talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (10)

07/11/2009 | 8:57 sáng | 8 phản hồi

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Chuyên mục: Đời sống
Thẻ: >

(Xem kì 1, kì 2, kì 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9)

Đúng là ở nơi “cáo ho chim hót” hơn 3 năm, chả biết khỉ gì, một sáng Chủ nhật chúng tôi đi chợ trời Bathgate, rẽ vào thăm vợ chồng S., gặp anh chị Ph., chị gái anh rể S., chúng tôi biết nhau từ dạo ở Wishaw, sau vài câu chào hỏi xã giao, anh chị khoe sắp chuyển về London. Tôi chưa hiểu mô tê gì, bởi vì gia đình anh được định cư ngay Wishaw, không những thế còn sát trung tâm, vợ anh làm thợ may một xưởng gần nhà, thật lý tưởng, sao lại di chuyển. Anh Ph. bảo, rất nhiều gia đình đã chuyển, chỉ có các anh (chúng tôi) không biết. Tôi hỏi, về London nhà đâu mà ở. Xì, đúng là ngố, vào hostel, sau đó xin nhà council hay đập nhà. Lại còn thế nữa. Đập nhà? Ừ, đập nhà chứ sao. Cứ chọn nhà nào của council, không có người ở, đập cửa kính, chui vào, mở cửa trước dọn tất cả đồ đạc, chiếm, thế là xong. Nói nghe sao dễ vậy. Không bị truy tố à? Có, ra tòa, phạt 25 bảng, rồi nhà nước cho ở luôn. Thật không? Sao không thật, dối làm gì. Tụi tôi đang rủ vợ chồng S. đây. Có muốn chuyển không? Anh chị nói như chuyện đùa, làm sao vào được hostel. London có vài chục hostel đang ế khách, người đi trước giúp người đi sau, chỉ cần báo trước 1 tuần nó chuẩn bị ngay, nếu hostel này chật, nó giới thiệu sang cái khác, thiếu giống gì. Vợ chồng S. cười, chúng mình ở đây chả biết mô tê gì, gia đình H., gia đình Đ, gia đình L. ở Trại Thỏ chạy về tháng trước rồi, có thư gửi đây. Ph. đưa tôi xem. Chịu không hiểu, trời trăng, mô tê gì. Anh chị Ph., có cả giấy buồng thuê hostel, gồm 7 giường đơn, bố mẹ già, 3 con nhỏ, tiền thuê 150 bảng/tuần. Tiền ai trả? Đã bảo Sở Xã hội trả mà. Sao mỗi người một giường? Ô hay, nhà trọ mỗi người một giường, có phải hotel đâu. Vẫn chưa hiểu, thế giường chiếu, tủ lạnh, máy giặt… của mình để đâu? Có kho để tạm, khi nào ra nhà riêng chuyển đi. Không nấu nướng gì? Làm gì có bếp, mua thức ăn bán sẵn, rẻ mà. Cố chịu một thời gian, có nhà riêng tính sau. Các ông đúng là dân Mán, dân “Cơm đồ nhà gác…” chả hiểu gì sất.

Tất cả những gì anh chị Ph. cho biết ngoài sức tưởng tượng, tôi Mán thật. Mán là phải, tôi đã từng ở trong làng bản người dân tộc địa phương khá lâu, hai lần sơ tán, gần 5 năm trong núi cao rừng thẳm, làm sao mà chẳng Mường, Mán. Nơi mà dân gian có câu: “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui, tháng tới”, phong tục tập quán như thế nào, xin dẫn chứng.

Sau khi nộp hồ sơ và từ chối “thiện tình của đồng chí phó bí thư Đảng ủy”, tôi được cô nhân viên trong phòng tổ chức hành chính đưa đến tá túc một gia đình người dân địa phương trong thời gian đợi bệnh viện làm xong lán trại. Đó là căn nhà sàn của người Mường, khá rộng, lẩn trong bìa rừng, ngày họ sơ tán vào rừng sâu, dựng lều ở tạm, gọi là Chuội, lặn mặt trời mới về. Thời bấy giờ dân miền xuôi còn nghèo huống chi cuộc sống của người nông dân miền núi vùng sâu vùng xa. Dân ở đây rất nghèo, tháng ba, ngày tám năm nào cũng đói, lũ lượt kéo vào rừng đào củ mài (hoài sơn), củ vớn, ăn thay cơm. Củ mài rất khó tìm, đào được, một gốc dăm kí-lô, củ mài ngon, đông y gọi hoài sơn, cả nhà đỡ đói dăm hôm. Củ vớn chát xít, gọt vỏ, nạo nhỏ, ngâm nước một ngày cho đỡ chát, đem đồ chín, chát và khó nuốt nhưng còn hơn bụng đói. Người dân xóm Th. thời bấy giờ vẫn còn mang nhiều tập tục hái lượm, không trồng rau, ra khỏi nhà, bao giờ cũng đeo gùi, có “chỏ” (giỏ) hay màn (giỏ cua) đeo bên hông. Gặp bất cứ rau rừng, măng, mộc nhĩ, nấm… ăn được đều hái cho vào gùi, cua đá, cá, ếch, nhái, ốc suối… bắt được bỏ vào “màn” hay “chỏ”, đem về nấu làm canh (món ăn). Bữa ăn gồm cơm, canh; canh là những món ăn như thịt cá, rau, đậu, thậm chí chỉ có món canh hổ lốn nấu bằng tất cả thứ rau hái, cua, ốc… trên đường lên nương, đi củi, ra ruộng. Một lần tôi đem cơm tập thể về, vừa đúng bữa cơm chiều của mế B., gia chủ, mời ngồi ăn chung, nể quá đành mang cạp-lồng đựng suất cơm góp mâm, mế gắp cho miếng măng. Trông thật ngon lành, cắn vào, chao ôi, đắng hơn ký ninh, nuốt không nổi, lúng búng mãi, đành lấy khăn mùi-xoa vờ lau mồm, nhè vào. Hỏi, măng gì thế mế, mế cười, măng đành hanh, măng tuy đắng, ăn bổ và mát lắm. Mát hay bổ cũng chịu, đắng quá, mướp đắng, hoa đu đủ đực, tôi cũng hàng luôn.

Nhà sàn nơi nào cũng na ná giống nhau, chỉ khác sàn, liếp che xung quanh, bằng gỗ hay bương tre nứa. Bình thường cột nhà bằng cột gỗ rừng, ngâm suối khá lâu để tránh mọt, chân cột kê đá, sàn cao hơn đầu người, có hai cửa lên xuống, cửa chính cho đàn ông và cho khách, cửa sau dành cho phụ nữ lên xuống bếp, sạp phơi quần áo… Nhà giàu, ghép ván gỗ, ba gian 2 trái, gian giữa bếp lửa bập bùng ngày đêm hoặc có chiếc đèn dầu tim bấc vặn thật nhỏ, giữ lửa. Nhà nghèo, một gian 2 trái, liếp nứa, sàn bương, mái tranh, đêm thanh vắng, ai cựa mình hay dậy đi đâu đều nghe tiếng cọt kẹt. Gầm sàn thường buộc trâu bò, chuồng gà chuồng gia súc và chứa củi khô, đại để đó là nhà kho hầm bà làng. Nhà khá giả, có tấm gỗ bằng chiếc giường đôi đặt lên sàn, không kê niễng, phản tiếp khách, xung quanh có cửa vóng (cửa sổ), cửa này dành cho chủ nhà đàn ông, đàn bà (vợ, con gái, con rể) không được ngồi sát cửa vóng. Ban đêm trải chiếu lên sàn, thành giường ngủ, vợ chồng có buồng riêng sát cửa sau, ngăn cách bằng bức liếp. Nằm trên sàn, có khi nằm ngay trên lưng trâu, mùi hôi và tiếng thở phì phò dưới lưng, tìm chỗ khác thật khó, không được nằm chắn ngang lối đi.

Được hai tuần, đang đêm khuya nghe tiếng thanh la, mõ gõ liên hồi, choàng tỉnh, tôi hỏi cậu B., gì thế, bảo, cọp về bản. Tiếng thanh la, mõ đuổi cọp bên trại nuôi trâu bò xóm H. còn gì nữa. Cả nhà tỉnh, lửa bếp bùng sáng, cửa trước cửa sau, cửa vóng buộc chặt, cài thêm then. Mế B. kể chuyện cọp, cho tôi xem một vệt sẹo dài gần 20 cm ở lưng, sâu hoắm, bảo, cọp cào đấy. Đêm ấy, cọp về bản, hồi ấy mới đôi mươi, mế ngủ say, móng cọp luồn qua khe sàn bương, cào qua chiếu, mất hẳn mảng thịt lưng dài, đắp thuốc hàng tháng mới lành đấy. Động rừng, cọp về bản bắt trâu bò, lợn thường xuyên. Mế tiếp, nhiều cọp lắm, từ khi chính phủ làm đường 12B (1960), cọp sợ tiếng mìn phá đá, chạy sâu trong rừng, bây giờ ít rồi. Nghe chuyện, thót tim, dựng tóc gáy, sởn da gà, đêm không dám đi đâu một mình. Một lần, đang đẩy xe đạp lên dốc, thấy ngay bên cửa rừng có biển thông báo nước sơn còn tươi, cọp xuất hiện tuần trước, sợ quá, đạp xe một mạch leo dốc. Tới đỉnh, thở không ra hơi, trời lại nhập nhoạng tối, đành ngủ nhờ anh bạn ở hạt kiểm lâm, không dám đi đêm qua đường rừng. Ấy thế, tôi chưa gặp cọp, báo, gấu bao giờ mặc dù mấy năm sau, dám vác súng hai nòng, theo người địa phương đi săn đêm.

Nhà kiểu này có nhiều tiện lợi:

-  Sàn nhà bằng bương hay gỗ, ban đêm giải chiếu, thành giường;

-  Tránh được thú dữ, trăn, rắn… bò vào;

-  Gầm sàn, chuồng trâu bò, lợn gà, chứa củi… kho tổng hợp mà chủ nhân có thể theo dõi quản lý dễ dàng;

-  Tất cả đất cát, bụi bặm, rác trên sàn… quét ngay qua khe, xuống gầm, tiện lợi.

Nhà người Mán khác, nửa sàn nửa đất, tạm bợ, phải chăng người Dao (Mán) ở vùng cao hơn, sống du canh du cư, nhà làm sơ sài, không kiên cố?

Nhà người Thái to rộng hơn nhà người Mường, mái tranh rất dầy, từ 30 cm trở lên, khác mái tranh người Mường mỏng. Thái có Thái Trắng và Thái Đen, không phải vì màu da, khác nhau chút ít về họa tiết hoa văn váy áo. Người Thái Trắng ở Sơn La, Điện Biên, Thái Đen ở Mai Châu, Hòa Bình. Điệu múa xòe nguồn gốc của người Thái, lang người Mường lập đội xòe cải biên đôi chút, giúp vui cho nhà lang dịp lễ Tết, quan châu sang thăm.

Nhà người Mông (Mèo) Mai Châu, mỗi thung lũng có một xóm (bản) dăm nhà, nhà đất rất to, xung quanh toàn ván đẽo bằng dìu, ghép lại, không cửa sổ, có một cửa ra vào, ván toàn gỗ lát hoa, lát chun, cột nhà sến, táu, trai, lim, toàn gỗ quý hiếm, trăm năm cũng không mối mọt. Lợn, gà, bò… thả rông, lẩn quẩn quanh sân, thấy người, ùa theo đòi ăn, đuổi cật lực mới có lối mở cửa. Nhà tối om, mờ mịt khói bếp, vài phút, quen bóng tối mới nhìn thấy rõ. Giữa nhà, bếp lửa bập bùng ngày đêm, trên bếp có giàn phơi ngô bắp, hong thịt. Món thịt sấy khô này là món đặc sản của người Mông, khách quý mới đãi. Thịt nấu xong, gắp bỏ mồm, mùi ám khói nồng nặc, mùi thum thủm của thịt ôi tiết ra, ói muốn chết. Người Mông trồng cây thuốc phiện (anh túc), ngô, món ăn chính hàng ngày là ngô xay đồ chín, gọi là mèn mén, thịt sấy và cây anh túc non làm rau. Người Mông ăn nhạt, ngày xưa thiếu muối, đốt cỏ gianh, lấy than thay muối.

Nhà nào cũng vài ang to chứa nhựa thuốc phiện sống, vài héc-ta nương thuốc phiện, ông già hầu hết nghiện, có người dậy từ 3, 4 giờ sáng hút 30 điếu, 9, 10 giờ sáng mới đã cơn. Đàn ông săn bắn, đàn bà con nít lên nương, cạo mủ quả thuốc phiện. Váy áo đều tự dệt, nhuộm, cắt, khâu thêu lấy. Thời ấy, miền Bắc có hai khu tự trị, Tây Bắc và Việt Bắc, chính sách ưu đãi người dân tộc, đặc biệt Dao, Mông, không phải đi nghĩa vụ quân sự, trồng và hút thuốc phiện không bị bắt như ngày nay, chỉ cần cai thuốc là được vào Đảng. Phải chăng ưu đãi để người Mông Việt Nam không theo người H’Mông Lào do tướng Vàng Pao làm thủ lãnh, ngay sát biên giới? Hiện nay tướng Vàng Pao định cư ở Hoa Kỳ.

Con trai Mông thổi khèn, giai điệu cứ í lên ộ xuống, cao thấp như đường về bản lên đèo xuống dốc, quần đen rộng ống, thắt dây rừng, áo hở rốn, tay áo vân hoa từng vòng từ khuỷu xuống cổ tay. Rượu ngô uống bát, không biết say. Gái Mông dậy thì khá sớm, mười lăm, mười sáu má đã ửng hồng, như trái đào rừng chín, mắt sắc như dao, thổi kèn lá, kèn môi tìm bạn tình mỗi khi xuống chợ phiên.

Nhà nước thu mua thuốc phiện làm thuốc giảm đau trong y tế. Lái xe, con buôn vào bản mua chui, dân bán xong, đi tắt đường mòn qua dẫy núi đá nhanh hơn xe ô tô đi đường quốc lộ, báo công an huyện, chờ lĩnh thưởng. Hơn 90% con buôn bị cảnh sát tóm gọn, nhẹ chung thân, nặng dựa cột. Lãi quá lớn, 50 đồng/ kg về Hà Nội 2500 đồng /kg, biết chết vẫn ham.

Đó là hai xã Hang Kia, Pà Cò nơi tôi đã đến 2 lần 1968, 1971. Bây giờ, du khách khắp nơi đổ về, con gái Mông nói tiếng Anh như gió, điện thoại thuộc hàng độc, nhiều trẻ da trắng, mắt xanh mũi lõ, tóc vàng lác đác trong các bản ở Sa Pa như phóng sự báo VietNamNet đưa tin.

Khách đến nhà người Mường, đa số không giày dép, trước khi lên cầu thang phải rửa chân, gáo bằng đoạn nứa cưa ngắn, cán tre, mỗi lần múc nước, khách khua thành ang, tiếng gõ báo có khách. Chân sạch, bước theo từng hòn đá dẫn đường, đưa khách lên nhà.

Rất may nhà mế B. chỉ có hai mẹ con, cậu con trai khoảng 17, nhanh nhẹn, vui tính, ngày vào chuội trốn máy bay Mỹ, đêm mới về nấu ăn, ngủ coi nhà, cho trâu, lợn gà ăn.

Lần đầu tiên ra suối tắm, con suối khá rộng, nước ngang ngực, trong vắt, nhìn rõ cá bơi tung tăng, từng hòn đá to nhỏ dưới đáy. (Xin nói thêm, nước suối thường có con tấc, một loài vắt cực nhỏ, như sợi lông, bám rêu đá, ai vô tình vốc nước rửa mặt, vốc phải, con tấc nhanh chân chui vào mũi, làm tổ bám ngay xương cuốn, hút máu để sống. Mỗi năm, khoa Tai Mũi Họng bệnh viện tôi gắp được vài con trong hốc mũi bệnh nhân. Có con gắp ra, to, bằng đỉa hẹ, bé, bằng vắt cụ, rất nguy hiểm.) Tìm được bụi khá kín đáo, nhìn trước nhìn sau không có ai, mặc quần lót, xuống tắm. Nước mát rượi, quên hết chuyện bực mình với lão phó bí thư. Từ xa tiếng líu lo, cười đùa của sơn nữ từ lối mòn ven rừng vọng xuống, ngửng nhìn, bốn cô gái trẻ, váy áo Mường, đi lên đầu suối, cách chừng 5, 6 mét, lội dần xuống. Nước đến đâu các cô nâng váy cao đến đó, tới đỉnh đầu buộc túm lại, đội lên đầu, ngâm mình xuống dòng suối trong. Tôi ngượng quá, lần đầu tiên gặp sơn nữ tắm khỏa thân ngay trước mặt. Các cô thật vô tư, coi như chẳng có chuyện gì, còn tôi vô tư sao được. Đối với người thày thuốc, ai cũng học giải phẫu cơ thể người, hàng ngày tiếp xúc với bệnh nhân, có gì là bí mật đâu. Nhưng đây là những cô gái tuổi trăng tròn, tất cả ngồn ngộn một tòa thiên nhiên trước mặt, làm sao mà không cảm xúc. Tôi vội trườn dần xuống phía dưới về phía bụi kín, nơi để quần áo, không dám thay, mặc cả quần ướt. Bước ra đường cái, đã thấy ngay bốn cô đi về phía tôi. Cả bốn cô tươi cười, líu lo tiếng Mường, trong như chim hót. Thấy tôi ngơ ngác, chẳng hiểu, bốn cô cười rũ rượi, một cô nói tiếng Kinh:

“Chào cán bộ, cán bộ mới về công tác phải không?”

Đi chậm lại, chờ, tôi hỏi:

“Chào các cô. Sao các cô biết tôi mới về?”

Bốn cô lại ôm nhau cười:

“Chúng em biết hết các cán bộ ở đây mà.”

“Các cô đi đâu đấy?”

“Chúng em họp dân quân về.”

Tối hôm ấy, trăng sáng vằng vặc, tôi ra kho hợp tác, nơi “đóng quân” của các gia đình bệnh viện, ngồi xuống bực thềm, nghe hát đối đáp của trai gái bản, tiếng hát vang giữa đêm thanh vắng dội vào vách đá, như tiếng vọng của núi rừng.

Ti no, mả vọi mả vang

Chan đap phái đà, chan quang phái day

Thung thang nhu chung en đay,

Chang đap phái đà, chang day nao quang

(Đi đâu mà vội mà vàng,

Chân đạp phải đá, chân quàng phải dây,

Thủng thẳng như chúng em đây,

Chẳng đạp phải đá, chẳng dây nào quàng.)

Dân ca Mường

Chẳng hiểu gì, tôi vẫn ngồi đến khuya. Sáng hôm sau, chi D., y tá có tuổi, bảo, cả đêm, mấy cô tỏ lời với chú, chú có hiểu không? Hiểu sao được, các cô hát tiếng Mường, chịu. Tình sơn nữ trong sáng như thế đó. Thích ai, tỏ liền, đến nơi đến chốn, chẳng vòng vo, hết ngoại thành vào phố cổ, gái Hà Thành vẫn lặng thinh. Hễ anh cán bộ nào tán tỉnh, dính vào, hôm sau khoe cả xóm, chạy đằng trời. Cô nào cũng thích cán bộ, người xuôi. Con trai Mường, Mán thích con gái xuôi, hỏi, tại sao thích, bảo, đít nó có gân! Con gái xuôi mặc quần lót, đôi khi thấy rõ. À ra thế!

Mỗi gia đình người Mường đều có một dụng cụ để đồ cơm, đồ xôi, bằng gỗ thân cây mềm, khoét rỗng ruột, đáy có vỉ tre, đổ gạo không lọt, phía dưới đẽo thắt một chút, tạo dáng, nẹp tre vòng quanh hai đầu khỏi nứt. Chõ đồ, gọi là cốp, nồi đáy bằng đồng thau, gọi là viềng. Ngày xưa nấu cơm họ đồ, không nấu như ngày nay, sợ nhão hay khô.

Suối thường xa nhà, tránh mùa lũ, không có thùng gánh, cắt từng đoạn bương, 4 đến 5 đốt, đục xuyên ruột, một đầu cắt vát, làm ống lấy và đựng nước. Nước đầy, vác về đổ vào ang hay vại to, ống bương dựng quanh nhà.

Giỗ Tết, mổ lợn, không cạo lông, dù cạo, vẫn đốt lửa thui như thui chó. Món lòng, cho thêm đỗ xanh vào dồi tiết, như dồi chó.

Người Mường tính ngày âm lùi 1 ngày so với lịch âm miền xuôi, đêm 30, giao thừa, bảo, 29, thực ra họ cũng vẫn cúng giao thừa và ngày mồng 1 Tết. Lý do vì sao, tôi chịu không biết. Có phải ngày xưa người Mường có lịch riêng, nay đã thất truyền? Còn tháng tới (sớm 1 tháng) tôi không thấy làng bản nào thực hiện.

Câu ca “Cơm đồ, nhà gác, nước vác, lợn thui, ngày lui tháng tới” là như vậy.

Hostel theo đúng nghĩa là thứ nhà trọ rẻ tiền, mạt hạng, dành cho những người nghèo lỡ độ đường, khách du lịch không ai bước chân tới. Không biết ai làm “quân sư” vạch đường đã giúp tỵ nạn Việt Nam vào tạm trú các hostel này. Chủ hostel tính đầu người, giường, chứ không tính theo phòng. Nhà 7 người, phòng rộng, kê 7 giường đơn hoặc 2 phòng 7 giường. Vải trải giường, gối đệm cũ rích, hôi mù, chẳng ai dám dùng, toàn lấy của nhà ra thay. Quần áo, chăn màn đem ra tiệm tự giặt. Một hostel mèng ra cũng chứa được 40 chục người lớn bé, già trẻ. Tất cả “khách trọ” đem thẻ ký thất nghiệp (U40) trình, chủ hostel sẽ giúp điền form, chỉ nơi đến ký tiền thất nghiệp và nộp form xin tiền trợ cấp. Chuyện lớn, ấy thế lại thật dễ dàng bởi chính sách của nhà nước U.K hồi ấy ưu đãi người thất nghiệp, kẻ vô gia cư. Cái bất tiện ở hostel ai cũng giấu biệt, đó là sự lộn xộn, xô bồ của một đám đông tứ xứ, vô tổ chức, chủ hostel chỉ biết thu tiền, còn chuyện trật tự trị an, chúng mày tự quản. Chính vì lẽ đó, thư từ, séc (cheque) tiền trợ cấp gửi, thường bị kẻ xấu lấy cắp, kiện cáo cãi nhau loạn xạ. Buồng ở như nhà hoang, ra vào đều dễ dàng, như các A tỵ nạn Hong Kong, mất đồ có giời tìm, bởi vì hầu hết người sống trong hostel có người quen ở ngoài, lấy cắp gửi nhà bạn, ma biết. Vì thế, buồng ở chẳng có gì đáng giá ngoài chiếc ti vi màu, máy thu thanh cát-sét, tiền và đồ trang sức giấu kỹ, lấy sao được.

Tôi gọi điện hỏi, chú Th. xác nhận, thông tin của anh Ph. đúng 100%, Port Glasgow, Glasgow và các vùng phụ cận, dân tỵ nạn chạy về London từ năm 1983, đa số vào hostel “tránh bão”, Th. bảo, tiện mà không tiện, hay mà không hay, chán ở trại, bây giờ lại chui vào “trại tỵ nạn” lần nữa, chịu sao thấu, con cái học hành ra sao, bạn em, dân Hà Nội, trước ở gần nhà, cũng chạy về, đi làm báo thuế, thuê nhà riêng, được council giúp một phần tiền nhà, đang đợi list, 6 tháng, lâu nhất 1 năm sẽ được nhà.

Ắn cỗ đi trước, lội nước đi sau, vợ chồng S. chưa đi, xem tình hình anh chị Ph. xuống hostel ra sao và xem tôi chuyển về theo hướng của Th. như thế nào. Mỗi tuần, bỏ túi 120 bảng, vẫn lĩnh tiền trợ cấp, nhà cửa đàng hoàng, vừa mua xe hơi, second hand trông còn khá lắm, máy chạy ngon ơ, tại sao phải rủ nhau chui vào hostel xô bồ, lộn xộn hay phải đi làm báo thuế, è cổ đóng tiền nhà.

Tháng 4-1984, truyền hình BBC1 phát chương trình về người tỵ nạn Việt Nam sống trong các hostel ở London, lộn xộn, bẩn thỉu, so sánh với người tỵ nạn ở Mỹ cuộc sống khá ổn định, khu Tiểu Sài Gòn nhiều siêu thị ra đời. Xem mà thấy ớn. Khi về London gặp những người sống trong hostel, họ vui như Tết, đâu có như phóng viên BBC đưa tin. Hàng tuần lĩnh trợ cấp, ngày làm chui ở các xưởng may, ví mỗi ngày một căng, đói mua Chinese Take-away, fish & chips, khát có Coca, Pepsi, Lager, vừa ăn vừa xem film Hong Kong, Đài Loan, đời vui phơi phới. Con cái đi học hả? Lo gì, chỗ nào mà chả có trường, trường nào cũng giống nhau. Học gì lắm, làm vương làm tướng gì ở đất này, lĩnh trợ cấp, làm chui sướng chán, mai kia có tiền mở xưởng may, nhà hàng. Tiền là Tiên là Phật. Có tiền có tất tần tật.

Số người đập nhà cũng khá nhiều, đa số gia đình có bố mẹ già, đông con nhỏ mới đủ gan. Hỏi một ông, có thâm niên đập nhà, cho chính ông và hai người bạn, sau 25, ông cười, bảo, hồi ấy em ở Liverpool, thằng bạn rủ em xuống, cho ở tạm, tìm nhà council bỏ hoang đập. Vợ chồng em đưa hai đứa bé xuống, đứa lớn ở lại với ông bà. Thằng bạn chỉ điểm, đêm, kiếm hòn gạch, em choang luôn cửa sổ phòng khách, cậy cửa chính, thằng bạn về bào, vợ con em thuê taxi, dọn va-ly, túi xách vào ở. Hôm sau, thằng bạn dẫn đi thuê chữa kính, thay khóa cửa, dắt lên sở xã hội xin ký thất nghiệp, khai địa chỉ nhà đập. Cụ em vẫn ở Liverpool, phòng khi bị đuổi, có chỗ về. Hơn tháng sau ra tòa, em bị phạt 25 bảng, nhưng tòa cho ở vì không thể đuổi con em ra ngoài đường. Tuần sau, đón cụ xuống, bỏ luôn Liverpool. Tôi hỏi, sao anh lại đập 2 cái nữa làm gì? Ấy, thằng bạn cũng ở Liverpool, xuống nhờ, nó sợ, em đập liền, chui vào trong, mở cậy cửa chính. Thế là xong. Không sợ ra tòa à? Ai biết em đập mà tố, tố chăng nữa em chối biến. Hồi ấy, dễ ợt, gặp anh chị, chắc em dám đập hộ, ít người đi làm thuê nhà tư như anh chị lắm. Tốn kém và chờ nhà council lâu, hàng năm chứ ít à.

Chuyện ùn ùn chuyển vào hostel và đập nhà, là lý do có thể trả lời vì sao ở London này có nhiều quận rất đông gia đình người Việt. Bởi vì hostel đa số ở quanh khu đó, council phải giải quyết nhà càng sớm càng đỡ gánh nặng chi trả hostel. Quận Hackney, Lambeth (Brixton), Camberwell, Peckham… mỗi khu có tới hàng ngàn người Việt. Riêng khu Deptford, Greenwich, Woolwich, đa số người Việt nhập cư vào Anh từ 1992. Mỗi khu có nhiều mini-market của người Việt, bán đồ khô Việt Nam, Thái, Tầu, nhà hàng, xưởng may, trong đó có Mare Street, Hackney, gần như down-town của người Việt ở London.

Những năm 1978, 79 người Việt gốc Hoa bỏ Việt Nam chạy tán loạn, về ông nội theo đường biên giới, chạy qua Hong Kong theo đường biển, nay cũng thi nhau chạy về London, ồn ào, sôi động, hễ gặp nhau là bàn chuyện chuyển hay không chuyển.

Chú thím tôi có tuổi, hơn nữa cuộc sống cũng ổn định, cái chính ông bà không có tiền, cả nhà bảo, thôi anh chị về trước, tình hình ra sao chú thím tính sau. Tôi quyết tâm, lý do tránh mùa đông giá rét và vì học hành của tụi trẻ.

Chiều 15-6-1984, đưa vợ con ra bến xe coach Livingston-London Victoria kèm theo bản đồ, địa chỉ nhà chủ. Tôi quay lại Linsay Way dọn đồ lên xe. Lại thuê xe David, lý do, không biết ai ngoài David, dân xế xe van chuyên chuyển hàng đường dài và từng ở London gần 5 năm, thông thuộc đường và giá mềm.

Đồ đạc chuyển gồm: giường, 2 tủ đứng, máy giặt, tủ lạnh, ti-vi, bàn viết, bàn ăn, quần áo chăn màn, nồi niêu bát đĩa… xếp chưa đầy chiếc van loại trung. Bếp gas, thảm, các thứ lặt vặt… tặng luôn anh chàng da đen Kenya, ở Morison Way, làm kỷ niệm. Khu Knightsridge còn lại 3 gia đình, P.H.V., L.V.Dz. và ông bà H. Chia tay, không hẹn ngày tái ngộ. Gia đình Ph. ở Fife cũng xuống, anh chị mua nhà riêng từ đầu năm 1981, không dễ gì chuyển đi, ở đó đến nay.

Mười hai gia đình cùng đến Coltnees House, còn 4, ba nhà chuyển đến Edinburgh mở Chinese restaurant hoành tráng.

Tiễn tôi, ông Peter Chenny theo xe về London. Xếp xong đồ trời đã xẩm tối, David bảo, đường xa đi đêm nguy hiểm, đêm ấy nghỉ tại nhà David. Cửa ngoài đóng chặt, cửa sổ mở toang, đêm không khí trong lành và mát mẻ ùa vào, ấy thế tôi và Peter vẫn ngạt thở, không tài nào nhắm mắt. Peter lắc đầu, chịu, không hiểu sao có người ở bẩn đến vậy. Hy vọng xe chạy, ngủ bù.

Hai giờ chiều 16-6-84, xe đến, vợ con tôi và cô chú Th. đợi từ trưa. Tôi và chú Th. mừng mừng tủi tủi ngày tái ngộ. Chúng tôi đã về London, kinh thành hoa lệ cổ kính của thế giới, nơi mà chúng tôi chưa bao giờ dám mơ ước được sống và lao động.

(Còn nữa)

© 2009 Lâm Hoàng Mạnh

© 2009 talawas blog

Phản hồi

8 phản hồi (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Buồn vui đời tỵ nạn (10)”)

  1. [...] kì 1, kì 2, kì 3, kỳ 4, kỳ 5, kỳ 6, kỳ 7, kỳ 8, kỳ 9, kỳ 10, và kỳ [...]

  2. Dương Danh Huy nói:

    Nhân đây tôi kể thêm những chuyện mà tôi đã chứng kiến, cười ra nước mắt.
    Tôi xin kể môt vài chuyện xử ở tòa án, vì chánh án là bạn thân của tôi, thỉnh thoảng rỗi, tôi đến xem bạn tôi xử án…
    - Dạ, cái mình càng cựa nó càng vào.

    Tôi thử google “hiếp ‘kiễng chân’” thì thấy một số links với truyện cười như sau:

    http://hoibi.net/truyen-cuoi/phai-kieng-chan-len.html

    http://lawsoft.thuvienphapluat.vn/default.aspx?ct=TVQD&id=2849

    Mà có lẽ logic của truyện cười đó (và của chuyện bác Lâm Hoàng Mạnh kể) cũng sai. Kiễng chân không có nghĩa không quy tội hiếp dâm được. Người hiếp dâm có thể doạ người bị hiếp dâm là nếu không kiễng chân lên thì sẽ bị đánh hay giết.

  3. Dương Danh Huy nói:

    Cảm ơn bác Lâm Hoàng Mạnh.

    Sự thật là khi đọc chuyện bác kể tôi không có ý kiến gì, nhưng khi đọc chuyện bác Hoàng Trường Sa kể thì tôi thấy có sự trùng hợp có vẻ không phải là ngẫu nhiên:

    Thích nhất là câu trích trên đây của bác Mạnh vì nó làm tôi nhớ lại sau ngày “giải phóng” 30-4-1975, ở miền Nam người dân thường kháo với nhau rằng các cậu bộ đội miền Bắc khi vào “tiếp thu” các thành phố ở miền Nam đã mê tơi gái miền Nam vì cho rằng “gái miền Nam đít có gân”. Lý do cũng y chang như quý cậu trai Mường, Mán thích con gái xuôi trong câu chuyện của bác Mạnh.

    Sự trùng hợp đó không có nghĩa chuyện bác kể không phải sự thật. Cũng có thể là:

    _dân miền Nam đã đặt ra chuyện bác Hoàng Trường Sa kể để chế diễu bộ đội miền Bắc,
    _chuyện dân miền Nam kể là chuyện có thật về một số bộ đội miền Bắc là người Mường, người Mán,
    _con gái miền Bắc cũng không mặc quần lót, như con gái Mường, Mán (nhưng điều này có thể mâu thuẫn chuyện bác kể ở mức nào đó),
    _bộ đội miền Bắc đem chuyện đó (chuyện có thật) vào Nam, người miền Nam chế biến nó để chế diễu bộ đội miền Bắc,
    _trong văn hoá giới tính Việt Nam, có v/d đặc thù về “đít có gân” mà tôi không biết tới.
    _vv

    Còn chuyện này bác kể:

    Gia đình cô gái Mán tố cáo anh hàng xóm hiếp dâm con gái mình ở gốc cây. Chánh án hỏi cô gái:
    _Cái mình thấp thế kia, làm sao nó “làm cái mình được”?
    _Dạ, cái mình kiễng chân lên.

    Thì tôi có được nghe một nghiên cứu sinh người miền Bắc kể một chuyện tương tự như một chuyện cười (hiếp dâm ở gốc cây, quan toà hỏi về thấp, cô gái trả lời kiễng chân – nhưng không có khía cạnh Mán). Cũng có thể là bác đã được chứng kiến phiên toà nguồn gốc của chuyện cười mà nghiên cứu sinh kia kể.

  4. Lâm Hoàng Mạnh nói:

    @Dương Danh Huy.
    Bác Dương Danh Huy thân mến, chuyện tôi kể hoàn toàn sự thật, không hề có tính chất “khinh miệt người thiểu số, người kém văn minh hơn” đâu.

    Người Dao (Mán), Mèo (Mông), Mường (Ao Tá) cách đây gần 1/2 thế kỷ, thật thà và khôn vặt, nhưng còn khờ nhiều lắm. Nhân đây tôi kể thêm những chuyện mà tôi đã chứng kiến, cười ra nước mắt.

    Tôi xin kể môt vài chuyện xử ở tòa án, vì chánh án là bạn thân của tôi, thỉng thoảng rỗi, tôi đến xem bạn tôi xử án.

    1-Chuyện thứ nhất:
    Gia đình cô gái Mán tố cáo anh hàng xóm hiếp dâm con gái mình ở gốc cây. Chánh án hỏi cô gái:
    _Cái mình thấp thế kia, làm sao nó “làm cái mình được”?
    _Dạ, cái mình kiễng chân lên.

    Cả hội trường cười ầm lên. Chịu rồi. Tố nó hiếp, mà lại kiễng chân lên cho “vừa” thì làm sao quy tội hiếp dâm được. Toà hỏi, cô gái:
    _Thê cái mình sao không chống cư?
    _Dạ, cái mình càng cựa nó càng vào.

    2-Toà kết án 1 tháng án treo vì tôi ăn trộm bò.
    Phạm nhân kêu:
    _Tòa cho cái mình tù ngồi thôi, chứ treo 1 tháng cái mình mỏi lắm.
    Cả hội trường cười. Phạm nhân nói tiếp:
    _Cả họ mình ngồi tù để mình chóng hết hạn được không cái cán bộ.

    Trong phần (9) của BVDTN, Kim Liên hỏi Mán cận vệ: Có cao văng mạng không?

    Chuyện này có nguồn gôc của nó. Phiên chợ thị xã bao giờ cũng có người Mán bán thuốc, bán cao. Hỏi cao Hổ hay cao khỉ, cao gấu, cao trăn… đều đưa 1 loại cao. Cao đểu đấy. Chớ có mua. Cao xương bò, xương trâu, xương lợn chứ làm gì có lắm xương hổ, xương gấu… thế

    Mua chè của Mán, thường bị lừa:
    1-Chè uống rồi, sao lại trộn lẫn 1 ít chè chưa uống, đem bán.
    2-Dưới đáy chiếc bị đựng hàng, hàng bao giờ cũng buộc hòn đá ở dưới cho nặng cân.

    Một lần tôi đi chợ phiên, anh chàng Mán rút ngay chiếc bút máy (cây viết)tôi cài ở túi áo ngực, bảo:
    _Cho cái mình đi, phiên chợ sau cái mình đem chè cho.
    Nói rôì, chỉ tay lên đỉnh núi cao, có giải rừng già, bảo tôi:
    _Nhà cái mình ở đấy.

    Trời đất, biết nó là ai, ở mãi trên núi cao rừng sâu. Tôi bảo:
    _Cái mình không bán đâu, caí mình cũng không uống chè. Trả bút cho cái mình.
    Đòi mãi mới được.

    3-Một cậu xét nghiệm viên, đưa lọ Péniciline không, bảo tay Mán:
    _Cái mình đi ỉa, lấy 1 ít cho vào lọ này, rồi mang đến đây.

    Nửa tiếng sau, tay Mán đem 1 gói (phân) to xù, bảo:
    _Cái của mình đây, cán bộ lấy hộ, chứ lọ bé thế kia ỉa không vào được.
    Chịu hết nổi.

    @Binhbien.

    Cửa hàng thuốc Mai Lĩnh đối diện với rạp chiếu bóng Công Nhân phồ Cầu Đất, tôi biết. Hồi xưa (trước năm 1960) có ông bán quầy thuốc, mắt cận ghê lắm, mỗi lần xem đơn, ông phải đeo 2 kính cận dầy cộm, dầy hơn cả đít chai.

    Nếu bạn Binhbien muốn tôi giúp, xin cho biết them 1 vài chi tiết nhu : số thuyền đến Hong Kong, định cư ở London năm nào, tên con cái… vì theo như Binhbien ông Lương đã ngoại 80, chắc con cháu rất đông, nếu có thể tôi sẽ giúp. Nhưng nếu cụ Lương, hay thân nhân cụ hỏi, ai nhờ. Chả nhẽ tôi bảo có ông Binhbien nhờ. Chắc ông Lường hay con cháu ông “đì” cho tôi 1 trận vì “xạo”, làm gì có quen ai Binhbien (không dấu khó đánh vần) như thế.

    Bạn Binhbien không muốn công khai tên thật, xin liên hệ qua Talawas. Tôi sẽ cố gắng giúp.

  5. vantruong nói:

    Tôi nghĩ chuyện giễu có thể là tự giễu (auto dérision) như Jewish humour của người Do Thái tự giễu mình, như chuyện sau:
    Sau khi Sa hoàng Nicolas II (Nga) bị ám sát, một quan chức Ukraina đe dọa một ông rabbi (giáo sĩ Do Thái?):
    - Xin ông cho tôi biết ai là kẻ chủ mưu giựt dây chuyện này?
    Ông rabbi trả lời:
    - Úi zời! Tui nào biết ông ơi, nhưng dù sao đi nữa, nhà nước sẽ đi đến kết luận như mọi lần, “Thủ phạm là người Do Thái và người quét ống khói.”
    Ngạc nhiên quan Sa (hoàng?) buột miệng:
    - Ủa tại sao là thằng quét ống khói?
    Ông rabbi:
    - Ủa zậy tại sao là người Do Thái?

  6. Dương Danh Huy nói:

    Chuyện bác Lâm Hoàng Mạnh kể cộng với chuyện bác Hoàng Trường Sa kể có thể nói lên điều đó là chuyện một nhóm đặt ra để chế giễu một nhóm khác là kém văn minh hơn mình (con gái nhóm kia không mặc quần lót).

    Hai chuyện đó nối tiếp nhau cũng có thể nói lên điều nếu mình chế giễu người khác (như người miền xuôi Bắc chế giễu người thượng Bắc) thì cũng sẽ có người chế giễu mình (như người Nam chế giễu người Bắc).

    Hai bác ở Anh và Úc chắc cũng biết về nhóm X nào đó chế giễu người da vàng nói chung hay người Việt hay người Tàu là kém văn minh hơn mình.

  7. Hoàng Trường Sa nói:

    “Con trai Mường, Mán thích con gái xuôi, hỏi, tại sao thích, bảo, đít nó có gân! Con gái xuôi mặc quần lót, đôi khi thấy rõ. À ra thế!” (Trích lời bác Lâm Hoàng Mạnh)

    Trước hết xin cám ơn bác Lâm Hoàng Mạnh về loạt bài rất hay này. Nhờ bác Mạnh mà tôi được du lịch từ Ăng Lê tới vùng núi rừng Việt Bắc một cách vô cùng thoải mái và thích thú, khỏi tốn xu teng nào hết.
    Tôi thấy bác Mạnh khá đào hoa, được mấy cô sơn nữ chấm rất lẹ khi gặp bác tắm suối có mặc nguyên quần. Kiểu này, e rằng bác Mạnh gái phải cẩn thận canh chừng bác trai kỹ chút xíu, vì theo tôi, cái đào hoa nó không ngừng vì tuổi tác.
    Thích nhất là câu trích trên đây của bác Mạnh vì nó làm tôi nhớ lại sau ngày “giải phóng” 30-4-1975, ở miền Nam người dân thường kháo với nhau rằng các cậu bộ đội miền Bắc khi vào “tiếp thu” các thành phố ở miền Nam đã mê tơi gái miền Nam vì cho rằng “gái miền Nam đít có gân”. Lý do cũng y chang như quý cậu trai Mường, Mán thích con gái xuôi trong câu chuyện của bác Mạnh. Bây giờ thì tôi cũng khoái trá buột mồm “À ra thế!”

  8. binhbien nói:

    Bài của bác Mạnh rất hấp dẫn. Nhân đây nếu có thể, nhờ bác tìm hộ một ông người Hoa, dân Hải Phòng, nhà ở ngõ Sơn Lâm, làm cho nhà thuốc Mai Lĩnh Cầu Đất, tên là Lương Tôn Lường, năm nay cũng phải 80 rồi. Ông cũng đi Anh năm 1979, không rõ còn hay mất. Đa tạ!

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả