© www.talawas.org     |     về trang chính
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
8.5.2007
Bình Nguyên Lộc
Lột trần Việt ngữ
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13 
 
Chương XIII - Yếu tố Mê-na-lê trong Việt ngữ

Khi Lạc bộ Trãi di cư đến V.N. thì họ chưa biết nông nghiệp, theo tiền sử học.

Nhưng theo nhơn chứng là Lạc bộ Mã (nhóm Mường) di cư đến sau bọn Trãi 2500 năm thì nhơn chứng đó đã thấy Trãi có vua chúa, tức đã giỏi nông nghiệp, và bọn đó đành thần phục bọn vua chúa ấy (Hùng Vương). Tiền sử học cho biết rằng Lạc bộ Mã đã biết nông nghiệp hồi còn ở bên Tàu, mà vua Hùng Vương không mất nước thì hẳn vua Hùng Vương phải đã tiến lên giỏi hơn bọn đến sau (vào năm 500 T.K)

Thế thì bọn Trãi đã tự lực tiến lên nông nghiệp tại Việt Nam, và dĩ nhiên là họ sáng tác danh từ. Tuy nhiên, không phải là họ sáng tác tất cả mọi danh từ, mà họ có học với thổ dân. Thổ dân văn minh nhứt ở Đ. N. A. thuở ấy, là chủng Mê-la-nê. Nhưng chủng đó, mãi cho đến ngày nay vẫn chưa tiến lên nông nghiệp.

Nhưng không vì thế mà họ không có danh từ để dạy ta học, vì vẫn có chuối rừng, bí rừng, bầu rừng.

Vậy làm thế nào để biết danh từ nào ta học của họ, danh từ mà ta sáng tác. Tưởng có thể biết được không tới 100%, nhưng vẫn biết được hơn 70%, bằng cách dựa vào sự kiện nầy là chủng Mê-la-nê rời rạc chớ không có thống nhứt. Chủng Mã Lai giỏi hơn, mà mãi cho đến ngày nay, ta vẫn nói khác hơn Sơ Đăng thì cách đây 5000 năm Mê-la-nê rất bời rời về ngôn ngữ. Thế thì những danh từ nào mà người Mạ ở Lâm Đồng lại nói giống Bắc Việt, thì chắc chắn đó là chủng tộc cùng nhau sáng tác.

Đừng nói chi là các món mới mà ngay cả thiên nhiên cũng bị gọi khác thì hẳn phải có ảnh hưởng của Mê-la-nê. Thí dụ chúng tôi thấy rằng về núi non, có ba hệ danh từ, cả ba đều là của Mã Lai:

PHU NÔNG { Đẻ ra đa số danh từ
GU NÔNG
NÚI, chỉ có Việt Nam với Sơ Đăng là có
NGÀN, chỉ có Việt Nam với Sơ Đăng là có

Nhưng người Chàm Ninh Thuận thì lại chỉ núi bằng danh từ CHỚK mà không tìm thấy cả ở vùng Đa Đảo nữa, thì hẳn đó là danh từ của Mê-la-nê ĐỊA PHƯƠNG, vì Đa Đảo xưa cũng do Mê-la-nê làm chủ mà họ không có thì tiếng Chớk phải là danh từ riêng của Mê-la-nê miền Trung Việt.

Ta thử tìm xem trong các thứ thổ sản, ta đã sáng tác thứ gì. Về tên loài cá nhiệt đới là 4 loại lóc, trê, rô, sặc, xem ra giống nhau cả, tức cùng nhau sáng tác tại chỗ, tuy mỗi nhóm mỗi học khác nhau chút ít nhưng thấy là biết rằng cùng nhau sáng tác, bởi nếu học của Mê-la-nê, thì Mạ không thể nói giống Bắc Việt được vì Mê-la-nê ở hai nơi đó nói khác nhau.

Về rau đậu, chúng tôi nhận thấy điều nầy lạ lắm là nhóm đầu dọc là nhóm Sơ Đăng gọi Bầu, Bí, Dưa gì cũng bằng danh từ PẤU hết.

Có lẽ đó là sáng tác đầu tiên của nhóm Trãi. Các nhóm khác, có địa bàn tương đối tốt hơn, nên tương đối văn minh hơn, mới có phân biệt về sau.

Họ phân biệt bằng cách nào? Dưa thì không nấu, ăn vẫn được, còn bầu bí, phải nấu.

Vậy PẤU có thể đẻ ra BẦU và BÍ và các danh từ của các nhóm khác như Bol, Buôn, v.v. nhưng ta chỉ nói đến ta ở đây mà thôi.

Chữ BÀO và cả chữ HỒ LÔ của Tàu, xem ra là chữ phiên âm, chớ không phải tiếng nguyên thủy, vậy không có vấn đề vua Hùng Vương chưa biết Bầu, đợi Mã Viện tới, ta mới học Bào của Tàu. Xem ra thì cái gì Tàu cũng học của ta cả. Thí dụ ta và Thượng Việt gọi MÍT là TRÁI MÍT và hồi xưa, ta gọi là B’LÁI MÍT mà Tàu thì là BA LA MẬT. Thế thì BA LA MẬT là phiên âm B’ LÁI MÍT chắc một trăm phần trăm. CHUỐI cũng thế, DỪA cũng vậy v.v.

Nhưng PẤU không thể đẻ ra DƯA. Một sự lạ hiện ra nữa, là người Sơ Đăng gọi tất cả là PẤU chỉ trừ bí đỏ (bí ngô) thì họ gọi là TUA là TƯA. Có lẽ rồi chủng tộc chỉ lấy TUA, TƯA để gán cho DƯA, thuộc loại khác.

Về việc sáng tác danh từ, xem ra thì các dân tộc không cần nhọc xác cho lắm, cứ gán ghép bậy bạ cho có mà thôi. Thí dụ trong tiếng Anh thì họ chỉ thêm danh từ NƯỚC và trái MELON, là nó hóa ra DƯA HẤU, mặc dầu hai thứ đó khác nhau một trời một vực. Trái Melon, bề ngoài mường tượng như bí ngô, thịt lại giống đu đủ, chẳng dính líu gì đến dưa hấu hết.

Sẽ có bạn cho rằng chúng tôi chỉ suy luận để đoán mò. Nhưng thật ra đã có người làm như thế, đó là Ăng lê đã biến Melon thành Dưa hấu bằng cách thêm tiếng NƯỚC vào.

Vậy PẤU của Sơ Đăng biến thành BẦU và BÍ của ta.
TUA, TƯA của Sơ Đăng biến thành DƯA của ta.

Có DƯA rồi thì lại phải sáng tác nữa vì nó lu bù thứ dưa. Nhưng ông tổ Sơ Đăng đã gọi DƯA HẤU là PẤU thì ta cũng cứ gọi trái đó là TƯA PẤU cho xong, rồi thì TƯA PẤU biến hóa thành DƯA HẤU.

Thuở bé chúng tôi đọc tiểu thuyết Quả dưa đỏ, và không nhớ tác giả hay ông thầy của chúng tôi giải thích rằng Dưa Hấu, do DƯA HẢO tức DƯA NGON của Tàu mà ra. Nhưng giờ xét lại thì không thể có. Câu chuyện xảy ra dưới thời Hùng Vương mà dân ở Quảng Đông chưa bị nhà Tần đánh chiếm, thì ta làm thế nào để biết tĩnh từ HẢO của Tàu. Mà Tàu gọi Dưa Hấu là Dưa Tây chớ không bao giờ gọi là Dưa Hảo.

Vậy DƯA HẤU do TƯA PẤU đẻ ra thì hữu lý hơn, mặc dầu theo ngôn ngữ Sơ Đăng thì TƯA PẤU có nghĩa là BÍ NGÔ DƯA, còn theo Việt ngữ cổ thì DƯA HẤU có nghĩa là DƯA DƯA, tức hơi kỳ kỳ, nhưng có kỳ thế nào cũng chỉ kỳ như Melon + Nước = Dưa hấu của Ăng lê là cùng.

Vấn đề Bầu, Bí, Dưa đã được giải quyết. Nhưng PẤU không thể đẻ ra được Mướp. Nhưng bọn Lạc bộ Mã đến sau, gọi Mướp là TI MUN, TA MƯN, TI MĂN, tất cả đều có thể đẻ ra MƯỚP được hết.

Đó là sáng tác thuở ban đầu từ 5000 đến 2500 năm nay.

Sáng tác về sau thì lại khác nữa, vì lại có nhiều thứ bí. Bí đỏ, bị gọi là bí ngô khiến có nhiều người tưởng rằng là ở bên Ngô (bên Tàu) đưa sang. Nhưng Nhựt Bổn, Nam Dương và Ấn Độ đều gọi bí ngô là trái dưa Kocbuja, tức gốc nó ở Cao Miên, và bên Tàu không có Bí Ngô vào thời đó. Bí ngô thật đã làm cho ta bí.

Nhưng BÍ gọn lỏn, mà miền Nam và miền Trung gọi là BÍ ĐAO, thì rất dễ biết do đâu mà ra. Tự điển K.T.T.Đ định nghĩa rằng vì loại bí đó dài và quăn như lưỡi đao nên bị gọi là bí đao. Thật sự thì BÍ không bao giờ quăn cả. Hơn thế ta đã phải có danh từ trước khi ta bị Tàu chinh phục để ta học tiếng ĐAO với họ. Bí đao chỉ là tiếng Chàm. Họ gọi nó là Dak và DAK không hề có nghĩa là ĐAO. Đó là danh từ nguyên thỉ của họ để chỉ TRÁI BÍ, không có nghĩa nào khác hết. Họ gọi nó là BO DAK nghĩa là TRÁI DAK chớ họ không có danh từ BÍ.

Nhưng CHUỐI thì chắc chắn là ta học của chủng Mê-la-nê, ví các nhóm đều gọi khác hết.

Việt Nam:
Chuối
Chàm:
Patay
Thái:
Kluay
Mạ:
Prit

Không thể nối kết Kluay và Patay được vì không có cái khoen nối kết nào cả. Cũng không thể nối kết CHUỐI và KHUAY vì không có khoen nối kết.

Cây MÍA cũng bê bối lắm:

Sơ Đăng:
Kôtếo
Mạ:
Chao
Nam Dương:
Tơbu
Việt Nam:
Mía
Cao Miên:
Ompâu

Ta hiểu được sự kiện nầy dễ dàng. Chủng Mê-la-nê không biết nấu nướng nên không ăn bí, ăn bầu, ăn mướp gì hết, không có đặt tên, thành ra ta phải sáng tác, nên các nhóm đều giống nhau, còn chuối rừng, mía hoang thì ăn được nên họ có đặt tên, ta học với họ, hóa ra mỗi nhóm mỗi nói khác.

Trái DỪA cũng ở trong trường hợp đó. Tuy nhiên Việt Nam, Sơ Đăng và Mạ vẫn nói khá giống nhau, tức Trãi cùng sáng tác với Trãi, Chuy cùng sáng tác với Chuy, Mã cùng sáng tác với Mã, chớ không học của Mê-la-nê, mặc dầu Mê-la-nê có danh từ Dừa.

Ta và các nhóm khác còn học của Mê-la-nê nhiều thứ nữa chớ không phải chỉ có hai danh từ ấy. Nhưng Chương nầy không là tự vựng Mê-la-nê ngữ ở Việt Nam.

Riêng danh từ DỪA thì Chàm, Giarai và Rađê nói theo Nam Dương, nhưng có biến dạng, Cao Miên nói theo Dravidien Nam Ấn, còn Việt Nam, có lẽ chỉ biến DƯA thành DỪA, bởi đã bảo loài người sáng tác danh từ rất là lấy lệ, hai thứ đó khác nhau, nhưng họ mặc kệ.

Cũng nên biết rằng DƯA của ta lại cũng có nghĩa là LÉGUME. Bất kì thực vật nào ngâm nước muối cũng được gọi là Dưa hết, mà cơm của trái dừa thì đôi khi cũng được ăn như ăn Légume.

Ta cứ ngỡ Măng cụt là tiếng Mã Lai, nhưng không. Đó là tiếng Cao Miên và chắc đất đai Phù Nam xưa là nơi sản xuất loại trái đó nên ta và Thái Lan đều gọi theo Cao Miên, cả Chàm và vài nơi cũng gọi theo Cao Miên, và Măng cụt có lẽ là sáng tác riêng của Phù Nam, khi mà chỉ một mình họ có loại trái đó, thuở ban đầu ở Đ.N.A lục địa.

Mã Lai có danh từ Mang kok, nhưng nó chỉ vật dụng chớ không phải trái cây, còn măng cụt thì họ gọi khác.

Trầu thì toàn thể Đ.N.A LỤC ĐỊA và Nam Dương đều gọi như nhau, có lẽ là sáng tác tại chỗ và tập thể của Lạc bộ Trãi, Lạc bộ Mã tới sau, học với Lạc bộ Trãi.

Ta không biết Bí ngô tại sao lại bị gọi là bí ngô, nhưng ta biết Bắp tại sao được gọi là Lúa ngô. Người Chàm gọi Bắp là NGƠI, T’NGƠI. Ta bắt chước Chàm chớ xưa kia, Bắc Việt vẫn gọi là Bắp y hệt như Thái (POT) và Cao Miên (POT).


Phụ chú

CHUỐI, ta nói là CHUỐI, còn Quan Thoại thì nói là CHÉO thế thì ai học của ai?

I) Chuối không thể mọc ở xứ lạnh được.

II) Ngô Sĩ Liên, dựa vào sử Tàu, chép rằng Sĩ Nhiếp, dưới thời Tam Quốc, thường biếu xén chúa Ngô nên rất được tin dùng. Trong các của lạ Giao Chỉ, có CHUỐI và DỪA.

Vậy ai ham làm học trò của Tàu, cứ tin rằng ta biến CHÉO thành CHUỐI.

Một số nhà bác học Mỹ tin rằng Đ.N.A đã biết nông nghiệp 15.000 năm rồi, khiến trí thức V.N đã theo dõi nghiên cứu của họ, có ngộ nhận phần nào. Nên nhớ rằng các nhà tiền sử học không phải là sử gia. Họ chỉ tìm biết loài người ở một nơi nào đó, vào một thời nào đó, mà không cần biết con người ấy là ai.

Vậy nếu quả Đ.N.A đã biết nông nghiệp từ 15.000 năm thì đó là nông nghiệp của chủ đất trước khi chủng Mã Lai đến, tức của chủng Mê-la-nê, chớ không phải là tổ tiên ta đã có mặt ở đây từ 15.000 năm.

Tuy nhiên họ cũng chỉ có chứng tích cổ nhứt là 5.000 năm, phù hợp với thời điểm định cư của Lạc bộ Trãi và Lạc bộ Chuy ở Đông Nam Á. Thời điểm 15.000 năm chỉ là thời điểm ước đoán mà không có chứng tích.

Sự kiện chủng Mê-la-nê dạy Hoa tộc nông nghiệp cũng chỉ là sự ước đoán mà không có chứng tích nào hết, ngược lại còn có chứng tích “phản đề”, vì Hoa tộc trồng lúa mì hồi thượng cổ, tuyệt đối không biết lúa gạo, còn Đông Nam Á thì trồng lúa gạo, tuyệt đối không biết lúa mì.

Cách thức thuần hóa hai loại mễ cốc ấy khác hẳn nhau, dân trồng lúa gạo không thể dạy dân trồng lúa mì được và ngược lại.

Tóm lại, chưa có đủ chứng tích thật chính xác về văn minh của kẻ đi trước chủng Mã Lai, và cái gì cũng được giao lại ở thời điểm 5.000 năm là thời điểm định cư của hai thứ dân: Lạc bộ Trãi và Lạc bộ Chuy.

Tuy nhiên, trước Mỹ, Pháp cũng đã biết rằng Mê-la-nê ở Miến Điện, Đông Ấn Độ văn minh cao bằng bọn đến sau, nhưng ở V.N thì không. Mê-la-nê ở V.N kém hơn Mê-la-nê ở các nơi khác. Họ còn tồn tại giữa ta. Đó là phụ nữ Mường KHÔNG NHUỘM RĂNG ĐEN NHƯ ĐÀN ÔNG MƯỜNG, và thấp bé hơn đàn ông Mường. Họ giỏi giang y như phụ nữ ta, nhưng đồng bào của họ trên Trường Sơn thì không biết trồng trọt. Đó là bằng chứng họ đã học với Lạc bộ Trãi chớ không phải đã văn minh rồi khi Lạc bộ Trãi đến nơi.


Chương XIV - Sơ Đăng, một dân tộc đầu đàn

Chúng tôi tin rằng người Thượng Việt là gốc tổ của Lạc bộ Trãi và Thượng Nam Dương là gốc tổ của Lạc bộ Mã.

Đại danh từ Any đã cho thấy gốc tổ ấy ra sao và người MẠ đã giữ được. Nhưng chúng tôi có lưu ý quý vị rằng người Mạ không phải là đầu đàn, vì họ chỉ may mắn giữ được có một đại danh từ đó.

Chính người Sơ Đăng mới là đầu đàn, ít lắm cũng ở Đông Nam Á. Nhưng còn Nam Ấn và Trung Mỹ nữa, mà chúng tôi chưa kịp học ngôn ngữ cho nhiều. Đại Hàn ngữ, chúng tôi cũng chỉ mới bắt đầu học khi viết gần xong quyển sách này.


Tin Thượng Việt

Thượng Việt không có chịu ảnh hưởng ngoại lai, đời sống bình yên nên ít thay đổi và ít biến dạng danh từ.

Tại sao Đa Đảo cũng nói AKA mà chúng tôi chỉ xem Thượng Việt là gốc? Vì Đa Đảo ở biển, chịu quá nhiều ảnh hưởng ngoại lai. Ngày nay nhiều đảo, toàn dân là Tây lai, hoặc Tàu lai. Riêng Hạ-uy-di, thì có thể cho đó là một đảo Nhựt lai.

Tuy phong tục và ngôn ngữ ở Đa Đảo (Polynésie) cứ còn là phong tục và ngôn ngữ Mã Lai. Nhưng họ đã biến bậy quá nhiều rồi.

Danh từ Mã Lai được giữ nguyên vẹn rất lâu đời, nhưng trái lại cũng có một số danh từ bị biến đến không còn truy ra được nếu không học đủ ba bốn chục sinh ngữ Á Đông để tìm những cái khoen nối kết.

Nếu không có người Chàm Bình Tuy thì không làm sao mà ai biết được rằng TAI của Thái do MẤT (chết) của Việt Nam mà ra:

Nam Dương:
MATI
Việt Nam:
MẤT
Chàm Ninh Thuận:
MƯ TẠI
Chàm Bình Tuy:
HTAI
Thái:
TAI

Khi ta thấy KƠPAO là TRÂU biến ra, TAI là MẤT biến ra thì những danh từ trông xa lạ với nhau mà chúng tôi cho là đồng gốc, không phải là chúng tôi nói liều, mà đã học cẩn thận rồi, nhưng thiếu chỗ để viết hết ra xâu chuỗi biến dạng đó thôi.

Thí dụ biểu đối chiếu dưới đây, tuy vài dân đã cho nó nghĩa khác, nhưng truy ra đều đồng gốc hết:

Việt Nam:
SÂU
Miền Dưới:
SAUÚA (Sawah)
Nhựt Bổn:
SAUUA ( Sawa)
Cao Miên:
CHRÂU
Mạ:
ZIRÂU
Bà Na:
JRÂU
Sơ Đăng:
TRÂU
Xi Tiêng:
JƠRU

Miền Dưới chỉ dùng tĩnh từ nầy trong một trường hợp độc nhứt: RUỘNG SÂU. Còn Nhựt thì cho SAWA cái nghĩa là đầm lầy.


Tin Sơ Đăng

Người Mạ sống cạnh người Nam Kỳ thuở xưa. Còn người Sơ Đăng chỉ có các cố đạo là nỗ lực lên trên ấy, mà những danh từ Việt được các cố đạo dạy họ, ta đã biết cả.

Nhưng danh từ không do các cố đạo dạy họ mà trùng với Việt thì vô số kể, kể cả những danh từ rất tế nhị như LỒI ỐI đã nói đến rồi. Đó là những danh từ mà cả người Mạ, sống lẫn lộn với người Nam Kỳ cũng không có.

Những ông lái buôn quế ở Tam Kỳ thì có tiếp xúc được với Sơ Đăng tại Trà Mi. Nhưng họ hẳn không bỏ công ở lại Trà Mi để dạy Sơ Đăng LỒI ỐI, vì Trà Mi tuy ít núi non, vẫn là vùng sơn lam chướng khí mà trừ quân đội ra, không ai ở lại để làm gì, còn Sơ Đăng thì chê Trà Mi ít núi nên không thèm ở.

Chúng ta đã thấy vai trò đầu đàn của Sơ Đăng trong hai danh từ quan trọng NHÀ và NGƯỜI.

Nhưng không phải chỉ có thế, nhìn vào bản đối chiếu danh từ MƯA, ta cũng thấy rõ như vậy:

Xi Tiêng:
MI
Mạ:
MIU
Các phụ Chi Mạ: MI

Mã Lai Á:
AMA
Nhựt Bổn:
AMÊ
Việt Nam:
MƯA
Sơ Đăng:
MÊI

Chính danh từ Sơ Đăng là cái khoen nối kết giữa danh từ MÂY và MƯA của các nhóm Trãi. Mây đẻ ra Mưa. Mêi đẻ ra MƯA và MÂY.

Sơ Đăng có những tiếng Việt sơ khai mà không nhóm Thượng nào có cả:

Uâng
= Muấng
Noa
= Nua (Già)
Ngo
= Ngàn (Núi)
Inúa
= Núi
Luô
= Lụt (nước lụt)
Jolón
= Sóng
Hmôi
= Mai (sớm mai)
Lo
= Lố (dạng)
Xẻ
= Xế (chiều)
Rồ
= Hồi
Xrua
= Xưa
Drối
= Trước
Potok
= Bao tử( Dạ dày)
Roma
= Mỡ
Pit
= Béo
Ning
= Nín
Xẹt
= Xẹo (thẹo)
Xong
= Sưng
Uán
= Uốn
Tói
= Nói
Mnháu
= Nhạo (báng)
Ngán
= Ngắm
Luan
= Thoáng
Hván
= Hám (hôi hám)
Khíu
= Hiu (buồn hiu)
Xau
= Sợ
P’loang
= Lo
Nguán
= Ngoan
Mona
= Mau
T’Xrống
= Xuống
K’Têang
= Ngang
Mung
= Mượn
Xróng
= Chông (gai)
Hén
= Bén (sắc)
Ap
= Áp (chảo)
Chôu
= Cháy
Ngói
= Khói

= Vò (rượu)
Hat
= Hát
Xoang
= Xang (Múa vũ)
Vêang
= Gian (nhà)
Nêố
= Nữa
Trung
= Trong (ở)
Ngêi
= Nghêu (lêu nghêu)
Ropong
= Dòng (họ)
Tovó
= Tròn vo

Đây là những danh từ giống thẳng, nhưng còn hàng ngàn danh từ giống nhưng phải có xâu chuỗi mới thấy được. Cũng nên biết rằng người Mường giống ta một trăm lần hơn, nhưng không nên kể đến vì họ sống chung với ta từ 2500 năm rồi còn người Sơ Đăng thì không có tiếp xúc với ta.


Chương XV - Tàn tích mẫu hệ trong Việt ngữ

Xin nhắc lại sơ một điều mà chúng tôi đã viết ra rồi trong quyển sử. Là mãi cho đến năm 1861, khoa học mới biết và mới công nhận rằng có chế độ mẫu hệ trong nhân loại, và HÌNH NHƯ bất kì dân tộc nào cũng đã trải qua chế độ mẫu hệ cả.

Năm đó, một quyển sách độc đáo ra đời, quyển “Chế độ mẫu hệ” của nhà bác học Bachofen, trong đó soạn giả đã dựa vào các văn kiện cổ thời Hy Lạp để chứng minh rằng Hy Lạp buổi đầu theo mẫu hệ.

Chừng ấy các nhà bác học mới tin những quyển du kí được viết trước đó mà họ cho là truyện trinh thám.

Và điều nầy kì lạ nhứt là trong các chủng, chỉ còn có chủng Mã Lai là còn theo mẫu hệ, người Phi Châu kém hơn nhiều, vẫn bước sang chế độ phụ hệ rồi.

Hậu Hán Thư cũng đã có ghi chép về vài dấu vết mẫu hệ còn sót lại ở Giao Chỉ, thuở nước ta bị Trung Hoa chinh phục. Đó là tục Levirat ở vài làng tổng của ta.

Nhưng còn dấu vết trong ngôn ngữ hay không? Có vẻ là còn. Dân ta nói VỢ CHỒNG mà không nói CHỒNG VỢ, cho đến các cụ nhà Nho tiêm nhiễm Nho giáo sâu đậm, vẫn nói: “Tình nghĩa vợ chồng”. Mà đừng tưởng là các cụ bị luật bằng, trắc chi phối, bởi các cụ có thể nói: “Nghĩa tình chồng vợ” mà câu văn cứ còn nhạc điệu hoài.

Truyền thuyết ta kể rằng dưới trào Hùng Vương, con gái nhà vua luôn luôn tên là MỆ NÀNG. Tại sao không nói đến con trai?

Người hành khất đi xin ăn, thường hát:

Bớ cơm, bớ gạo,
Làm phước gặp phước,
Làm doan (duyên) gặp doan.
Bà con cô bác
Cứu kẻ bần hàn ờ…ờ…ờ

Nội một câu kêu xin ăn đó chứa đựng hết hai dấu vết mẫu hệ. Cô (nữ) cứ đứng trước Bác (nam).

Và BÀ CON chớ không ÔNG CON đâu. Đã bảo thuở xưa CON là NGƯỜI, thì BÀ CON là người phía bên bà, tức người đồng họ (theo mẫu hệ) còn người phía bên ông không đồng họ nên không được xem là người trong dòng.

Ngày nay đáng lý gì phải là ÔNG CON, nhưng đã quen miệng rồi thì danh từ cổ cứ còn, mặc dầu chế độ đã thay đổi ngược hẳn trước.

Tại sao lại có từ ngữ “gái nạ dòng”? NẠ là MẸ thì có phải chăng NẠ dòng là dòng mẹ?

Từ ngữ nầy không có thể đồng thời với hậu Hán Thư mà ta đã bước sang phụ hệ rồi, nhưng còn sót mẫu hệ ở vài nơi, và bọn theo phụ hệ khinh bỉ bọn theo mẫu hệ, vì ta nghe thấy được giọng khinh bỉ trong từ ngữ đó.

Từ ngữ đó hàm cái ý “gái đã có nhiều con”, tức có nhiều con với nhiều chồng (ám chỉ sự đa phu có thể có), tức là gái không tốt đẹp gì đối với mắt của bọn đã tiến lên phụ hệ rồi.

Ca dao ta lại hát:

Ai về, tôi gửi buồng cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.

Đứa con trong hai câu dân ca trên đây, có vẻ không được biết lễ giáo Khổng Mạnh chút nào hết. Có người giải thích rằng dân ca ta chống lại Khổng, Mạnh, thuở ta mới bị trị. Cho rằng chủ trương đó đúng đi. Nhưng tại sao họ lại chống? Có phải chăng là vì lễ giáo đôi bên khác nhau, họ chưa quen chịu đựng nên họ khó chịu, họ mới chống lại? Mà nó khác nhau nhứt là ở chỗ đạo Nho chủ trương chồng chúa vợ tôi, khác hẳn nơi họ mà vợ là xếp trong nhà. Tuy Giao Chỉ đã ra khỏi chế độ mẫu hệ rồi, nhưng chưa lâu, bằng vào sự tồn tại của tục Levirat ở vài nơi. Vậy đàn bà còn được trọng lắm, mặc dầu đàn ông đã cầm quyền. Ta cứ nghe câu ca dao miền Nam sau đây thì rõ:

Lấy Triều Châu, cầm xâu chìa khóa
Lấy Quảng Đông, chèo ghe đi bán cá

Người Triều Châu là Lạc bộ Mã. Họ đã bị Tàu bắt theo phụ hệ hơn hai ngàn năm rồi mà vẫn còn trọng đàn bà thì biết đàn bà Giao Chỉ dưới thời Mã Viện, Sĩ Nhiếp được trọng đến mức nào. Nhưng Sĩ Nhiếp lại dạy dân ta cái chuyện khinh phụ nữ thời hẳn phải có chống đối.


Chương XVI - Xửa = Thiệt

Thường thì các nhà nho ta đọc Quan Thoại sai đến 40 phần trăm. Chỉ có vài tiếng hiếm hoi như QUÍ họ mới đọc đúng được.

Nhưng cái sai của các cụ thì thường không sai nhiều: Hài (Sông) = Hà.

Nhưng có một số danh từ, các cụ đọc khác hẳn, khác như Trắng với Đen, khiến ta phải thắc mắc.

Chúng tôi đã tìm cách giải thích về hai tiếng PÍN bị đọc là TÂN và TU bị đọc là ĐỘC thay vì TỦ (cái tủ). Nhưng không lấy gì làm chắc.

Một lối giải thích nữa của chúng tôi thì chắc đúng 100% DIỄN là MÂY bị đọc là VÂN. Vân là Awan vốn tiếng Mã Lai có nghĩa là Mây. Đó là Mandi Quảng Đông và Việt để kháng Tàu.

Mỗi ngày chúng tôi mỗi tìm tòi, và chúng tôi tìm được thêm một sự thật nữa về

Xửa = Thiệt (cái lưỡi)

Tại sao Xửa không bị đọc sai là XƯA, là XỬA là XỪA là SƠ, v.v. mà bị đọc là THIỆT?

Không có gì lạ cả? Người Việt cổ gọi cái lưỡi là PIÊT. Tổ tiên ta đọc XỬA là THIỆT là tiêu cực để kháng Trung Hoa, chớ không phải là đọc sai.

Vậy lối giải thích của chúng tôi trong quyển sử, chưa chắc đã đúng. Chúng tôi cho rằng các cụ đọc PÍN của Quan Thoại, là Tân, có lẽ vì kiêng tên một người trong hoàng tộc Việt Nam, sau này ta thu hồi độc lập, chớ không thể nào mà các cụ nhà Nho lại đọc sai quá xa như vậy. XỨA đọc là THỰC tức chỉ sai chút ít mà thôi, luôn luôn như vậy, nhưng có một số danh từ bị đọc sai một trời một vực, như Xửa = Thiệt.

Ta đã biết rằng vua Hùng Vương nói khá giống người Khả Lá Vàng hiện nay:

Ai = Tôi
Aka = Cá

Và hiện nay thì:

Khả Lá Vàng:
Piêt
= Lưỡi
Mạ:
Lapiết
= Lưỡng
Jêh:
Alpiat
= Lưỡi
Sơ Đăng:
Rpê
= Lưỡi

Đó là các nhóm thuộc chi Trãi. LƯỠI chỉ là danh từ của chi Mã, vì ở Việt Nam có ba chi Lạc sống hỗn hợp với nhau, danh từ riêng của ba chi cạnh tranh nhau, chi Trãi đa số, nhưng đôi khi danh từ của họ cũng bị danh từ của hai chi khác lấn lướt.

XỬA là LƯỠI bị đọc là THIỆT là vì thế, còn tại sao XƯA là ĐẦU GỐI lại bị đọc là TẤT? Cũng cứ vì tiêu cực để kháng vì danh từ Mã Lai là LUTÚT mà chắc hồi cổ thời ta nói là LUTẤT nên ta mới để kháng bằng cách đọc XUA là TẤT. Vậy BÍT TẤT là danh từ kép gồm toàn tiếng Việt, chớ không phải là một tiếng Việt và một tiếng Tàu.

Ngộ nghĩnh lắm là người Nam Dương sáng tác tên cho món vật dụng đó thì không nói là BÍT LUTÚT mà lại nói là QUẦN CỦA CẲNG. Tuy nhiên thấy rõ là họ đồng tâm hồn với ta, mặc dầu sáng tác khác. Quần của cẳng vẫn bít cái TẤT (Bít tất đời xưa lên khỏi gối, mà cho cả đến nay, bít tất phụ nữ cũng thế).

Người Tàu chánh gốc, nói máu là XẸ. Nhưng tại sao Quảng Đông và Việt không đọc sai là XÉ là XÈ, là XẺ mà lại đọc là HUỴT là HUYẾT. Cũng cứ là vì tiêu cực để kháng vì tiếng Thái, máu, nói là LƠÁD. Đó là Thái ngày nay chớ Thái đời Tần thì gọi là HƠAD, thế nên họ mới đọc xỏ lá XẸ là HUỴT. Ta là Việt, ta cũng để kháng, nhưng không đọc là MAU mà đọc là HUYẾT và đọc theo Thái chơi cho vui vì đó là lân bang bà con mà ta thạo ngôn ngữ.

Cứ cái đà đó mà tìm, ta sẽ biết các nhà nho ta đọc nhiều tiếng Tàu sai quá sức tưởng tượng HÙNG bị đọc là HỒNG thì quá dễ hiểu vì nó chỉ sai tí ti thôi. DÍL bị đọc là YÊN tuy hơi xa nhưng còn nối kết được, chứ như TU mà đọc là ĐỘC thì hẳn phải có lý do như THIỆT và TẤT.

Ta có thể bạo gan nói rằng ta đã biết chế tạo cái TỦ và ta gọi CÁI TỦ bằng tiếng Việt là ĐỘC, và ta đọc chữ TU của Tàu là ĐỘC vì lý do tiêu cực để kháng.

Trong cổ vật Đông Sơn không hề có cái tủ, nhưng tủ bằng gỗ thì làm thế nào mà còn được để cho các nhà khai quật tìm thấy.

Nếu không cắt nghĩa như vậy thì không sao hiểu được sự kiện các nhà nho ta viết chữ TU mà lại đọc là ĐỘC.

Chúng tôi nói Khả Lá Vàng gọi cái lưỡi là PIÈT, nhưng Việt Nam hẳn phải đọc khác hơn một chút là THIỆT, vì đã có bằng chứng ta đọc khác Khả Lá Vàng.

Việt Nam
Khả Lá Vàng


Trai
Trùi
Gái
Guôi
Mắt
Mat
Bắp vế
Bốk
Óc
H’tóc
Uống
Óc
Ăn
An
Bố
Bo
Mẹ, Mợ


Có những danh từ, không phải là tiếng Tàu chút xíu nào hết. Thí dụ BẤT của Nam Kỳ có nghĩa tương đương với BÁC của miền Bắc. Đó là động từ của Lạc bộ Mã: Batal.

Nhưng chỉ riêng người Nam lầm tưởng của Tàu, vì người Bắc không có dùng động từ BẤT đó.

Trạng từ sau đây thì toàn quốc đều lầm: TẤT

TẤT là HẾT là XONG là tiếng Tàu
TẤT là ẮT HẲN là tiếng Tàu
Nhưng TẤT CẢ là tiếng Lạc bộ Mã
TẤT TẢ, TẤT TƯỞI là tiếng Lạc bộ Trãi

THỎA không là tiếng Tàu như ai cũng tưởng mà là tiếng Lạc bộ Mã. Đó là trùng hợp ngẫu nhiên với Tàu.

Nhiều học giả Việt Nam, hễ thấy tiếng ta hơi hơi giống tiếng Tàu, liền quả quyết rằng là ta học của Tàu.

Trong quyển sử, chúng tôi đã đưa ra một lối phủ nhận có chứng tích là tĩnh từ XA bị nhiều ông cho rằng do HÀ của Tàu mà Quan Thoại đọc là XÁ có nghĩa là XA. Quả đúng là Quan Thoại có XÁ bị các nhà nho ta đọc là HÀ.

Nhưng Lạc bộ Chuy có CHXANGAI là Xa, mà chắc một trăm phần trăm không phải học của Tàu vì âm X của Tàu len vào ngôn ngữ Lạc bộ Chuy đều biến thành Tàu hết, không có ngoại lệ. Thí dụ XÉ của Quan Thoại bị biến thành TE của Cao Miên thì XÁ của Quan Thoại phải bị biến thành TANGAI, chớ không thể thành CHXANGAI được.

Nam Dương lại có SANGAT, đồng gốc với CHXANGAI. Chàm thì có HATAH, Sơ Đăng có Sak, Rôgai có ATA, Khả Tu có Atagh.

Các ông lại cứ quả quyết rằng GẦN do CẬN của Tàu mà ra, nhưng Nam Dương lại có ĐƠNGAN mà tiền sử học thì quả quyết rằng Lạc bộ Mã không có chịu ảnh hưởng của Tàu. ĐƠNGAN bị toàn thể đồng bào Thượng bỏ âm sau, chỉ nói ĐƠN. Việt Nam rủi ro bỏ âm đầu, nói GẦN hóa ra bị tình nghi là ăn cắp của Tàu. Nhưng cái âm sau đó, bị Chàm biến thành GEK thành thử Chàm không bị tình nghi. Nhưng GẦN của Rađê là GĂM khiến các ông rất tức giận mà không lôi kéo Rađê vào Tàu và Việt được vì họ ở cách xa Tàu và Việt và các dân tộc sống giữa họ và Việt lại không nói GĂM, GAN gì cả để mà cho rằng Việt làm trung gian giữa Tàu và Rađê.

Các ông lại quả quyết rằng ĐÈN của Việt do ĐĂNG của Tàu. Nhưng Tàu đọc Đăng là TẨN chớ không có đọc là Đăng như các cụ nhà nho. Vả lại đèn La Mã đầu Tây lịch đã tìm thấy ở Cao Miên, đèn Trung Hoa đời Hán đã tìm thấy ở bên Tàu đều 10 lần xấu xí hơn đèn Đông Sơn thì có lý nào ta lại học với kẻ kém hơn ta.

Các ông lại lôi kéo CHU của Tàu vào CHUA của Việt, nhưng CHU của Tàu thì Tàu đọc là XỦ mà không có nghĩa là Chua mà là GIẤM, trong khi đó thì:

Việt Nam:
Chu
= Chua
Cao Miên:
Môchu
= Chua
Sơ Đăng:
Chôu
= Chua

Nam Dương: Chuka = Chua Cay (chỉ vẻ mặt)

Các ông bảo RƯỢU do TỬU của Tàu mà ra, nhưng trên Cao Nguyên các nhóm Lạc bộ Trãi chưa hề thấy mặt người Tàu đều có rượu và gọi món đó là :

Sơ Đăng:
Trôu (giống rượu ở âm sau)
Mạ:
Rơnơm (giống rượu ở âm trước)

HÀM của Tàu chỉ là Ngậm trong miệng còn Hàm là cái Hàm là tiếng Mã Lai:

Nam Dương:
Robang
= Hàm
Nam Dương:
Keng
= Càm

Mạ và các phụ chi: Cang

Các ông bảo TRÀ là tiếng Tàu, nhưng TRÀ lại là tiếng Thái của dân Tây Âu, CHÈ là tiếng Lạc của dân Thất Mân.

TÀM cũng là tiếng Lạc của dân Thất Mân. TÂN LANG là cây cau của Tàu, viết thành chữ thì hoàn toàn vô nghĩa, mà họ đọc là Pấn lạn, mà tiếng Mã Lai là Pin nang, Chàm nói là Nâng, Việt là Nang (Mo nang= Mo cau)

Tóm lại:

Đồ bên Tàu các chú đem qua
Mì bên Tàu các chú bày ra

(Bài ca Nam Kỳ điệu Khổng Minh tọa lầu, có tánh cách đùa cợt bọn mê Tàu rất thạnh hành từ năm 1900 đến 1930).


Chương XVII - Trời và ngày

Bạn Nguyễn Mạnh Côn cho biết rằng người Nhựt chỉ Trời bằng danh từ ngoại quốc mà họ đọc là SORA. Đành thế. Nhưng chúng tôi đâu có đối chiếu các ngôn ngữ khác, mà chỉ đối chiếu Mã Nhựt thôi.

Người Nhựt có hằng tá danh từ Trời mà một là của Ấn Độ: SAMA, nhưng họ lại dùng sai. SAMA của Ấn chỉ trỏ VÒM TRỜI, còn họ thì dùng để chỉ ÔNG THIÊN, và tại sao họ sai, chúng tôi xin giải thích.

Trong quyển sử của chúng tôi, chúng tôi có để lộ ra một mâu thuẫn lớn:

I) Chúng tôi cả tin vào tiền sử học.

II) Mặt khác chúng tôi lại bác tiền sử học, họ cho rằng nhóm Nhựt bộ Mã từ Nam Dương đi lộn trở lên Nhựt để cướp ngôi của nhóm Lạc bộ Trãi đã có mặt ở đó từ hơn 2.500 và đã dựng nước rồi.

Vì điểm sử đó không liên hệ đến ta, nên nếu có sai cũng không sao, và chúng tôi cố ý sai để chờ đợi một cuộc bắt bẻ về sự mâu thuẫn đó. Khi một điểm sử có mâu thuẫn, thì điểm sử ấy phải sai. Khi kẻ cả tin vào tiền sử học, lại nói rằng tiền sử học sai, thì phải bắt bẻ kẻ đó. Nhưng không có ai bắt bẻ chúng tôi về mâu thuẫn đó cả, mặc dầu tám tháng đã qua rồi, thành thử nay chúng tôi xin trình ra sự thật: tiền sử học đúng. Nhưng sách tiền sử học không dịch ra đây được thì chúng tôi ủng hộ tiền sử học bằng ngôn ngữ, và trong sách nầy tài liệu ngôn ngữ tìm được chỗ đứng hợp lý.

Khoa khảo tiền sử có thể thiếu sót mà không thể sai. Họ có chứng tích hẳn hoi nên họ mới dám viết như thế.

Nhưng dĩ nhiên là họ không có chứng tích ngôn ngữ như chúng tôi, và đây là loại chứng tích ấy.

Nhựt Bổn, từ Nam Dương đi Nhựt RẤT TRỄ mãi sau khi tiếp nhận văn minh Ấn Độ rồi, mới đi, bằng chứng là trong Nhựt ngữ đầy dẫy tiếng Ấn Độ:

Sama = Trời
Macham → Michi = Đường đi
Nama → Namê →Na = Tên

Dĩ nhiên là vừa mới vay mượn, chưa kịp tiêu hóa là họ ly khai, nên chi họ dùng sai. SAMA của Ấn Độ chỉ có nghĩa là VÒM TRỜI, bị Nhựt hiểu là ÔNG THIÊN. Còn MACHAM chỉ có nghĩa là ĐƯỜNG TINH THẦN y như chữ ĐẠO của Trung Hoa, lại bị Nhựt biến thành ĐƯỜNG ĐI: Michi.

Ta tự hỏi họ đi làm gì và tại sao họ biết có Lạc bộ Trãi ở đó, để mà tới đó.

Họ không biết gì hết, tại thuận buồm xuôi gió vào mùa Nồm thì họ tới Nhựt, chỉ có thế thôi, còn lý do ra đi của họ là vì tôn giáo.

Quả thật thế, người Nam Dương đã mất luôn tôn giáo thờ Bà Trời của đại khối Mã Lai, vì đạo Bà La Môn xen vào quá mạnh. Cho tới ngày nay, họ còn đúc nhưng lưỡi gươm y hệt như người Đông Sơn, mà họ gọi là LAĐAI, nhưng họ chẳng còn biết đến Trời nữa, trong khi đó thì các thần xã ở Nhựt còn nguyên vẹn, giống đình của ta, và Thần Đạo, tôn giáo của chủng Mã Lai, còn được Thiên Hoàng thờ, mặc dầu Phật giáo ở Nhựt rất mạnh.

Hiện nay ở Nam Dương chỉ còn giống ta có cái ao cá và lũy tre làng, còn thì tôn giáo và cảm nghĩ đã hết từ khuya.

Thế nên sử Nhựt chép rằng vua đầu của Thiên Hoàng lên ngôi 5, 6 trăm năm trước Tây lịch, bị sử gia Âu châu thụt lại tới đầu Tây lịch là đúng khít nút. Lên ngôi một ngàn năm trước đó là các ông vua lon con của Lạc bộ Trãi, họ chưa thống nhứt như Hùng Vương nên mới bị bọn sau nuốt hết. Những ông vua ấy, Nhựt hoàn toàn bí, chỉ có sử Tàu là biết lõm bõm mà thôi. Bọn ấy cũng đã văn minh rồi nhờ dân 127 huyện Tàu di cư ra, nhưng cứ thua, vì như đã nói, họ chưa thống nhứt.

Bọn đi Madagascar và Trung Mỹ, chắc chắn là cũng vì lý do tôn giáo, và quả thật đến Trung Mỹ họ gặp bọn Trãi ở đó và hai đàng tiếp tục thờ Trời (và mần thịt người để tế thần y hệt như bọn Đông Di và Nam Man mà Tống Ngọc đã tả).

Quí vị đã thấy, chứng tích ngôn ngữ không có kém chứng tích tiền sử học chút nào hết. Nếu chúng tôi không có đọc tiền sử học mà biết tiếng Ấn và tiếng Nhựt thì cũng đi tới cái kết quả mà tiền sử học đã tới. Hơn thế, chúng tôi tới xa hơn là chúng tôi biết Lạc bộ Mã có ghé Đông Pháp lập ra Lâm Ấp và Phù Nam, còn tiền sử học thì không biết điều đó.

Nhờ ly khai, nên Nhựt giữ được đạo thờ Bà Trời của chủng Mã Lai:

Hiện nay tại Hòn Chén (Ngọc Trản) ở Huế, ta có đền thờ Thiên Y A Na mà xem ra thì đó là tôn giáo Đồng Bóng có tánh cách tương tự như các đền thờ ở đất Bắc.

Tên thánh gồm một chữ Nho “Thiên”, ghép lại với một danh từ Mã Lai Y A Na có nghĩa là Mẹ:

Ra đê:
Ana
Giarai:
Ina
Chàm Kim:
Ina
Nam Dương:
Inang
Nam Kỳ trung cổ:
Áng na
Việt Nam cổ thời:
Nạ
Cổ ngữ Tây Âu:
Nả

Người thờ, không giải thích được minh bạch Thiên Y A Na là gì, nhưng ta hiểu được đó là một danh xưng hỗn hợp Hoa Chiêm, Chiêm đây là Cổ Chiêm Thành, chớ Chàm hiện kim nói Ina, chớ không nói Y A Na. Vậy Thiên Y A Na là Mẹ Trời, tức Bà Trời, mẹ của muôn loài, theo tôn giáo thờ Trời của chủng Mã Lai (chớ không phải thờ Mặt Trời, và Mặt Trời ở trống đồng chỉ là tượng trưng).

MẸ thì hiện nay Đại Hàn còn chỉ bằng danh từ Ô-Mô-Ni mà Ô-Mô-Ni không xa nhưng danh từ trên đây một cách đáng kể, nếu dựa vào luật biến dạng kì khôi của Swadesh. Năm ngàn năm đã qua rồi thì một danh từ đã biến nát hết, X có thể biến ra Ô-Mô-Ni, Ina, Y A Na, v.v.

Nhựt Bổn chỉ mẹ bằng danh từ HAHA. Nhưng cách đây hai ngàn năm, hẳn là không phải là HAHA mà là cái gì đó.

Truyền thuyết Nhựt Bổn, được ghi chép lại trong bộ Cổ sự ký, tập I, có nói đến cặp bán thần là IZANA EM GÁI, hai vị bán thần nầy là hai anh em ruột, con của Bà Trời Thiên Chiếu.

Hai tên thần trên đây là viết theo chữ La Tinh, chứ viết theo chữ Nhựt thì sẽ đọc ra là Y-DA-NA.

Y-DA-NA rất gần Y-A-NA ở Ngọc Trản, mặc dầu hai vị thần đó là con, chờ không phải là Mẹ Trời. Nhưng hai người con đó là con đối với thượng giới, chớ vẫn là Mẹ (cha mẹ) đối với loài người.

Văn tự của thời quyển KOJIKI ra đời là văn tự của năm 714, việc kí hiệu chưa ổn định, truyền thuyết lại mù mờ, nên ta không thể biết chắc gì hết, nhưng không sao ta không thấy sự liên hệ giữa Y-A-NA ở Huế và Y-DA-NA ở Nhựt, liên hệ về hình dáng của danh từ và ý nghĩa của danh từ, cả hai hình thức đều cho thấy ý niệm MẸ TRỜI, và cả hai hình thức đều cho thấy ngôn ngữ của Lạc bộ Mã (Chàm và nhóm Thiên Hoàng) không khác nhau bao nhiêu từ năm 741 S.K. Đến năm đền Ngọc Trản được xây cất lần đầu, cái lần đầu đó, không còn ai biết là vào năm nào, và tại đâu, bởi không chắc lắm là tại hòn Ngọc Trản ngày nay, nhưng chắc chắn là không thể trước thời Hồ Quý Ly, người đã chiếm đất Chàm cho tới Chiêm Động (Quảng Nam), tức vào mạt điệp nhà Trần của ta, giữa thế kỉ 14.

Từ năm 714 đến đời Hồ Quý Ly thì một ngàn năm đã qua, và danh từ bị biến dạng Y-A-NA đến Y-DA-NA và vừa đúng theo luật Swadesh, tức chỉ mới biến có một lần.

Cũng nên biết điều nầy là người Chàm có ngôn ngữ y hệt như Nam Dương, tức y hệt như nhóm Thiên Hoàng từ Nam Dương di cư lên Nhựt. Nay ta thấy đã khác, không phải vì có sự biến dạng theo luật Swadesh, mà vì người Chàm mà thiên hạ biết, tức Chàm Ninh Thuận, không phải là người Chàm, mà chỉ là người Phù Nam. Sử Chàm chưa được viết đúng ở đoạn nào cả. Nhìn vào các địa danh Chàm ở miền Trung, ta thấy nó giống hệt Nam Dương mà rất khác Chàm nay. Chàm nay nói MƯ TAI = Chết, nhưng địa danh lại là MATI = Mất.

Không thể bảo rằng có sự biến dạng theo luật Swadesh, vì luật ấy chỉ nói đến 20% danh từ trong một thời gian là một ngàn năm, nhưng ở đây thì biến đến 100%.

Tóm lại tôn giáo thờ Bà Trời, Mẹ Trời của chủng Mã Lai (ít lắm cũng là Mã Lai đợt II, tức Lạc bộ Mã, tức Austronésiens) là một tôn giáo có tánh cách duy nhứt vào cổ thời, chớ không phải là những tin tưởng tạp nhạp chưa thành hệ thống như nơi các dân tộc cổ sơ khác, và nhóm ly khai khỏi Nam Dương để đi Nhựt Bổn có lý do mạnh mà ly khai vì tôn giáo.

Bọn Lạc bộ Trãi có thờ Bà Trời hay không thì không còn dấu vết gì để ta dám xác nhận hay phủ nhận. Trên thế giới, chỉ có ta mới kêu “Trời ơi!” mỗi lần kinh sợ hay than thở, nhưng ta có sống chung với Lạc bộ Mã, thành thử cũng có thể nói là ta bị ảnh hưởng, mà không dám chắc là ta đã thờ Trời. Nhưng Lạc bộ Mã thì chắc 100%.

Danh từ Trời của Đại Hàn gồm thêm từ NIM mà Nim vừa có nghĩa là Ông, là Bà. Đại Hàn là Lạc bộ Trãi, mà họ gọi Trời như thế, cũng có thể tin rằng Trãi cũng thờ Trời, nhưng không chắc gì hết vì đó là chứng tích rất mong manh.

Thần đạo, tôn giáo chánh của người Nhựt, đã bắt đầu suy từ thời Nại Lương vì ảnh hưởng Phật giáo quá mạnh. Tuy nhiên người Nhựt cứ giữ và xem đó là tôn giáo chánh thức vì chủ bái là Thiên Hoàng.

Đạo Phật một ngàn lần thịnh hơn, từ đó đến nay, nhưng không hề được hưởng tư cách tôn giáo chánh thức mà chỉ được nhà vua bảo trợ thôi.

Và trong Thần đạo, cứ là Bà Trời và anh hùng dân tộc được thờ phượng, hơi khác ta một chút xíu là ta không còn Bà Trời, nhưng rất giống Bắc Việt là luôn luôn đền thờ cất theo kiến trúc thượng cổ của chủng Mã Lai là nhà sàn.

Một dân tộc giữ đạo như thế, hẳn phải mang cả danh từ, danh xưng HARI theo họ trên bước đường di cư thứ nhì, ngược chiều với bước di cư thứ nhứt, và dĩ nhiên HARI không còn là HARI nữa, vì hai ngàn năm đã qua rồi, luật Swadesh đã chi phối HARI đến hai lần là ít: HARA HI.

Quyển sử của chúng tôi quá dày nên khi in, phải chặt bớt, hóa ra nhiều điểm, nói không hết lời. Đối chiếu ngôn ngữ trong đó chỉ là chuyện phụ thuộc. Ở đây chúng tôi xin trình bầy rõ rệt về danh từ Trời.

Trước hết, đại khối Mã Lai chỉ có một danh từ độc nhứt để chỉ ba ý niệm:

Vòm trời
Ông trời
Mặt trời

Các nhóm Mã Lai kém mở mang ở rừng núi hiện đang còn dùng như vậy. Thí dụ người Sơ Đăng chỉ có danh từ HAI để chỉ ba món kể trên.

Các nhóm văn minh thì có hai ba danh từ:
  1. Vòm trời
  2. Ông thiên và Ngày
  3. Ngày
  4. Mặt trời
Nhưng không phải nhóm nào cũng có đủ số 4, riêng Nhựt thì có hàng chục với lối vay mượn xô bồ và vô ích của họ là lối biến nghĩa kỳ dị của họ. Thí dụ KAMI chỉ là đại danh từ mà Thần Nam Dương dùng để xưng ta với loài người thì Nhựt biến thành ÔNG THẦN. Đó là chỗ biết riêng của chúng tôi. Nhưng tự điển Pháp-Nhựt còn dịch kỳ dị nữa: Kami = Thần, Kami = Tạo hóa. Thế thì họ lại biến cả Kami là Ông thiên nữa, chớ không riêng gì SAMA và SORA.

Nhưng tất cả những danh từ Trời, Vòm Trời, Mặt trời, đều do một danh từ độc nhứt hồi thượng cổ mà ra, đó là danh từ HANA hoặc HANAL, hoặc HAI chớ không phải HARI hoặc HARA gì hết.

Tiếng Đại Hàn có những danh từ sau đây:

Hananim
= Ông trời
Hanul
= Vòm trời
Hai
= Mặt trời
Nal
= Ngày

HANA là số 1, NIM = ÔNG. Hananim = Ông số 1 = Ông trời = Vị thần to nhất của chủng Mã Lai thờ mặt trời (theo Tây, nhưng theo chúng tôi thì là thờ Ông trời, hoặc Bà trời tùy theo nhóm mẫu hệ hay phụ hệ)

Cái ông số 1, đẻ ra vòm trời : HANUL, đẻ ra mặt trời : HAI, đẻ ra NAL.

Đại Hàn là đầu đàn của Lạc bộ Trãi trên thế giới, và Sơ Đăng là đầu đàn của Lạc bộ Trãi trong lãnh thổ Việt Nam, thế nên hai anh đầu dọc ấy có danh từ trùng hợp với nhau, nhưng Sơ Đăng nghèo nàn hơn vì kém mở mang:

Sơ Đăng

Hai
= Ngày
Hai
= Mặt trời
Hai
= Vòm trời

Hai anh khác, cũng cứ trong lãnh thổ Việt Nam giữ cái khoen nối kết thứ nhì:

Mạ và Xi Tiêng

Nar
= Mặt trời
Nar
= Vòm trời
Nar
= Ngày

(người Mạ đã tiến đến hình thức Ngai= Ngày)

Ta thấy rõ là HANUL đẻ ra NAL ở Đại Hàn, và NAL Đại Hàn đẻ ra NAR.

Danh từ HAI và NAR vô cùng quan trọng vì nó cho thoáng thấy HARI của Câu Tiễu, của Nam Dương.

HAI đẻ ra HARI được, mà NAR cũng đẻ được nhờ âm AR, âm nầy có mặt trong HARI.

Thế thì HARI của Nam Dương không là gốc tổ, nhưng trong quyển sử, chúng tôi phải dùng HARI làm đối tượng, vì đó là danh từ của dân tộc đang tự xưng là Mã Lai. Chưa ai nhìn nhận Đại Hàn là Mã Lai thì không thể dùng danh từ Đại Hàn để làm cái đích. Hơn thế quyển sử ấy đã quá dày, chúng tôi không thể giải thích dài dòng về độc một danh từ. Một lý do nữa khiến chúng tôi chỉ phớt qua về ngôn ngữ trong quyển sử là vì chúng tôi làm việc, dựa trên tiền sử học và chủng tộc học, mà hai khoa đó chê chứng tích ngôn ngữ nên chúng tôi để dành chứng tích ngôn ngữ cho quyển nầy.

Bọn Trãi di cư đi Nhựt Bổn đồng lúc với bọn Trãi di cư đi Đại Hàn, có lẽ cũng đã nói HANA hồi cổ thời. Nhưng HARA bí mật của Nhựt thì lại không phải do HANA mà ra, mà là do HARI vì bọn lãnh đạo ở Nhựt là bọn Mã, từ Nam Dương di cư lên, và dĩ nhiên là mang theo HARI của Nam Dương.

Đến nơi, họ thắng trận, nhưng bọn Trãi bại trận có văn hóa đã cao lắm rồi, thành thử có sự nhượng bộ phần nào của kẻ thắng trận. HANA không bị tiêu diệt, nhưng HARI phải biến thành HANA để dung hòa, Trãi giữ được âm A cuối, Mã đưa vào được R.

Danh từ HARA của Nhựt được giữ kín, người thường chỉ biết HARA là cái bụng, là đồng bằng, nên khi chúng tôi nói danh từ HARA là ông Trời, ai cũng cho là sai.

Danh từ HARA chỉ có các nhà bác học mới biết, vì đạo thờ Bà Trời hồi cổ thời chỉ có hai quý tộc là họ Imbê và họ Nakatomi là được quyền tế lễ thay cho vua, và mới được nói đến HARA với cái nghĩa là Bà Trời. Dân chúng chỉ biết HARA là cái bụng, là đồng bằng.

Hiện nay hai họ đó đã tàn lụn, và Thiên Hoàng giữ độc quyền tế lễ và dân chúng tiếp tục không biết HARA.

Nhựt giữ kín HARA, nhưng vẫn sáng tác các danh từ khác, mà sáng tác hằng tá, hằng lô, với ngữ căn HARA bí mật đó.

HIRU, biến dạng của HARA, được mở đèn xanh, ai muốn dùng, tha hồ mà dùng.

HI, một sự co rút của HIRU cũng được mở đèn xanh.

Nhiều người biết tiếng và chữ Nhựt Bổn cứ nói rằng HI do NHỰT của Trung Hoa vì quả sách Nhựt Bổn viết chữ HI bằng văn tự Trung Hoa là NHỰT mà không viết bằng văn tự của họ. Đó là một việc làm kì cục của Nhựt vì đáng lý gì HI, danh từ quốc ngữ của họ, họ phải viết ra bằng văn tự quốc ngữ, chớ sao lại viết bằng chữ Tàu để gây ngộ nhận?

Chúng tôi e rằng người Nhựt đã quên danh từ của họ nhiều hơn ta, sự quên mà chúng tôi đã nói đến nhiều ở Chương II và chính họ cũng tưởng HI do Nhựt của Trung Hoa, nên họ mới viết chữ NHỰT để dịch chữ HI, mà không viết bằng quốc ngữ Nhựt Bổn, trong khi đó thì NHỰT BỔN rõ ràng được đọc là NIHON chớ không là HIPON.

Nhựt dụng
= NICHIYOO
Nhựt Bổn
= NIHON
Nhựt dạ
= NICHIYA
Nhựt Mỹ
= NICHIBEI

Chúng tôi thấy hiện tượng kì dị ấy xảy ra ở nhiều danh từ, thí dụ danh từ SÁN (xơ mít) của Lạc bộ Trãi, họ nói SANA, thì không có gì lạ, nhưng lạ lắm là thay vì viết SANA bằng quốc ngữ Nhựt, họ lại viết ra bằng chữ Tàu. Còn SAN HÔ là tiếng Tàu 100% lại không được viết bằng Hán tự mà lại được viết bằng Hiragana. Họ làm việc kỳ cục như vậy, khiến người nước khác, học ngôn ngữ của họ, không còn biết ngữ nguyên ra sao cả, mà có thể chính họ cũng quên chăng, họ mới viết HI= Nhựt?

Tại sao SUIĐÔ được viết bằng hai chữ Hán THỦY và ĐẠO, còn SAN HÔ thì lại viết bằng Hiragana thì thật chẳng biết đâu mà mò.

Sự thật thì danh từ NHỰT của Trung Hoa, Nhựt Bổn đọc là NI, chớ không là HI. Cái mà họ đọc là HI chỉ là sự co rút của HARA và HIRU.

Họ có hằng tá danh từ do HARA và HIRU đẻ ra.

HARAMA
= Trời trong sáng sau cơn mưa
HARERU
= Trời sáng
HARESHON
= Vòng sáng quanh mặt trời
HARU
= Xuân (Mùa mặt trời)
HI
= Mặt trời
HIASHI
= Ngày thu ngắn
HIATARI
= Phơi trải dưới ánh mặt trời
HIBOSHI
= Phơi khô
HIDAMARI
= Nơi được mặt trời hong cho ấm
KARARI
= Trời trong
ASAHI
= Mặt trời mọc

Nhưng ta chỉ cần biết là Nhựt đã biến HARI thành HARA, được giữ bí mật vì lý do tôn giáo, còn thường dùng thì:

1) Hi = Mặt trời, tương đương với Matahari

2) Hi = Ngày, tương đương với Hari

Vòm trời ( Fimrament) được chỉ bằng SARA.

Tuy nhiên, như đã nói, tiếng Mã Lai Nam Dương cứ còn rơi rớt lại đó đây nên ta mới nối kết giùm họ được. Thí dụ họ biến:

Nam Dương:
KAKI
Chàm:
TCAY
Việt Nam:
CẲNG
Nhựt:
ASHI

Nhưng KaKi còn nguyên vẹn trong ngôn ngữ Nhựt, trong danh từ MIZUKAKI = Cẳng nước = Cẳng có bẹ (Palmipède)

Thế nên chữ HARE, những HI của họ, ta mới biết do đâu mà ra, mặc dầu họ dấu biệt HARA.

Trên Cao Nguyên, người Sơ Đăng chỉ có độc một danh từ là HAI để chỉ ngày, Ông trời, và Vòm trời, và chính Hai đẻ ra HARI và TAGAY, Tagay đẻ ra NGÀY của ta.

Thế nên chúng tôi mới trình ra xâu chuỗi Hari = Trời, trong khi HARI chỉ là NGÀY của Mã Lai Nam Dương.

Tuy nhiên chúng tôi có nói rõ trong quyển sách đó rằng Nam Dương vẫn có dùng HARI trong một trường hợp độc nhứt để chỉ VÒM TRỜI. Đó là danh từ MẶT TRỜI của họ, họ nói là Matahari.

Thế thì Ngày với Trời đã bị đồng hóa ở khắp các địa bàn Mã Lai vậy.

Chúng tôi thấy nhiều xã hội Lạc không có danh từ Vòm Trời, chớ đừng nói là danh từ Ông Thiên là chuyện cao xa. Cả Vòm Trời, lẫn Ngày đều được gọi chung y như nhau. Nhưng các nhóm đã lập quốc thì có phân biệt hẳn hoi:

Nam Dương:
Hari
= Ngày – Langít = Vòm trời
Châu Giang:
Hari
= Ngày – Langít = Vòm trời
Chàm Ninh Thuận:
Hray
= Ngày – Lingik = Vòm trời
Chàm Bình Thuận:
Hrơy
= Ngày – Lingik = Vòm trời

Cao Miên biến Langít thành LÔ NGHỊT và chỉ TRỜI CHIỀU, còn Việt Nam cũng lập quốc, cũng văn minh, nhưng ta biến một danh từ thành hai danh từ, chớ không có sáng tác thêm danh từ thứ nhì, hoặc cũng có dùng Langít y như Cao Miên, nhưng đã đánh mất rồi.

Và xâu chuỗi biến dạng như sau:

Đại Hàn:
HANA
Nam Dương:
HARI
Nhựt:
HIRU
Nhựt:
HARA
Chàm:
HRAY
Chàm:
HRƠY
Rađê:
HRỤE
Sơ Đăng:
HAI
Đại Hàn:
HAI

Tới đây, ta đã thoáng thấy NGÀY ló dạng với âm AI của Sơ Đăng và âm AY của Chàm.

Nhưng còn phải qua vài cái khoen nữa, đáng kể nhứt là cái khoen NAR của Xi Tiêng và Mạ. NAR vừa là NGÀY vừa là VÒM TRỜI, lại có sự ló dạng của tử âm N và một mảnh vụn AR của HARI, trong NAR.

Nhưng ta cứ cho Trời đi luôn cái đã rồi mới nói chuyện NGÀY được.

Ta nói HƠRY của Célèbes đi liền sau HORƠY của Chàm Ninh Thuận. Nhưng từ HƠRY đến BLƠNY của Bà Na thì chúng tôi thiếu mất một khoen là khoen HƠNY mà trong xâu chuỗi CÁI LỢI của V.N thì có:

Nam Dương:
Lơny
Giarai:
Lơni
Việt Nam:
Lợi

Nhưng mất một cái khoen, mà cái đà biến dạng đã được sự biến của LƠNY thành LƠI cho thấy, thì ta có thể cho xâu chuỗi tiếp tục được. Vả lại, ta còn tìm được cái khoen BLƠ, ngay trong Việt ngữ. Dưới trào nhà Nguyên (trào Trần của ta) một sứ giả Trung Hoa có phiên âm một mớ danh từ Việt Nam. Ta thấy rằng họ phiên âm đúng hết, thí dụ: CHẲNG LÀNH họ phiên âm thế nào mà Quan Thoại thì nghe na ná như CHẲNG LÀNH, nhưng các nhà nho ta đọc hai chữ phiên âm đó là CHƯƠNG LĨNH. Như vậy ta có thể dùng cái bản phiên âm đó được để biết danh từ TRỜI của ta dưới đời nhà Trần ra sao.

MẶT TRỜI được phiên âm là BỘT MẠT. Đây là sự lầm lẫn về cú pháp của một sứ giả có cú pháp là Thiên Diện, Nhân Diện, v.v. Sự thật thì phải là MẠT BỘT.

MẠT là MẶT, không có gì rắc rối cả. Bột thì hơi phiền. Cái chữ Nho BỘT ấy, Quan Thoại đọc là PÔ.

Sao ta lại nói MẶT PÔ? Không, ta không nói MẶT PÔ còn vị sứ giả ấy cũng đã chứng tỏ biết cách phiên âm đúng. Ông ta chỉ không đúng vì có một âm Việt không thể phiên âm đúng đó là BLƠ.

BLƠ là cái khoen mà Pháp gọi là Antérieur immédiat de BLƠNY.

(Cũng nên biết rằng ngay trong biểu phiên âm đó, danh từ MẶT TRĂNG cũng đã được phiên âm là PHÙ BỘT MẠT, tức MẠT PHÙ BỘT. Mạt là Mặt. Phù thì họ đã dùng để phiên âm lu bù tiếng Việt:

B’ Nam = Phù Nam
Blù = Phù = Trầu
Chăm Pu Lô = Chiêm Phù Lao (Cù lao Châm)

Mặt khác, các quyển sách Tây xưa cũng có ghi chép rằng danh từ TRĂNG của ta xưa là Bulăng.

Cái đời xưa đó, chỉ là thế kỉ 18. Nhưng nhà Nguyên lại cai trị vào thế kỉ 13, và có thể 500 năm trước khi nói Bulăng, ta nói khác hơn là Bublơn chẳng hạn.

BU được phiên âm là PHÙ, còn BLƠN cũng cứ là BỘT, chính vì không thể phiên âm BL được nên ở cả hai danh từ, kẻ ấy đều dùng danh từ PÔ để diễn tả BL).

Đại Hàn:
HANA, HANUL
Nam Dương:
HARI
Nhựt:
HARA
Nhựt:
HIRU
Chàm:
HRAY
Jêh:
HOERÒÉ
Chàm:
HRƠY
Célèbes:
HƠRY
Việt Nam đời Trần:
BUƠ
Bà Na:
BLƠNY
Rôglai:
HURƠI
V.N Trung cổ:
BLỜI
V.N hiện kim:
TRỜI
Các phụ chi Mạ:
TROK, TRỒ
Mạ:
TRÔ

Sự mọc đầu, mọc đuôi thình lình, đã có xảy ra thì chưa chắc đã thiếu một cái khoen giữa HƠRY và BLƠNY.

Ta bước sang NGÀY.

Danh từ NAL là NGÀY của Đại Hàn và Nar là NGÀY của Xi Tiêng, tuy khá giống nhau, nhưng cơ cấu lại khác hẳn.

NAL chỉ là sự co rút của HANA.

NAR lại là một cuộc chuyển mình lớn lao của HANA để biến sang HARI và NGÀY với các mảnh AR cuối, và mảnh N đầu.

Chúng ta đã thấy cứ bằng vào phương pháp lấy lửa thì người Xi Tiêng cổ sơ nhứt trong khối đồng bào Thượng. Thế thì họ là Trãi đồng hạng với Trãi Đại Hàn và chính họ đã chuyển bụng đẻ cho cái bào thai HANA đẻ ra một cặp song sinh chưa thành hình hằn: Ngày và Hari. NA báo hiệu Ngày, AR báo hiệu Hari.

Đại Hàn:
HAI
= Ngày
Hanul
= Vòm trời
Sơ Đăng:
HAI
= Ngày
HAI
= Vòm trời
Mạ và Xi Tiêng:
NAR
= Ngày
NAR
= Vòm trời
Đại Hàn:
NAL
= Ngày



Danh từ của Xi Tiêng rất quan trọng vì nó có mọc đầu N trước nhứt. Còn một mảnh của HARI trong âm AR.

Danh từ Chàm với âm AY cuối và Sơ Đăng với âm AI cuối cũng rất quan trọng.

Thế thì có sự đẻ chửa sau đây:

Sơ Đăng:
HAI
= Ngày
Xi Tiêng:
NAR
= Ngày
Lào:
NGÊ
= Ngày
Roglai:
TƠ NGÊ
= Ngày
Khả Lá Vàng:
T’NGAI
= Ngày
Cao Miên:
TH NGAY
= Ngày
Khả Tu:
TANGAAI
= Ngày
Jêh:
NGAI
= Ngày
Mạ:
NGAI
= Ngày
Kơ Yong:
NGAAI
= Ngày
Mường:
NGAI
= Ngày
Việt Nam:
NGÀY
= Ngày

Một danh từ độc nhất HANA, đẻ ra hai danh từ do một thủ phạm chửa hoang là Xi Tiêng khi họ mọc đầu N thành hình và mọc đuôi R giữ AR và chỉ cả hai thứ bằng danh từ lai căng N + AR.

Chính NAR là đầu đảng của mọi biến dạng khi các dân tộc chẻ hai Nar ra thành N và AR rồi tha hồ gắn đầu, gắn đuôi mới vào. Nhưng đó là sự bí mật của năm tháng u minh, rất khó mà biết thật chính xác.

Hana đẻ ra → N → Đẻ ra đám con Ngày
Hana đẻ ra → AR → Đẻ ra đám con ARI, HARI, HARA.

(Người Cil và người Duan có lẽ còn cổ sơ hơn cả người Xi Tiêng nữa, nhưng chúng tôi không biết ngôn ngữ của hai thứ người đó. Có lẽ cái khoen nối kết thiếu là ở đó).

Cũng nên biết rằng trong Đại Hàn ngữ HANA là ÔNG TRỜI. NAR của Xi Tiêng và của Mạ do đó mà ra. Và HANA là đầu đàn đã biến thành HARI tại Nam Dương rồi Nhựt mang nó từ Nam Dương lên Nhựt và biến thành HARA.

Nhưng quanh đi quẩn lại cũng chỉ có một danh từ độc nhất đã đẻ ra tất cả, mà cái danh từ đầu đàn đó có lẽ là HANA của Đại Hàn.

Đứa con bị giấu giếm là HARA của Nhựt, không ai biết là có, nhưng nó vẫn có. Và đọc Chương nầy rồi thì quý vị đã đọc quyển sử, không còn cho rằng chúng tôi nói bướng khi bảo rằng Nhựt ngữ có Hara = Trời.

Phải biết lịch sử của hai dân tộc độc quyền trong tôn giáo thờ Bà Trời là quý tộc Imbê và quý tộc Nakatomi mới biết có cái danh từ HARA không bao giờ được phép xuất hiện trong sách vở Nhựt Bổn.
Nguồn: Bình Nguyên Lộc. Lột trần Việt ngữ. Nguồn Xưa xuất bản. Sài Gòn 1971. Bản điện tử do talawas thực hiện.