điển, làm ảnh hưởng tới giá trị tác phẩm của ông. Thiết tưởng, với ba kết luận bổ sung đó, còn ai dám coi Truyện Kiều đứng ngang Kim Vân Kiều truyện được nữa không, hay đành phải chấp nhận lời phê phán nhẹ nhàng mà không kém “sâu sắc nước đời” của họ Đổng: “những tình tiết Nguyễn Du đổi khác so với nguyên tác tuy không nhiều nhưng tuyệt đại đa số đều không được như mức độ tư tưởng và mức độ nghệ thuật của nguyên tác” [14] . Nói khác đi, nếu Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm loại hai thì Truyện Kiều với những sửa chữa “biến lành thành què” của Nguyễn Du lại phải đặt xuống loại ba hoặc thấp hơn nữa, nhất định là thế, và cái điều mà ta buộc phải liên tưởng như một hệ luận tất yếu, là một tác phẩm lâu nay vẫn được thế giới nhìn nhận là kiệt tác thì than ôi đấy chỉ là... bé cái nhầm. Tuy không nói hẳn ra, “gáo nước lạnh” ông Đổng Văn Thành xối sau lưng độc giả, rốt cuộc, lại phải nói như cụ Huỳnh Thúc kháng, đã trở thành tiếng “sét phang trước trán” thật rồi.


2. Nhưng chân lý có đứng về phía ông Đổng Văn Thành hay không? Đó mới là điều cần trao đổi với nhau. Chỗ lầm lẫn đầu tiên của ông Đổng Văn Thành theo tôi là ông đã so sánh Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều của Nguyễn Du trên cấp độ cốt truyện (tuy ông nói ông “so sánh nhân vật-cốt truyện” nhưng xét kỹ chỉ là so sánh cốt truyện và một số tình tiết cốt truyện xoay quanh hai nhân vật Thúy Kiều, Từ Hải mà thôi). Chính ông cũng biết giữa hai tác phẩm có một khác biệt hết sức cơ bản: thể loại của chúng khác nhau. Một bên là văn xuôi tự sự (Kim Vân Kiều truyện), còn một bên là truyện thơ (Truyện Kiều) mà ông gọi đó là thơ trường thiên. Thể loại đã khác nhau thì thông điệp nghệ thuật của mỗi tác phẩm làm sao có thể giống nhau, bởi vì nói như Ferdinand Brunetière (1849-1906), thể loại văn học cũng giống như các loài sinh vật tiến hóa theo thuyết Darwin, luôn luôn phải phục tùng quy luật tiến hóa đa dạng của đời sống văn học. Đó “là một trong những vấn đề rất cũ của thi pháp học” và “việc nghiên cứu thể loại phải được tiến hành từ đặc trưng cấu trúc nghệ thuật của nó” [15] chứ đâu phải là từ cốt truyện? Thiết tưởng những kiến thức này là điều sơ đẳng, nhà nghiên cứu văn học ai cũng phải nắm vững. Vậy mà ông Đổng Văn Thành lại sử dụng một thao tác kỳ lạ: sử dụng lời tóm tắt Kim Vân Kiều truyện của Thư viện Đại Liên do Nhà xuất bản Xuân phong in năm 1983 trong khoảng vài chục dòng rồi đem đối sánh với đoạn tóm tắt Truyện Kiều của ông Hoàng Dật Cầu cũng trong khoảng vài chục dòng để dẫn tới một lời khẳng quyết rằng “giá trị nội dung và nghệ thuật” của tác phẩm này (Truyện Kiều) là “bảo lưu” nói cách khác bắt nguồn từ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm kia (Kim Vân Kiều truyện), tức là truyện này là dịch hay mô phỏng của truyện kia, thật dễ dàng làm sao!

Trái với Đổng Văn Thành, chúng tôi cho rằng nếu đi tìm sự dị biệt giữa Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều trên cấp độ cốt truyện thì vấn đề sẽ chẳng có ý nghĩa bao nhiêu. Việc Truyện Kiều của Nguyễn Du được “đoạt thai hoán cốt” từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân và trên cơ bản, theo sát cốt truyện, thậm chí tình tiết cốt truyện của bản gốc, thì người Việt Nam từ lâu rồi ai mà chẳng thừa nhận. Nói rộng hơn, giao lưu văn hóa trên thế giới xưa nay là chuyện muôn thuở và trong khu vực văn hóa Đông Á nhiều thế kỷ đã qua, Việt Nam và một số nước láng giềng với tư cách những nền văn hóa ngoại vi đã hướng về Trung Hoa như một tâm điểm, là điều không có gì lạ. Công lao “gợi ý” của Kim Vân Kiều truyện đối với Truyện Kiều trong trường hợp này quả là lớn chứ không phải nhỏ. Có điều, bằng thể loại truyện thơ, Truyện Kiều đã chinh phục độc giả Việt Nam tuyệt không như Kim Vân Kiều truyện đến với độc giả Trung Hoa, bởi lẽ hai yếu tố truyệnthơ đã kết hợp một cách kỳ diệu thông qua thiên tài sáng tạo của Nguyễn Du, từ phương thức tư duy thuần túy trần thuật bước sang địa hạt tư duy tự sự-trữ tình, nâng cấp lên tư duy trừu tượng-biểu cảm, khiến cho cảm xúc của người đọc được nhân lên gấp bội và cứ thế lan tỏa không giới hạn, vượt qua cõi hữu thức mà đi vào đến tận cõi vô thức, vượt qua việc đọc Kiều, kể Kiều, ngâm Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều, đố Kiều, họa Kiều, vịnh Kiều, bình Kiều, giảng Kiều, diễn xướng Kiều mà đi đến cả bói Kiều, từ truyền cảm nghệ thuật đã tiến sát vùng biên giới của tín ngưỡng. Đó là điều Thanh Tâm Tài Nhân không thể nào làm được với cuốn truyện chương hồi của ông. Ngay trong văn học thế giới, theo lời Hoài Thanh, trừ Homère ra cũng không ai giành được một địa vị trong công chúng theo kiểu như Nguyễn Du. Thử hỏi, chỉ so sánh cốt truyện giữa Kim Vân Kiều truyện với Truyện Kiều không thôi thì làm sao thấy được cái ranh giới không thể lẫn lộn kia? Trong văn học phương Tây, đề tài “Le Cid” vốn có từ thế kỷ XI và tính đến thế kỷ XVII chẳng phải đã lần lượt xuất hiện ít nhất bốn tác phẩm khác nhau: 1. Bản anh hùng ca Bài ca về Cid (El Cantar de Mío Cid) của Tây Ban Nha, hoàn chỉnh khoảng năm 1142; 2. Vở hài kịch Tuổi trẻ của Cid (Las Mocedades del Cid) của Guillén de Castro (Tây Ban Nha), ra mắt năm 1618; 3. Vở chính kịch Những kỳ công của Cid (Las Hazañas del Cid) cũng của Guillén de Castro, hoàn thành trong khoảng thời gian ít lâu sau vở trước; 4. Vở bi kịch Le Cid của Pierre Corneille (Pháp) công bố vào năm 1637. Cả bốn tác phẩm đều lấy đề tài từ câu chuyện lịch sử về chàng Rodrigo Diaz (1043- 1099) người Tây Ban Nha đã được truyền thuyết hóa, do chiến công lừng lẫy nên được một bộ tộc bị chinh phục tôn xưng là “Đức Ông” (Mío Cid), trong đó vở kịch danh tác của P. Corneille chịu ảnh hưởng rất sâu sắc từ vở Tuổi trẻ của Cid của Guillén de Castro. Thế nhưng trong văn học so sánh của thế giới trước nay, chẳng ai lấy tiêu chí cốt truyện giống và khác nhau giữa bốn tác phẩm trên để định giá sự hơn kém giữa bốn tác phẩm. Vì sao? Đơn giản chỉ vì cốt truyện không thể nào hàm chứa phát ngôn nghệ thuật của từng thể loại riêng (anh hùng ca, hài kịch, chính kịch, bi kịch) mà những tác phẩm này là hình thức biểu hiện cụ thể. Đem cốt truyện Truyện Kiều so sánh với cốt truyện Kim Vân Kiều truyện để định hơn kém, ông Đổng Văn Thành đã làm cái việc thế giới không hề làm. Đấy là điều chúng tôi thành tâm muốn chất chính ông.


3. Cũng cần nói rõ hơn, sự khác nhau về thể loại giữa Kim Vân Kiều truyệnTruyện Kiều thực chất là khác nhau về loại hình ngôn ngữ: một bên là văn xuôi một bên là thơ. Đây mới là một khu biệt có chiều sâu cần được nói kỹ hơn sự khu biệt về thể loại, bởi nói đến văn xuôi kể chuyện theo lối cổ như Kim Vân Kiều truyện là nói đến cái ngữ nghĩa thông báo đơn nhất mà ngôn từ chứa đựng, cụ thể ở đây là nội dung của câu chuyện được kể lại. Còn nói đến thơ thì ngoài ngữ nghĩa đọc ra từ ngôn bản, còn phải nói đến tiết tấu, vần và nhịp điệu, nói đến khả năng cộng hưởng của tất cả những thứ ấy, nó hướng tới chỗ thiết lập một sự tương ứng giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt, hay như lời Mallarmé là thơ sinh ra bởi một cuộc “tôi luyện đan dệt bằng nghĩa và sự âm vang” (retrempe alternée en le sens et la sonorité). Chính ông Đổng Văn Thành cũng thừa nhận ưu thế cộng cảm phi thường trong lời thơ trữ tình của Nguyễn Du mà ông chọn lấy hai đoạn tác giả thêm vào sau lúc Thúy Kiều đi thanh minh trở về và lúc ở lầu Ngưng Bích làm dẫn chứng. Ông nhận xét: “Trong lúc trữ tình, nhà thơ đã gửi gắm vào đó cả thể nghiệm cuộc đời của mình, nên những đoạn đó chân thực tha thiết, làm cảm động lòng người” [16] . Nhưng ngay sau một lời khen thành thật, họ Đổng đã lèo luôn vào một câu gần như phủ định sạch trơn điều ông vừa khẳng định tức thì: “Nhưng đồng thời, có lúc nhà thơ mải mê gửi gắm tình cảm chủ quan của mình nên đã làm tổn hại đến sự hoàn chỉnh và thống nhất của nhân vật” [17] . Việc Đổng Văn Thành vừa thừa nhận vừa phủ định giá trị trữ tình ngoại đề của tác phẩm Nguyễn Du chúng tôi sẽ bàn ở phần dưới. Chỉ xin nói rằng trữ tình ngoại đề là sở trường của tác giả Truyện Kiều mà ông Đổng Văn Thành chắc chưa thể nắm hết các thủ pháp độc đáo của nhà thơ bằng người am tường Việt ngữ, chẳng hạn trữ tình theo dòng hồi tưởng của nhân vật, cũng bấy nhiêu nỗi niềm nhớ cha nhớ mẹ nhớ người tình cũ mà mỗi lần là một Thúy Kiều ngổn ngang trăm mối tơ lòng hiện lên trước mắt ta không chút lặp lại; trữ tình thông qua âm thanh của tiếng đàn, cũng chừng ấy tiếng tơ tiếng trúc mà mỗi lần Kiều gảy lại một lần hiện diện một thế giới kỳ lạ chất chứa bên trong tâm hồn nàng, ám ảnh mãi người xem; trữ tình gói trong lời bình xen vào trần thuật, mỗi lần là một chân lý sống hiển nhiên dội vào tâm trí khiến người ta sửng sốt, có giá trị kéo nhân vật về với hiện tại trước mắt... Tuy nhiên, trữ tình ngoại đề chỉ mới là một phương diện đặc sắc của Truyện Kiều. Chất thơ trong Truyện Kiều còn biểu hiện ở hai phương diện khác, nó làm nổi rõ sự khác nhau về đẳng cấp của Truyện Kiều so với Kim Vân Kiều truyện: đó là Truyện Kiều đã đem thiên nhiên vào tác phẩm, tạo nên một không gian nghệ thuật kỳ thú cho câu chuyện của mình, trong khi Kim Vân Kiều truyện hoàn toàn vắng mặt thiên nhiên, và thứ hai là lời thơ Nguyễn Du làm cho ngôn từ trần thuật lung linh màu sắc, trở nên có nhiều tầng nghĩa, nghĩa bề ngoài và nghĩa bên trong, nghĩa nổi và nghĩa chìm, nghĩa siêu hình và nghĩa hiện thực, mặt khác có giá trị gắn kết mọi trạng thái cảm xúc phức hợp trong tâm hồn nhân vật lại, đưa lại cho người đọc những cảm nhận nhiều chiều nhiều vẻ. Đó là điều văn xuôi Kim Vân Kiều truyện không có được.


Với việc khắc họa thiên nhiên, Nguyễn Du không phải chỉ xây dựng một bức tranh phong cảnh. Ông có tâm hồn của một người từng tắm mình trong nguồn suối thi vị của cảnh trí thơ Đường để chuyển tải nó vào sáng tạo của riêng mình. Mặc dầu thế, vẻ đẹp thơ mộng của Đường thi chỉ chiếm một phần trong cái nhìn thiên nhiên của ông. Phần lớn hơn, ông tái tạo một thiên nhiên thứ hai, được cá thể hóa, gắn vào đó tâm trạng của nhân vật, biến đổi theo nhân vật, mỗi nơi một khác, làm nên không gian trữ tình để từ trong đó nhân vật có một chiều kích mới mẻ và khiến cho nhân vật gần lại với chúng ta, như đang giao tiếp với chúng ta, dắt chúng ta bước vào khung cảnh của câu chuyện lúc nào không hay. Thiên nhiên ở đây là chủ thể thứ ba làm cầu nối giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận. Đó chính là thiên nhiên của tiểu thuyết, không phải loại tiểu thuyết cổ mượn phong cảnh như một công thức sáo mòn để đưa đẩy, chuyển đoạn cho câu chuyện kể, mà là tiểu thuyết với nghĩa hôm nay. Nếu nhìn tổng quát, ngoại trừ rất nhiều trường hợp Nguyễn Du lồng thiên nhiên vào chỉ bằng một hai câu thơ ngắn nhưng cũng đủ hoán cải nội dung câu chuyện so với Kim Vân Kiều truyện, như hình ảnh “Vầng trăng vằng vặc giữa trời/Đinh ninh đôi miệng một lời song song” trong đêm thề nguyền giữa Thúy Kiều và Kim Trọng để cho mối tình đôi lứa có thêm một nhân vật chứng giám (Kim Vân Kiều truyện chỉ viết: “Hai người cùng lạy trời đất, đọc rõ bài minh thệ, đọc xong mời nhau chén tạc chén thù rất là vui vẻ 兩 人 同 拜 天 地 。讀 了 盟 章 。盟 畢 然 後 傳 斝 飛 觴 。甚 覺 快 樂), hay hình ảnh “Đêm khuya khắc lậu canh tàn/Gió cây trút lá trăng ngàn ngậm gương/Lối mòn cỏ lợt màu sương/Lòng quê đi một bước đường một đau” trong cái đêm Sở Khanh lừa Kiều đi trốn khỏi lầu Ngưng Bích, mở ra con đường hun hút vô vọng trên từng bước chân của Thúy Kiều trong cuộc trốn chạy (Kim Vân Kiều truyện chỉ viết: “Lúc bấy giờ vào khoảng tháng chín, trong kỳ sương giáng, cảm thấy hơi lạnh rợn người, lại không có trăng, cảnh vật thật là thê thảm 此 時 九 月 。天 氣 霜 降 之 候 。便 覺 寒 氣 侵 人 。又 無 月 色 。好 生 凄 慘) v.v... mà ta không thể đếm xuể, thì ít nhất có 9 trường đoạn Nguyễn Du lồng rất đậm thiên nhiên vào trong Truyện KiềuKim Vân Kiều truyện hoàn toàn không thấy: đoạn chị em Kiều đi thanh minh, đoạn Thúy Kiều sau khi đi thanh minh trở về giữa đêm khuya ngồi trước hiên lầu nghĩ ngợi, đoạn Kim Trọng bị tiếng sét tình yêu thúc đẩy phải tìm trở lại nơi lần đầu gặp gỡ cho khuây bớt nhớ nhung, đoạn đường Mã Giám Sinh đưa Kiều về Lâm Truy, đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích [18] , đoạn Thúc Sinh từ biệt Kiều về thăm Hoạn Thư, đoạn Kiều trốn khỏi Quan Âm các, đoạn Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, đoạn Kim Trọng trở lại vườn Thúy. Ở đây chỉ xin so sánh một trường hợp để thấy chỗ khác nhau về bút lực giữa Nguyễn Du và Thanh Tâm Tài Nhân:

Ngay mở đầu thiên truyện, trong cuộc du xuân của chị em Thúy Kiều, gặp mộ Đạm Tiên và gặp Kim Trọng, Thanh Tâm Tài Nhân chép rất kỹ việc Kiều đề thơ trước mộ nàng ca kỹ, việc Đạm Tiên hiển linh thành ngọn gió Tây u ám làm mọi người hoảng sợ và nỗi cảm thương của Thúy Kiều đối với con người hồng nhan bạc phận, việc Kim Trọng nhìn thấy hai chị em Thúy Kiều xinh đẹp liền tơ tưởng ngay đến chuyện làm sao lấy cho được cả hai... Nhưng đáng tiếc, bối cảnh của những cuộc gặp gỡ ấy, vốn đóng vai trò then chốt chi phối hai phương diện tình yêu và vận mệnh của nàng Kiều về sau, ông lại hoàn toàn bỏ qua, chỉ chép có mấy dòng vắn tắt: “Một hôm nhằm tiết thanh minh, cả nhà họ Vương cùng đi tảo mộ, rồi luôn dịp dự hội đạp thanh. Thúy Kiều cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân thong thả dạo chơi đây đó. Bỗng đi đến bờ suối, thấy một ngôi mộ đơn độc, bèn hỏi Vương Quan rằng [...] Thúy Kiều vạch bài thơ xong, hãy còn nấn ná chưa ra về, bỗng thấy một chàng thư sinh cưỡi ngựa từ xa đi đến. Vương Quan nhận ra là người bạn đồng song chí thiết Kim Trọng, nhưng không ngờ anh chàng lại chủ ý tìm tới đây nên vội nói với Thúy Kiều: “Có anh Kim đến, hãy tạm lánh đi”. Thúy Kiều thoạt nghe, ngước mắt nhìn, thấy Kim Trọng vẻ người hào hoa, phong lưu thích thảng, đang giong ngựa tiến đến, liền cùng Thúy Vân lảng qua phía sau mộ. Kim Trọng tới trước mộ, xuống ngựa chào Vương Quan...[19] . Đơn giản thế thôi. Trong khi đó, bằng linh cảm của một nghệ sĩ lớn, Nguyễn Du có lẽ đã nhận thức dược tầm vóc của trường đoạn thanh minh nó khởi đầu mọi nút thắt cho toàn bộ tấn bi kịch bằng thơ của mình. Vì thế ông đã chủ tâm dựng lên cả một không gian rộng lớn, vừa hư vừa thực, để làm môi giới cho những mặt ẩn kín trong tính cách con người Thúy Kiều có dịp phát lộ: một con người rất đa cảm, trong một thời khắc đặc biệt và trước cái đẹp của tạo vật đang hồi sinh mơn mởn, nàng bất thần được chạm trán cùng một lúc với thần số mệnh và với hạnh phúc rợn ngợp của mối tình đầu:

Câu 39
Ngày xuân con én đưa thoi,
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Thanh minh trong tiết tháng ba,
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh.
Gần xa nô nức yến oanh,
Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.
Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước áo quần như nêm.
Ngổn ngang gò đống kéo lên,
Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay.
Tà tà bóng ngả về tây,
Chị em thong thả dan tay ra về.
Bước lần theo ngọn tiểu khê,
Nhìn xem phong cảnh có bề thanh thanh.
Nao nao dòng nước uốn quanh,
Dịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang.
Sè sè nắm đất bên đường,
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh [...]
Câu 133
Dùng dằng nửa ở nửa về,
Nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần.
Trông chừng thấy một văn nhân,
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.
Đề huề lưng túi gió trăng,
Sau lưng theo một vài thằng con con.
Tuyết in sắc ngựa câu giòn,
Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời.
Nẻo xa mới tỏ mặt người,
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Chàng Vương quen mặt ra chào,
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa [...]
Câu 163
Người quốc sắc kẻ thiên tài,
Tình trong như đã mặt ngoài còn e.
Chập chờn cơn tỉnh cơn mê,
Rốn ngồi chẳng tiện dứt về chỉn khôn.
Bóng tà như giục cơn buồn,
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo.
Dưới cầu nước chảy trong veo,
Câu 170
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Có thể nói, theo dõi cả 9 trường đoạn có sự tham gia tích cực của thiên nhiên trong Truyện Kiều và tất nhiên hoàn toàn vắng mặt thiên nhiên trong Kim Vân Kiều truyện, ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, Thanh Tâm Tài Nhân là nhà văn chỉ dàn dựng con người và sự việc theo thời gian tuyến tính, còn Nguyễn Du đã dàn dựng nhân vật và sự kiện trong phối cảnh nghệ thuật sống động với cả không gian và thời gian, đan chéo giữa không gian và thời gian hiện thực với không gian và thời gian tâm lý, giữa không gian và thời gian vũ trụ với không gian và thời gian tâm linh.

Còn về những câu thơ Kiều có khả năng tạo nên âm hưởng đa thanh so với Kim Vân Kiều truyện thì khó lòng nói hết, dường như nhặt ở đâu cũng có. Có khi là những câu thơ giúp ta lật đi lật lại nhiều góc cạnh của vô vàn trải nghiệm về cuộc sống - nội dung những câu này không hề có trong Kim Vân Kiều truyện:

Câu 217
Một mình lưỡng lự canh chầy,
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh
Câu 247
Sầu đong, càng lắc càng đầy,
Ba thu dồn lại, một ngày dài ghê
Câu 443
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao
Câu 1147
Thân lươn bao quản lấm đầu,
Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa
Câu 1197
Dẫu sao bình đã vỡ rồi,
Lấy thân mà trả nợ đời cho xong
Câu 1515
Thương nhau xin nhớ lời nhau,
Năm chầy cũng chẳng đi đâu mà chầy
Câu 1547
Lo gì việc ấy mà lo,
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu
Câu 1975
Dẫu rằng sông cạn đá mòn,
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ
Câu 2151
Chém cha cái số hoa đào,
Cởi ra rồi lại buộc vào như chơi
Câu 2155
Tiếc thay nước đã đánh phèn,
Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần.
Hồng quân với khách hồng quần,
Đã xoay đến thế còn vần chưa tha
Câu 2163
Biết thân chạy chẳng khỏi trời,
Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh

v.v...
Có khi nhà thơ phù phép vào vần thơ đều đều lục bát, biến chúng thành những câu thơ điệp thanh, điệp chữ, thay đổi cách ngắt nhịp, gieo vần, phối hợp với những hình ảnh liên kết hoặc đối lập, đối ứng, có giá trị tu từ rất đắt, tạo nên âm hưởng trùng điệp, dồn dập, nhấn nhá, buông lửng, kéo dài... hằn rõ hơn, mở rộng hơn, hoặc gây ấn tượng đột ngột về những điều mình muốn gửi gắm trong tâm tư người đọc:
Câu 221
Nỗi riêng/lớp lớp sóng dồi,
Nghĩ đòi cơn/lại sụt sùi đòi cơn
Câu 451
Tóc tơ/căn vặn tấc lòng,
Trăm năm/tạc một chữ đồng/đến xương.
Chén /sánh giọng quỳnh tương,
Giải hương lộn/bình gương bóng lồng
Câu 481
Trong/như tiếng hạc bay qua,
Đục/như tiếng suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan/như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập/như trời đổ mưa.
Ngọn đèn/khi tỏ/khi mờ,
Khiến người ngồi đó/cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối/khi cúi đầu,
Khi chín khúc/khi chau đôi mày
Câu 557
Còn non/ còn nước/ còn dài
Còn về/còn nhớ/đến người hôm nay
Câu 585
Điều đâu bay buộc/ai làm,
Này/ai đan dậm/giật dàm/bỗng dưng
Câu 697
Phận dầu/dầu vậy/cũng dầu
Câu 701
Thề hoa/chưa ráo chén vàng,
Lỗi thề/thôi/đã phũ phàng/với hoa
Câu 851
Nỗi riêng/tầm tã tuôn mưa,
Phần/căm nỗi khách/phần/dơ nỗi mình
Câu 883
Khi về/bỏ vắng trong nhà,
Khi vào dùng dắng/khi ra vội vàng.
Khi ăn/khi nói/lỡ làng,
Khi thầy/khi tớ/xem thường xem khinh
Câu 923
Thoắt trông/nhờn nhợt màu da,
Ăn chi/cao lớn/đẫy đà làm sao
Câu 973
Lão kia giở bài bây,
Chẳng văng vào mặt/mà mày lại nghe
Câu 981
Thôi thì thôi/có tiếc gì,
Sẵn dao tay áo/tức thì giở ra
Câu 1053
Buồn/trông/gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm/tiếng sóng/kêu quanh ghế ngồi
Câu 1211
Chơi/cho liễu chán/hoa chê,
Cho lăn lóc đá/cho mê mẩn đời
Câu 1234
Khi tỉnh rượu/lúc tàn canh,
Giật mình/mình lại thương mình/xót xa.
Khi/sao phong gấm rủ là,
Giờ/sao tan tác/như hoa giữa đường.
Mặt/sao dày gió dạn sương,
Thân/sao bướm chán/ong chường/bấy thân.
Mặc/người mưa Sở/mây Tần,
Những mình/nào biết có xuân/là gì
Câu 1271
Đã cho lấy chữ hồng nhan,
Làm cho/cho hại/cho tàn/cho cân
Câu 1307
Dưới trăng/quyên đã gọi hè,
Đầu tường/lửa lựu lập lòe/đâm bông
Câu 1427
Phận đành/chi dám kêu oan,
Đào/hoen quẹn má/liễu/tan tác mày
Câu 1617
Làm cho/cho mệt/cho mê,
Làm cho/đau đớn ê chề/cho coi
Câu 1837
Bắt khoan/bắt nhặt/đến lời,
Bắt quỳ tận mặt/bắt mời tận tay
Câu 1875
Chước đâu/rẽ thúy chia uyên,
Ai/ra đường nấy/ai/nhìn được ai
Câu 1883
Một mình/âm ỉ/đêm chầy,
Đĩa dầu vơi/nước mắt đầy/năm canh
Câu 2269
Hỏa bài/tiền lộ ruổi mau,
Nam đình/nghe/động/trống chầu/đại/doanh
Câu 2579
Nghe càng đắm/ngắm càng say,
Lạ cho mặt sắt/cũng ngây vì tình” v.v...

Khi phân tích cách gieo vần thần tình giữa vần pace với vần sface, vần piena với vần pena trong những bài thơ tình tặng nàng Laure của nhà thơ nổi tiếng Phục hưng Italia Pétrarque (1304-1374), nhằm “làm sống dậy những nỗi thống khổ của tình yêu”, nó “gợi lên một sự trùng hợp ngược đời nơi trái tim của chàng tình nhân, giữa một niềm an lạc và một sự hủy diệt, một nỗi khổ đau và một trạng thái sung mãn”, Michel Collot đã đi đến kết luận rằng “không thể nào tóm tắt, chú giải hoặc dịch ra ngôn ngữ khác một áng thơ mà không làm cho nó mất đi không những tính nhạc mà còn một phần ý nghĩa của áng thơ đó” [20] . Tiếc thay, điều Michel Collot cảnh báo lại rơi đúng vào trường hợp ông Đổng Văn Thành. Ông đã ba lần “đánh mất” chứ không phải một: dựa vào một bản dịch mà mình không nắm chắc được sai đúng, đấy là lần thứ nhất, sử dụng phương pháp tóm tắt thơ Kiều để định vị Truyện Kiều, thêm một lần “đánh mất” thứ hai, không chú ý đến sức lan tỏa của tiếng nói âm nhạc dồn nén trong lời thơ đưa đến những hiệu quả thẩm mỹ ngoài ngôn ngữ, đấy là lần “đánh mất” thứ ba.


© 2005 talawas


[1]Xin xem: a. Phạm Tú Châu. Đọc “Truyện Kiều” bản dịch Trung văn. Văn nghệ số 44, 1990; b. Phạm Tú Châu. Sóng gió bất kỳ từ một bản dịch; Tạp chí Văn học nước ngoài, số 5-1997. In lại trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”. Nxb. Giáo dục, 2005; c. Hoàng Văn Lâu. Cũng là một kiểu “so sánh văn học”. Tạp chí Hán Nôm, số 3-1998. In lại trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”. Sđd; d. Nguyễn Khắc Phi. Nhân đọc bài “Kim Vân Kiều truyện” của Đổng Văn Thành. In trong Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc qua cái nhìn so sánh. Nxb. Giáo dục, 2001. In lại trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”. Sđd; đ. Trần Ích Nguyên. Nghiên cứu so sánh “Kim Vân Kiều truyện” của Trung Quốc, Việt Nam và tranh luận. In trong Vương Thúy Kiều cố sự nghiên cứu. Lý Nhân thư cục, Đài Bắc, 2001. Được Phạm Tú Châu dịch ra tiếng Việt dưới nhan đề Nghiên cứu câu chuyện Vương Thúy Kiều. Nxb. Lao động, Hà Nội, 2004. In lại trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”. Sđd.
[2]Chẳng hạn luận văn Thạc sĩ của Vương Thiên Nghi ở Sở Nghiên cứu văn học Trung Quốc thuộc Trường Đại học Đông Hải, Đài Loan, 1988. Chuyển dẫn theo Trần Ích Nguyên trong bài đã dẫn.
[3]Nhân dân văn học xuất bản xã xuất bản, Bắc Kinh, 1959. Cần nói thêm rằng bản dịch này tuy có nhiều mặt chưa đạt đến chỗ tinh thâm của nguyên tác, nhưng tấm lòng trân trọng nguyên tác của người dịch, muốn giới thiệu cho nhân dân Trung Quốc một áng văn “cực kỳ vi diệu khúc chiết” mà mình cảm thấy bất lực trong việc chuyển ngữ là điều thấy rõ và đáng được ghi nhận.
[4]Xem Phạm Đan Quế. Truyện Kiều đối chiếu; Nxb. Hà Nội, 1991.
[5]Xem Nguyễn Thạch Giang, Triệu Ngọc Lan, Lô Úy Thu. Một số nhận xét về “Kim Vân Kiều truyện” với “Đoạn trường tân thanh”. Sông Hương, số 2-1994.
[6]Xem Nguyễn Khắc Phi. Nhân đọc bài “Kim Vân Kiều truyện” của Đổng Văn Thành. In trong Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc qua cái nhìn so sánh. Bài đã dẫn; tr. 1578.
[7]Bài Đổng Văn Thành đã dẫn. Chuyển dẫn theo bản dịch của Phạm Tú Châu trong 200 năm nghiên cứu bàn luận “Truyện Kiều”. Sđd; tr. 1544.
[8]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1548. Chúng tôi có đối chiếu với nguyên văn và chỉnh lý tí chút cho câu văn xác thiết hơn.
[9]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1552.
[10]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1552.
[11]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1553.
[12]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1564. Cần nói thêm, sách 200 năm nghiên cứu bàn luận Truyện Kiều đã in sai mục này và mục dưới nên đã biến thành hai mục d, đ của phần 2, trong khi lẽ ra đây là mục B và mục C tương ứng với mục A “Nguyễn Du đã in dấu ý thức chủ quan của mình...”.
[13]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1566.
[14]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1567.
[15]Xin xem Oswald Ducrot & Tzvetan Todorov. Dictionnaỉe encyclopédique des sciences du langages. Édition du Seuil, 1972; tr. 193. Nguyên văn: “Le problème des genres est l’un des plus anciens de la poétique” và “l’étude des genres doit se faire à partir des caractéristiques structurales”.
[16]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1570.
[17]Như trên, bản dịch của Phạm Tú Châu; tr. 1570.
[18]Chỉ riêng đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích này thì Kim Vân Kiều truyện có nói lướt qua về địa giới và có gửi gắm hình ảnh thiên nhiên trong một bài thơ: “Ngôi lầu này, từ phía Đông trông ra biển xanh, phía Bắc nhìn lên kinh kỳ, phía Nam ngó lại Kim Lăng, phía Tây trông ra dãy núi Kỳ Sơn 此 樓 東 望 滄 海 。北 望 京 畿 。 南 望 金 陵。 西 望 岐 山”; “Đề xong [mấy câu ca] lại thấy nước mới đầy khe, cỏ gò vương khói, tiếng triều rào rạt, cánh buồm thấp thoáng, nàng lại nghĩ thành một bài thơ luật rằng: Bên song nước suối thoảng mùi hoa/Sương khói mung lung ngọn núi xa/gần biển, triều dâng bờ đá ướt/Cách thành, buồm ngả bóng chiều tà/Gió nâng vóc liễu trên từng gác/Sóng giục người đi biệt đất nhà/Việc cũ can chi mà nhỏ lệ/Đốt lò nhắp thử vị hương trà 題 畢。又 見 新 水 漫 溪。阜 草 拕 嵐 。潮 聲 嘘 坐。帆 影 拂闌。又 成 一 律 詩 曰 。入 窗 新 水 漫 溪 花 。阜 草 拕 嵐 四 望 賒 。近 海 潮 聲 嘘 坐 濕 。隔 城 帆 影 拂 闌斜 。風 扶 瘦 我 輕 登 閣。浪 逐 征 人 倒 印 沙 。往 事 不 堪 頻 淚 落 。甌 香 慢 煮 兩 前 茶 ”. Những trích dẫn Kim Vân Kiều truyện trong bài này chúng tôi theo bản dịch của Nguyễn Đức Vân và Nguyễn Khắc Hanh. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999. Trong khi trích có đối chiếu với nguyên văn in cuối bản dịch của Tô Nam Nguyễn Đình Diệm; Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa thuộc Nha Văn hóa Việt Nam cộng hòa xuất bản, Sài Gòn, 1971, và chỉnh sửa câu chữ bản dịch ở những chỗ thấy cần thiết. Trích dẫn nguyên văn cũng rút từ bản in Tô Nam Nguyễn Đình Diệm.
[19]Nguyên văn: “ 一 日 清 明 。王 氏 合 家 掃 墓 。就 借 此 踏 青 。翠 翹 同 弟 王 觀 。妹 翠 雲 。各 處 閒 行 。忽 行 到 溪 邊 。看 見 一 座 孤 塚。 因 對 王 觀 道 ... 翠 翹 刺 畢 。尚 流 連 不 舍 。忽 見 一 書 生 騎 馬 遠 遠 而 來 。王 觀 認 得 是 同 窗 契 友 金 重 。不 知 他 有 意 跟 尋 到 此 。忙 對 翠 翹 道 。金 家 哥 哥 來 了 。快 些 回 避 。翠 翹 聽 了。抬 眼 看 見 金 重 風 流 倜 儻 。雅 致 蹁躚 。乘 馬 而 來 。因 與 翠 雲 歛 迹 墓 後 。金 生 走 到 墓 前 下 馬 見 王 觀 ...”.
[20]Xem Encyclopedia Universalis. Version 10, 2005, mục “Poésie”. Nguyên văn: “Lorsque, pour évoquer les tourments de l'amour, Pétrarque fait rimer pace avec sface, piena avec pena, il suggère la coïncidence paradoxale, au cœur de l'amant, d'une paix et d'une destruction, d'une peine et d'une plénitude. Il n'est donc pas possible de résumer, de paraphraser ou de traduire un poème sans lui faire perdre non seulement sa musicalité, mais une part de sa signification”.

Nguồn: Tham luận chuẩn bị cho Hội thảo kỷ niệm 240 năm sinh Nguyễn Du do Viện Văn hoá Thông tin tổ chức ngày 1.12.2005 tại Hà Nội, nhưng không được đọc tại Hội thảo.