© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị Việt Nam
Loạt bài: Bầu cử Quốc hội khoá XII
 1   2   3   4   5 
27.2.2007
Nguyễn Hữu Vinh
Người tài như lá mùa thu
 
Đó là mối lo ngày càng tăng cho Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam. Không khí hồ hởi sôi động của cuộc "ra biển lớn" (gia nhập WTO, tổ chức hội nghị APEC) có thể làm người ta dễ quên đi một điều rất hệ trọng rằng Quốc hội khóa 11 sắp mãn nhiệm, chắc chắn có không ít trong số rất ít đại biểu được dân đánh giá cao, coi như những người tài, nhưng lại được "cơ cấu" là phải nghỉ, mà những gánh nặng nhiệm vụ và những "món nợ" với dân thì cứ chồng chất bội phần. Nhưng tại sao lại phải lo chuyện thiếu người tài cho Quốc hội đến vậy? Xin được có đôi lời lý giải.

Một điều dễ nhận thấy qua vai trò và hoạt động của Quốc hội là chức năng nhiệm vụ trong Luật Tổ chức Quốc hội gần như không thay đổi trong suốt khoảng nửa thế kỷ qua (từ các Luật 1960, 1981, 1992, 2002), song trên thực tế khối lượng công việc lại tăng lên với một gia tốc khủng khiếp trong mấy năm nay. Cái gánh nặng đó lại chủ yếu nằm trong hai nhiệm vụ quan trọng nhất của Quốc hội là lập pháp và giám sát hoạt động của nhà nước. Gánh nặng lập pháp gia tăng rất lớn, đơn giản bởi yêu cầu phải có một nhà nước pháp quyền thực sự và một xã hội mở, hội nhập với thế giới bên ngoài (đặc biệt cho việc gia nhập WTO), không còn trong cảnh khép kín với "phe XHCN" nữa. Gánh nặng giám sát là từ yêu cầu bức thiết và tất yếu của nhân dân ngày càng phải được nhìn nhận nghiêm túc hơn, không thể cứ mãi là khẩu hiệu, mà Quốc hội là đại biểu cao nhất, cần đi đầu để đảm nhận gánh vác. Nó còn được đẩy nhanh lên nhờ "đổi mới", "mở cửa", chuyển sang nền kinh tế thị trường, và "nhờ" cả tệ nạn tham nhũng tràn lan như bệnh ung thư trong mọi cấp chính quyền, cần phải có con mắt giám sát, dù sao cũng khách quan hơn, của Quốc hội.


1. Khái niệm về người tài cho Quốc hội: Ở đây không phải là một cái "tài" thuần tuý về chuyên môn nghề nghiệp nào đó đang đảm nhiệm. Cái “tài” của một đại biểu của dân, một nhà lập pháp trước hết phải là có năng lực làm luật thực sự đồng thời với khả năng nói lên tiếng nói và bảo vệ quyền lợi của dân chúng. Đơn cử là một vị bộ trưởng giỏi, nếu bằng tiêu chuẩn khắt khe thì chưa chắc đã xứng đáng là một đại biểu Quốc hội, vì vị đó có thể chỉ giỏi về hành pháp, lại thường chuyên sâu trong lĩnh vực của mình mà thôi. Nhưng nếu có năng lực mà không có điều kiện thì cũng vẫn không thể thành người tài được. Điều kiện ở đây phải là điều kiện để làm việc cho Quốc hội, cho nhân dân trong vị trí đại biểu Quốc hội, nghĩa là toàn tâm, toàn ý dành hết thời gian tâm sức cho công việc này, được tôn trọng và tạo mọi điều kiện; chứ không phải theo lối chân trong chân ngoài, vừa đá bóng vừa thổi còi, hay đơn thương độc mã, một cổ mấy tròng v.v. Ở đây còn có cả mối quan hệ tương hỗ nữa, đó là một khi có điều kiện thì đương nhiên cái năng lực của vị đại biểu sẽ được nâng lên ít nhiều. Cũng lại đơn cử vị bộ trưởng, nếu còn giỏi cả làm luật thì cũng vẫn vô cùng khó có thể là một đại biểu Quốc hội tài, vì điều dễ thấy nhất là vị đó làm sao có thời gian đáng kể dành cho Quốc hội được. Còn nếu quả đúng vị đó có được cả hai cái giỏi và tài này thì dám chắc phải gọi đó như là một thiên tài rồi; còn nếu có thêm được cái đức công minh để vừa "đá bóng" mà vẫn "thổi còi" phạt nghiêm minh khi mình phạm luật (bằng chức năng giám sát) thì vị đó không chừng còn đáng được coi như thiên thần nữa. Đây chính là một phần của yếu tố thứ ba để trở thành người tài cho Quốc hội, tức là phẩm chất.


2. Thực tế đang có một Quốc hội mà đảng viên (Đảng Cộng sản Việt Nam) chiếm đến 90% (đại diện cho 80 triệu dân hay cho 3 triệu đảng viên?), 75% không chuyên trách (mà phần lớn là cán bộ cao cấp dưới nhiều dạng khác nhau, đặc biệt trong số đó thành phần áp đảo là các vị lãnh đạo chính quyền, Đảng, đoàn thể của Đảng), lại không có bộ máy giúp việc riêng cho mỗi vị đại biểu trong khi điều kiện làm việc, tiếp cận thông tin đều rất hạn chế. Vậy mà họ đã phải gồng mình thông qua tới mươi luật trong mỗi kỳ họp (mà hết năm 2006 vẫn "nợ" 14 dự luật, 10 dự án pháp lệnh), trong khi các dự luật đều do các cơ quan của Chính phủ dự thảo (chỉ mới có một dự luật do cơ quan của Quốc hội dự thảo - Luật giao dịch điện tử, và sắp có thêm một nữa - Luật phòng chống bạo lực gia đình), chất lượng không tỉ lệ thuận với số lượng luật ra đời và quy chế thực thi không nghiêm đến độ một phần, vì thế mà có tới 135 nghị định của Chính phủ cũng đang "nợ" (nghĩa là luật ra rồi mà chưa thực hiện được). Ấy thế mà cũng mới chỉ có được 200 trong tổng số khoảng 800 luật cần có. Và vân vân những hiện tượng không thể kể hết nếu như có điều kiện để đi sâu tìm hiểu, như nhiều vị đại biểu chẳng thấy phát biểu ý kiến tại hội trường bao giờ, ngược lại, nhiều vị phát biểu hăng, nhiều, hợp lòng dân quá thì cũng bị "lườm nguýt" (điển hình như bà phó đoàn đại biểu Quốc hội Kiên Giang nhiều lần chất vấn, tự đi tìm hiểu về ông thống đốc Ngân hàng Nhà nước quanh chuyện in tiền, mua rẻ nhà công, để rồi bị ông Bí thư Tỉnh uỷ "nhắc nhở", chẳng hạn).

Những hiện tượng đó minh chứng một thực tế là hiện Quốc hội đang thiếu những người tài, theo như khái niệm vừa nêu trên.


3. Nỗi lo sắp tới không phải chỉ ở cái thực tế trên, mà còn nhiều nữa những điều kiện để Quốc hội tự "tăng lực" cho mình, "gieo mầm" cho các nhân tài mới, nhưng đáng tiếc lại đang tự (?) bó tay mình. Đó là:


Thêm nữa, trong Luật cũng hoàn toàn không có một quy định gì cụ thể về tiêu chuẩn đại biểu, ngoài những tiêu chuẩn rất chung chung như "trung thành", "phẩm chất đạo đức tốt"... hay như tiêu chuẩn "có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội" thì thực sự là "vô cực", nghĩa là tham gia một ngày họp cũng có thể gọi là "có điều kiện" được. Nhưng mục tiêu đặt ra cho Quốc hội khóa 12 là phải có số đại biểu chuyên trách ít nhất là 40% (nhưng mới đây đã được "chốt" lại là gần 30%). Nên sẽ là phi thực tế, thậm chí tạo hiệu quả ngược nếu như không có những bước chuẩn bị bổ trợ bằng sửa đổi hệ thống luật pháp như nêu trên. Ví dụ: phải có điều luật quy định nếu trúng cử thì vị đại biểu đó phải chấm dứt công việc hiện đang nắm giữ để dành hết thời gian cho Quốc hội.

Một điểm đáng chú ý nữa là việc chưa thông qua sửa đổi hai Luật này cùng với Luật tổ chức Chính phủ lại là theo đề nghị của Chính phủ chứ hoàn toàn không phải do chính ý kiến của đa số đại biểu Quốc hội. Trong khi đó thì một điều hiển nhiên rất dễ nhận thấy là chỉ bằng con đường nâng cao năng lực và vị thế của Quốc hội thì mới có thể vừa tự trả được "nợ", đồng thời giúp Chính phủ trả món "nợ" chồng chất hàng trăm văn bản luật, dưới luật, bằng cách sửa lại hàng loạt luật mới được thông qua vội vã nên quá sơ sài, để nhanh chóng chấm dứt tình trạng dùng nghị định, thông tư để "giải thích luật" (rất dễ trở thành vật cản cho việc thi hành, và làm méo mó thêm luật).
Thế mới thấy một khi những phương cách, nguyên tắc cho việc chọn giống, đến ươm mầm và chăm sóc để có ngày thu hoạch những người tài cho Quốc hội mà vẫn chưa làm được, thì thử hỏi làm sao có những con người thực bằng xương bằng thịt như lời hô hào.

© 2007 talawas