Trả lá»i bà i “Bà n vá» Thượng đế cùng Quentin Smith†cá»§a ông Äá»— Xuân Phương
Tôi rất thích thú khi đọc bài
“Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith” của ông Đỗ Xuân Phương. Tôi phải cám ơn tác giả vì tác giả đã cho tôi được cơ hội chia sẻ một vài suy tư cá nhân theo từng phần mà tác giả đã viết để cùng tác giả tiếp tục song hành trên đường tìm chân lý, vì dù sao thì quan điểm của tác giả cũng là quan điểm chung của đa số quần chúng xưa nay.
Thượng đế toàn năng của vũ trụ học?
Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên. Q. Smith khi dùng khoa học để lý luận về Thượng đế cũng chỉ đi đến kết luận rằng rất có thể không có Thượng đế (improbability of god) và vô thần luận thì có lý hơn, nếu sánh với hữu thần luận. Đó là một kết luận có tính xác suất phần trăm, so sánh, tương đối, dựa trên kết quả của toán học xác suất và vũ trụ học.
Bài của Q. Smith được viết vào năm 1996. Phần luận về vũ trụ học nhằm để phản bác lập luận sai lầm của W.L. Graig. Lập luận này được dựa hoàn toàn trên một tam đoạn luận mà tiền đề không thể được xem là một chân lý hiển nhiên, do đó đã lôi kéo theo một kết luận sai lầm. Quan niệm cho rằng vật chất không thể được sáng tạo hay hủy diệt xưa nay vẫn được xem là một chân lý mà các nhà hữu thần thường hay dùng để chứng minh có Thượng đế hiện hữu ngày nay không còn được xem là chân lý nữa.
Thực vậy, phương trình của Einstein E=mc
2 cho biết vật chất có thể hoán chuyển sang năng lượng hoặc ngược lại. Định luật thứ nhất của Nhiệt học (Thermodynamics) định rằng tổng số vật chất và năng lượng trong một hệ thống đóng kín không thay đổi. Nếu toàn thể vũ trụ này được xem là một hệ thống đóng kín có tổng số năng lượng và vật chất là “zero”, vì năng lượng và vật chất có thể chuyển hóa qua nhau theo phương trình của Einstein, thì chẳng phải cần một năng lượng hay một quyền lực siêu nhiên nào để có vũ trụ. Một vật có thể tự hiện hữu không đi nghịch với bất cứ một định luật khoa học nào. Như vậy, quan niệm trên được xem là chân lý hay không tùy thuộc nếu áp dụng vào một hệ thống có khép kín hay không. Không thể đặt quan niệm trên như một tiền đề tổng quát có giá trị chân lý tuyệt đối ở mọi trường hợp để suy luận như trong tam đoạn luận của Graig.
Tác giả cho rằng “lý thuyết vũ trụ học do Hawking đề xướng đã loại trừ đi cái nguyên nhân nằm ngoài vũ trụ”. Thực ra chẳng có nguyên nhân nào nằm ngoài vũ trụ như tác giả đòi hỏi. Độc giả cũng không biết được một chứng minh nào của tác giả cho cái nguyên nhân lạ lùng đó. Điều gì xảy ra trước khi có Big Bang? Thời gian sớm nhất của vũ trụ mà con người có thể xác định được là thời gian Planck, bằng 10
-43 giây, tính từ khi có Big Bang. Trước đó nữa thì vô thời gian và vô không gian. Những gì vô thời gian và vô không gian thì vô nghĩa lý (illogical) mà toán học gọi là “singularity”. Tôi tạm hiểu là hư vô, chẳng có gì cả. Nếu chẳng có gì thì đâu cần ai sáng tạo, vì có gì đâu để sáng tạo? Vậy có ích lợi gì để bàn về một điều vô nghĩa lý? Lý luận của tác giả là cố gắng nêu ra một điều nghi ngờ mà chính tác giả cũng không chắc là có hay không để mong đánh đổ lập luận người khác, trong khi tác giả không thể trình bầy cho độc giả biết những bằng chứng hỗ trợ điều mà tác giả muốn bênh vực. Nguyên nhân nằm ngoài vũ trụ chỉ được xem là cần thiết khi vũ trụ không thể tự hiện hữu.
Vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế?
Nếu chấp nhận “vô vàn sự dữ cũng nằm trong ý định của Thượng đế” như tác giả đã viết thì cũng phải chấp nhận quan niệm cho rằng con người không có ý chí tự do, vì “một sợi tóc trên đầu rụng xuống không ngoài thánh ý Chúa”. Hậu quả tai hại của quan niệm này sẽ đưa đến sự hủy bỏ toàn diện mọi giá trị luân lý và xã hội, vì con người không còn trách nhiệm gì về mọi hành động của họ. Cứ đổ lỗi lên đầu một Thượng đế trong tưởng tượng thì sẽ vô tội vạ. Những cố gắng của con người để cải thiện đời sống sẽ vô ích nếu có một Thượng đế đang định đoạt tất cả mọi sự, kể cả mọi sự dữ, và con người thì không có ý chí tự do để có thể làm gì khác hơn.
Thiên tai tsunami ngày 26 tháng 12 năm 2004 đã giết gần 160.000 nhân mạng không thể là do ý định của một Thượng đế toàn thiện. Nếu các quốc gia vùng Ấn Độ Dương có hệ thống quan sát, báo động kịp thời, thì chắc chắn con số tử vong sẽ không quá cao như vậy. Nếu cho rằng đó là ý định của Thượng đế để “trừng phạt loài người và ban thưởng món ăn ngon lành cho những loài vi sinh vật sống nhờ việc phân hủy xác chết” như tác giả đã viết, thì con người không nên xây dựng một hệ thống báo động, vì con người, một loài vật thụ tạo hữu hạn, làm sao có thể cưỡng lại ý định của một Thượng đế toàn năng, vô cùng? Theo thuyết vũ trụ được tạo dựng (Creationism) thì con người là trung tâm điểm của vũ trụ, và tất cả mọi tạo vật khác được Thượng đế dựng nên chỉ để phục vụ con người. Vậy tại sao Thượng đế lại giết một lúc gần 160.000 nhân mạng để nuôi loài vi sinh vật? Không lẽ mạng con người mang hình ảnh của Thượng đế không đáng giá bằng mạng một vi sinh vật? Việc chống lại ý định của Thượng đế là một trọng tội. Phải chăng những cố gắng của thế giới đang cứu vớt và làm dịu nỗi đau khổ của hàng triệu nạn nhân tsunami không phải là đang chống lại ý định của Thượng đế sao? Nhìn số nạn nhân con nít chưa đủ tuổi để ý thức được điều tội đang trở thành “món ăn ngon lành cho những loài vi sinh vật sống nhờ việc phân hủy xác chết” để ý định Thượng đế được thành tựu thì không ai là không phẩn nộ trước thái độ vô tâm của đồng loại. Chỉ cần Thượng đế có trái tim của một bà mẹ thì thiên tai này chắc chắn đã không xảy ra. Con người thường hay thích đơn giản hóa vấn đề bằng cách sáng tạo ra Thượng đế để giải thích những gì con người chưa biết tới mà không thấy hậu quả những mâu thuẫn trong luận lý. Danh từ “sóng thần” trong tiếng Việt cũng mang dấu vết còn sót lại của duy thần chủ nghĩa ngày xưa.
Thực ra khi xác định giá trị của một vật hay một hành động là chúng ta đang áp đặt những ham muốn (desires) chủ quan của chúng ta trên vật hay hành động đó. Không có hành động hay vật nào tự nó tốt hay xấu, bởi vì không có cách nào, dù là cách tưởng tượng, để định khác biệt về giá trị, nên bắt buộc chúng ta phải kết luận rằng sự khác biệt về giá trị là do thưởng thức (taste) chứ không phải chân lý khách quan.
“Vấn đề định giá trị điều gì tốt hay xấu phải độc lập với những hậu quả của những điều đó. Những người bảo vệ tôn giáo cho rằng vấn đề đó nằm ngoài phạm vi của khoa học. Tôi nghĩ họ đúng trong nhận xét đó, nhưng tôi muốn đưa ra một kết luận xa hơn mà họ không có, rằng vấn đề định giá trị nằm ngoài phạm vi của tri thức. Có nghĩa là khi chúng ta định giá trị, chúng ta diễn tả ra bên ngoài những cảm xúc của chính chúng ta chứ không phải diễn tả sự kiện, mà sự kiện thì có thể vẫn còn đúng mặc dù cảm xúc đã thay đổi.” [1] Như vậy định một điều tốt hay xấu để thưởng phạt thì hoàn toàn chủ quan, mang nặng cảm tính, không phải là công việc của khoa học. Hoả ngục, nơi để phạt những người tội lỗi, trở nên hoàn toàn vô lý. Nếu con người không còn ý chí tự do để hành động thì ý niệm hỏa ngục (hay thiên đàng) lại càng vô lý hơn. Ý niệm hỏa ngục chỉ làm con người sợ hãi, mà sợ hãi là nền móng của đức tin tôn giáo. “
Tôn giáo, tôi nghĩ, được đặt nền móng chính yếu và nguyên thủy trên sự sợ hãi. Đó một phần chính là nỗi sợ hãi những gì bạn không biết và một phần, như tôi đã nói, là niềm ước muốn cảm thấy có một ông anh đứng bên bạn cho mọi rắc rối và tranh chấp. Sự sợ hãi là căn bản của toàn vấn đề - sợ những gì bí ẩn, sợ thua, sợ chết. Sợ hãi là cha đẻ của tàn ác, và do đó không có gì để ngạc nhiên nếu thấy sự tàn ác và tôn giáo đã cùng nắm tay bên nhau”. [2]
Tôi không thể đồng ý với tác giả khi tác giả viết rằng: “Cho đến ngày nay thì chúng ta biết rằng đức tin ấy là có cơ sở khoa học…” Tôi không thấy tác giả cho độc giả biết dựa vào đâu để tác giả xác quyết điều đó. Nếu đã có cơ sở khoa học thì đâu cần phải gọi là đức tin, mà phải đổi thành chân lý khoa học mới đúng. Cho đến nay chưa có khoa học nào, kể cả luận lý học, có thể chứng minh bằng những phương pháp khoa học có một Thượng đế hiện hữu, nghĩa là chẳng có đức tin nào có cơ sở khoa học.
Kết luận
Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả khi tác giả nhận định rằng Thượng đế hiện hữu hay không là do quan niệm và đức tin của mỗi người. Nhưng điều này lại mâu thuẫn với điều mà tác giả vừa viết ở phần trên rằng “đức tin ấy (tin có một Thượng đế đã tạo dựng vũ trụ) là có cơ sở khoa học” đã được bàn rồi. Những gì đã có cơ sở khoa học thì chẳng cần đến đức tin nên đâu cần phải tùy thuộc hay không. Thực ra Q. Smith muốn đưa ra một lý luận đối nghịch với lý luận cổ điển có một Thượng đế tạo dựng vũ trụ có nguồn gốc từ Kinh thánh. Cũng nên biết rằng, hiện nay bên Mỹ lý thuyết tiến hóa (Evolutionism) của Charles Darwin đang được giảng dạy ở các trường trung học, còn lý thuyết vũ trụ được tạo dựng (Creationism) đang bị bứng dần khỏi học đường vì không có cơ sở khoa học và vì nguyên tắc tôn giáo tách rời khỏi chính quyền, mặc dù cả hai vẫn còn đang là những giả thuyết.
Ở phần kết luận, tác giả cố tình đồng hóa Thượng đế với những ý niệm mới của thời đại khi tác giả viết “Nếu một nguời nào đó kiên quyết loại bỏ danh từ Thượng đế, thì rốt cuộc anh ta hay chị ta vẫn phải tìm một danh từ khác đại diện cho cái thế lực đã buộc vũ trụ phải như thế này chứ không phải thế khác.” Những từ mới mà tác giả liệt kê như “vũ trụ và các định luật khoa học”, “trùng trùng duyên khởi “ hay “trời sinh ra thế” thì có một ý nghĩa hoàn toàn khác với một Thượng đế trong truyền thống Kitô giáo. Những từ mới này thì vô hồn, máy móc, nhất định, không có ý chí tự do, hoàn toàn khác với một Thượng đế toàn năng, toàn thiện, toàn quyền sinh sát trong Kitô giáo. Vậy có ích gì để tôn thờ cái máy vi tính hay chiếc máy bay, mặc dù chúng có thể làm được những điều kỳ diệu hơn con người? Không những bình rượu khác nhau mà rượu trong bình cũng khác nhau hoàn toàn. Bởi vậy, ngày nay người ta phân biệt ra hai loại Thượng đế. Một Thượng đế của những nhà thần học dựa trên đức tin, và một Thượng đế của những triết gia dựa trên lý trí. Ý niệm về Thượng đế của các triết gia thì trùng hợp với những ý niệm mới vừa đề cập ở trên, chẳng hạn như định luật khoa học, định luật thiên nhiên, mẹ thiên nhiên, lực hút, lực xô đẩy, lực chuyển động, năng lượng… Đúng hơn, các triết gia thời đại đang có khuynh hướng tránh dùng từ Thượng đế trong các bài viết của họ
. “Triết học thời đại đang đi theo hướng của các nhà khoa học. Hoặc là nó trực tiếp từ chối sự hiện hữu của Thượng đế và đòi buộc từ Thượng đế chỉ để dành cho hiện tượng của lịch sử mà từ đó (danh từ Thượng đế) khởi thủy phát sinh, hoặc nó định nghĩa lại từ Thượng đế sao cho từ đó mất hết ý nghĩa nguyên thủy và trở thành tên của các lực chuyển động mà các khoa học gia nói đến”. [3]
Vậy rượu đã đổi khác thì việc chọn bình đựng khác cũng là việc nên làm, rất dễ hiểu.
© 2005 talawas
[1]Bertrand Russell, Science and Ethics,
Religion and Science, Oxford University Press, 1961.
[2]Bertrand Russell,
Why I am not a Christian, trang 22, George Allen & Unwin LTD., 1957.
[3]S.E. Frost, Jr. Ph.,D,
Basic Teachings of The Great Philosophers, trang 126, Anchor Books, A Division of Random House, Inc. New York.