talawas blog

Chuyên mục:

Phạm Hoàng Quân – Hải quốc văn kiến lục: Khảo sát và trích dịch (1)

04/11/2009 | 10:00 sáng | 12 Comments

Tác giả: Phạm Hoàng Quân

Category: Lịch sử, Vấn đề Biển Đông
Thẻ:

Hải quốc văn kiến lục “海國聞見綠” do người đời Thanh là Trần Luân Quýnh 陳倫炯 soạn, ghi chép về địa lý, phong tục, vật sản và tình hình thương mại của nhiều quốc gia, vùng, đảo thuộc đông, tây, nam Á và hải trình từ Trung Quốc đến các nơi ấy. Một phần của sách dành mô tả duyên hải Trung Quốc và nhiều đảo, đá, quần đảo nằm quanh các hải đạo.

Năm 1956, Hải quốc văn kiến lục bắt đầu được học giới Trung Quốc đề cập và sau đó liên tục trích dẫn, phân tích và suy luận quanh yếu tố địa danh Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường nhằm chứng minh chủ quyền lịch sử của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa, tức là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Trong văn kiện xác định chủ quyền Tây Sa và Nam Sa do Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố ngày 30-1-1980, Hải quốc văn kiến lục là một trong 8 sách được dẫn dụng.

Khảo sát và trích dịch Hải quốc văn kiến lục chúng tôi nhằm cùng với độc giả tiếp cận ý nghĩa căn bản của nội dung sách này, qua đó có cái nhìn khách quan và cẩn trọng đối với những tài liệu thuộc về cổ sử biển Đông.

Đề yếu:

I. Hải quốc văn kiến lục: tác giả, tác phẩm, mục lục, văn bản, soạn niên, ấn niên, sai dị, bất nhất.

II. Tứ hải tổng đồ: sự dị bản từ nguyên bản, sự trưng dẫn hiện nay, vài điểm cần lưu ý.

III. Nam Dương ký, Nam Áo khí: trích lục sai nguồn và lý luận quàng xiên của học giới Trung Quốc, trích lục nhầm và lý luận bồng bột của học giới Việt Nam.

* Phụ lục: Nam Dương ký, dịch và chú thích

I. Hải quốc văn kiến lục

Trần Luân Quýnh tự Thứ An 次安, hiệu Tư Trai 資齋, người huyện Đồng An tỉnh Phước Kiến, cha tên Trần Mão 陳昴, là người có nhiều kinh nghiệm về hải đạo. Trần Mão thuở nhỏ nhà nghèo, bỏ việc đọc sách mà theo nghề đi buôn, do thường xuyên qua lại trên biển và để tâm học hỏi nên tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm hàng hải. Năm Khang Hy Nhâm Tuất (1682) Đề đốc Thi Lương nhận mệnh Thanh đình tấn công Bành Hồ, Đài Loan. Mão tự tiến cử và được Thi Lương tin dùng, nghe theo kế hoạch tác chiến của Mão. Thắng trận Bành Hồ, Đài Loan, cháu nội của Trịnh Thành Công là Khắc Sảng quy hàng, Đài Loan nhập bản đồ Thanh quốc. Mão lại nhận lệnh truy nã dư đảng họ Trịnh, bôn ba đông tây dương suốt 5 năm. Nhờ vào chiến công, Trần Mão được phong Tổng binh trấn Kiệt Thạch, năm 1718 thăng phó Đô thống Quảng Đông.

Luân Quýnh nối nghiệp cha, chú tâm học hỏi về thiên văn, địa lý, chú trọng phần duyên hải Trung Quốc và các nơi trên biển ngoại quốc. Ban đầu được tuyển làm Thị vệ, năm 1721 được đặc cách thăng Tham tướng Nam lộ Đài Loan. Năm Ung Chính nguyên niên (1723) thăng Thủy sư phó tướng Đài Loan, sau lại thăng Tổng binh Đài Loan, sau chuyển sang trấn thủ Cao Châu, Lôi Châu, Liêm Châu (Quảng Đông). Trong thời gian trấn thủ Cao, Lôi, Liêm, Luân Quýnh tiếp xúc nhiều với khách thương các nước Tây dương, nghe biết và thu thập nhiều kiến thức, thông tin về các hải đảo, đảo quốc ở miền biển phía Nam Trung Quốc.

Tổng hợp những điều nghe được từ cha mình, từ các thương nhân ngoại quốc, những điều thấy được trên thực địa trong quá trình qua lại Đài Loan, Phước Kiến, Quảng Đông…, tham cứu địa đồ và những kiến thức trong sách vở của người trước, Trần Luân Quýnh viết thành sách Hải quốc văn kiến lục [HQVKL].

Lược truyện về Trần Luân Quýnh trên đây, chúng tôi dựa theo lời tựa tự viết của họ Trần ở đầu sách HQVKL và phối hợp một ít sử liệu tổng quát. Tên Trần Mão (昴) thấy có vài sách viết là Ngang (昂); sự kiện Đề đốc Thi Lương tấn công Bành Hồ, Đài Loan xảy ra vào tháng 8 năm Khang Hy Quý Hợi (1683), lời tựa họ Trần viết lầm là Khang Hy Nhâm Tuất (1682).

Tên sách HQVKL nghĩa là “Ghi chép những điều nghe, thấy về các nước trên biển”, thành sách năm 1730, gồm 2 phần riêng biệt: Phần Văn và phần Đồ.

A. Phần Văn ước khoảng một vạn bảy ngàn chữ, gồm lời tựa ở đầu sách và 8 chương, như sau:

  1. Thiên hạ duyên hải hình thế lục 天下沿海形勢錄, ghi chép về các đảo, đá, quần đảo, hải khẩu từ Kinh sư (Bắc Kinh) đến Quỳnh Châu (Hải Nam); hải đạo đến Triền Tiên, Nhật Bản, Lưu Cầu.
  2. Đông Dương ký 東洋記, ghi chép về Triều Tiên, Nhật Bản, Lưu Cầu, hải đạo, hải trình đến các xứ ấy.
  3. Đông Nam Dương ký, 東南洋記 ghi chép về Đài Loan, Lữ Tống, Lợi Tử Nghi, Vạn Lão Cao 萬老高, Đinh Cơ Nghi 丁機宜, Tô Lộc 蘇祿, Cát Lý Vấn 吉里問, Văn Lai 文來, Châu Cát Tiêu Lạt 朱葛礁喇, Mã Thần 馬神, Trà Bàn 茶盤…
  4. Nam Dương ký, 南洋記 ghi chép về Giao Chỉ, Chiêm Thành, Giản Phố Trại, Tiêm La, Cát Lạt Ba… (xem bản dịch phụ lục).
  5. Tiểu Tây Dương ký, 小西洋記 ghi chép về các nước Bạch Đầu Phiên 白頭蕃, Tam Mã Nhĩ Đan 三馬爾丹, Tế Mật Lý Dã 細密里邊也, Nga La Tư 俄羅斯, Dân Nha 民呀, Đa Nhĩ Kỳ 多爾其, A Lê Mễ Dã 阿黎米也, Ô Quỷ 烏鬼 [vài nước thuộc Đông Phi, Nam Á và các tiểu quốc thuộc Ấn Độ]
  6. Đại Tây Dương ký, 大西洋記 ghi chép về các nước Bồ Đào Nha 葡萄呀, Thị Ban Nha 是班呀, Phật Lang Tây 佛蘭西, Na Mạ 那嗎, Hà Lan 荷蘭, Hoàng Kỳ 黃旗, Phổ Lỗ Xã 普魯社, Lận Nhân 吝因, Anh Khuê Lê 英圭黎, Hồng Mao 紅毛…[vài nước thuộc châu Âu, vài nước Tây Phi].
  7. Côn Lôn, 崑崙 ghi chép về đảo Côn Lôn trong biển Nam Dương [nay gọi Côn Đảo, Việt Nam].
  8. Nam Áo khí, 南澳氣 ghi chép về nhóm đảo, đá, bãi cát có tên chung là Nam Áo, trong biển Đông dương [phần (vùng) biển Trung Quốc].

B. Phần Đồ được ghi là phần phụ lục, gần 50 trang, trang đầu có tiêu đề “Hoa Đình Hạ Tuyền Uyên hội tịnh hiệu – 華亭夏璇淵 繪并校” [Hạ Tuyền Uyên hiệu Hoa Đình[1] vẽ và khảo đính], chia làm 6 bức như sau:

  1. Tứ hải tổng đồ, 四海總圖 (2 trang) là một địa đồ thế giới không hoàn chỉnh, so với bản đồ thế giới ngày nay, Tứ hải tổng đồ chỉ thể hiện một cách đại khái và chỉ có 3 châu, Á, Âu, Phi.
  2. Duyên hải toàn đồ, 沿海全圖 (34 trang), địa đồ bờ biển Trung Quốc, tương ứng với chương 1 “Thiên hạ diên hải hình thế lục” ở phần văn.
  3. Đài Loan đồ 臺灣圖 (4 trang)
  4. Đài Loan hậu sơn đồ 臺灣後山圖 (3 trang)
  5. Bành Hồ đồ 澎湖圖 (2 trang)
  6. Quỳnh Châu đồ 瓊州圖(2 trang)

[mục lục này căn cứ bản in Đài Loan 1958].

Về văn bản HQVKL, theo Phạm Tú Truyền 范秀傳 trong một bài tóm lược vắn tắt in chung trong mục Trung Quốc Biên cương sử địa cổ tịch đề giải[2] thì ở phần sau địa đồ (tức ở cuối sách HQVKL) còn có thêm 2 phụ lục khác là: “Chiết Giang thải tập di thư tổng lục 浙江采集遺書總錄” [chép chung các sách gom góp được ở Chiết Giang] và “Hải Quốc văn kiến lục bạt văn” [lời bạt sách HQVKL]. Hai phụ lục này không có trong bản chúng tôi khảo sát. Cũng theo Phạm Tú Truyền, HQVKL còn lưu truyền 3 bản, in trong các tùng thư: “Nghệ Hải Châu Trần 藝海珠塵”, “Chiêu Đại tùng thư 昭代 叢書”, và “Minh Biện Trai tùng thư sơ tập –明辯齋叢書初集”. Văn bản chúng tôi khảo sát thuộc tùng thư “Nghệ Hải Châu Trần”.

Về năm thành sách, hầu hết các tác giả Trung Quốc hiện nay – khi dẫn dụng HQVKL – đều ghi nhận năm Ung Chính thứ 8 (1730) là năm Trần Luân Quýnh viết xong HQVKL, đại diện cho các tác giả này có thể kể nhóm Trần Sử Kiên 陳史堅 trong Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hối biên[3], nhóm Hàn Chấn Hoa 韓 振華 trong Ngã quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên[4], Lưu Nam Uy 劉南威 trong Trung Quốc Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo[5], Phạm Tú Truyền hoặc như nhóm Trịnh Thiên Đĩnh 鄭天挺 trong Trung Quốc lịch sử Đại từ điển[6].

Trường hợp khác, Joseph Needham trong Science and Civilisation in China (1959) ghi năm thành sách HQVKL là 1744[7]; các tác giả Việt Nam khi đề cập đến HQVKL trong Tập san Sử địa (số 29 – 1975) như Lãng Hồ [ở trang 78], Hãn Nguyên [trang 144, 149], Trần Thế Đức …[trang 323] cũng đều ghi năm thành sách là 1744. Tuy nhiên, do J. Needham và các tác giả Việt Nam không nêu nguồn trích dẫn và không chú thích về xuất xứ bản in đã căn cứ, nên chúng tôi không rõ thông tin “HQVKL thành sách năm 1744” xuất phát từ đâu. Ở góc độ cá nhân, khi tham khảo bản HQVKL trong tùng thư “Nghệ Hải Châu Trần” do Đài Loan in lại năm 1958, chúng tôi thấy trong lời tựa của Trần Luân Quýnh đề năm Ung Chính thứ 8 (1730) [Ung Chính bát niên, tuế thứ canh tuất, trọng đông vọng nhật, Đồng An Trần Luân Quýnh cẩn chí].

Về ấn bản, theo một số thư mục tham khảo hoặc các chú thích kê cứu chi tiết (như của Lâm Kim Chi, Hàn Chấn Hoa, Lưu Nam Uy) thấy hầu hết dựa vào bản khắc in năm Càn Long thứ 58 (1793), tức là – nếu sau này không phát hiện bản khắc in nào sớm hơn – thì hơn 60 năm sau khi thành sách, HQVKL mới được khắc in. Thời hiện đại, do có nhiều ghi chép liên quan đến lịch sử Đài Loan nên HQVKL được nhập vào bộ “Đài Loan văn hiến tùng san’’ (tập 26) xuất bản năm 1958, bản in này do Chu Hiến Văn dựa vào bản “Nghệ Hải Châu Trần” phân đoạn chấm câu, không chú thích. Gần đây, theo Trung Quốc lịch sử đại từ điển, Trung Châu cổ tịch xuất bản xã đã xuất bản bản có chú giải (1984).

Nội dung HQVKL có nhiều điểm quan trọng cần phải lưu ý.

1. Hải danh

Trong 8 chương của phần Văn, chúng ta thấy xuất hiện các tên gọi Đông Dương, Đông Nam Dương, Nam Dương, Tiểu Tây Dương và Đại Tây Dương. Đây là những quy ước riêng của Trần Luân Quýnh về khu vực địa lý trong HQVKL, cách gọi này của họ Trần có khác hơn so với cách gọi của Trương Tiếp 張燮 trong Đông Tây Dương khảo東西洋考 viết khoảng năm 1617 đời Minh. Trương Tiếp là người đầu tiên dùng danh xưng Đông Dương phân biệt với Tây Dương để chia vùng biển phía nam Trung Hoa thành 2 mảng, từ Văn Lai [Brunei] trở qua phía Đông gọi chung là Đông Dương, từ Văn Lai trở qua phía Tây gọi chung là Tây Dương. Trương Tiếp đặt tên sách là Đông, Tây dương khảo nghĩa là khảo về các nước Đông Dương và các nước Tây Dương. Cũng lưu ý rằng, trước Trương Tiếp, tên Tây Dương có được nói đến trong sách của một tùy viên trong đoàn Trịnh Hòa, tức Tây Dương phiên quốc chí (1434) của Củng Trân 鞏珍, tuy nhiên, trong giai đoạn này từ “Tây dương” chỉ được dùng với hàm ý chung là chỉ về vùng biển ở hướng Tây.

Trần Luân Quýnh lại chia vùng biển Đông, Tây Dương [theo cách gọi của Trương Tiếp] thành 5 vùng: Đông Dương [tức vùng Đông Bắc Á ngày nay], Đông Nam Dương [khoảng từ Philippines đến Brunei], Nam Dương [biển Đông Việt Nam qua vịnh Thái Lan, dừng ở Johore (Malaysia)], Tiểu Tây Dương [khoảng trong Ấn Độ Dương], Đại Tây Dương [một phần Đại Tây Dương]. Trong đó, danh xưng Nam Dương và Đông Nam Dương có thể xem là bắt đầu từ Trần Luân Quýnh.

2. Địa danh ngoài Trung Quốc

Nhiều địa danh được Trần Luân Quýnh phiên âm khác hẳn so với cách phiên âm trong Đông Tây Dương khảo và trong Minh sử, thí dụ như tên nước España, HQVKL viết là Thị Ban Nha 是班呀, Minh sử viết là Y Tây Bả Ni Á 依西把尼亞 (trang 8461)[8]; như tên nước Singapore, HQVKL viết là Cát Lạt Ba 噶喇吧, Minh sử viết là Tam Phật Tề 三佛齊 (tr. 8406), Đông Tây Dương khảo viết là Hạ Cảng Gia Lưu Ba 下港加留吧, (tr. 41)[9]Minh sử thành sách năm 1735, tức xem như đồng niên đại với HQVKL và Đông Tây Dương khảo thành sách năm 1617 tức trước HQVKL chỉ hơn 100 năm. Việc phiên âm sai biệt này không chỉ xảy ra ở trường hợp HQVKL, nếu kể thêm Chư Phiên chí 諸蕃志 đời Tống, Đảo Di chí lược島夷志略 đời Nguyên hay Hải Quốc Đồ chí 海國圖志 (1842)… thì chúng đều nằm trong tình trạng tương tợ. Việc nghiên cứu cổ sử biển Đông nói riêng và quan hệ, giao thông Đông – Tây nói chung, khi dựa vào sử liệu Trung Quốc thường gặp trở ngại bởi vấn đề địa danh phức tạp nêu trên, và chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở một chuyên khảo khác.

3. Văn- Đồ bất nhất

như ở phần lược thuật về mục lục sách HQVKL, chúng ta thấy rõ là phần Văn của Trần Luân Quýnh và phần Đồ là của Hạ Tuyền Uyên, điểm này không thấy học giới Trung Quốc nêu ra, trong các mục lục tham khảo có thể viện cớ tinh giản cho tiện. Tuy nhiên, trong bài giới thiệu riêng về HQVKL của Phạm Tú Truyền, hoặc ở mục từ “Hải quốc văn kiến lục” trong Trung Quốc lịch sử đại từ điển đều không ghi nhận đồng tác giả Hạ Tuyền Uyên. Các bài viết có liên quan hoặc trích in “Tứ hải tổng đồ” – là công trình riêng của họ Hạ – đều được ghi tác giả là Trần Luân Quýnh. Qua tham cứu HQVKL đối chiếu quan sát “Tứ Hải tổng đồ”, chúng tôi khẳng định rằng phần Văn và Đồ trong sách này này là do 2 người thực hiện, bởi chúng có rất nhiều điểm không khớp nhau, Văn tả một đằng, Đồ vẽ một nẻo, cụ thể, nêu 3 trường hợp:

a. Thất Châu Dương: Văn của họ Trần mô tả Thất Châu Dương ở phía đông nam Vạn Châu đảo Quỳnh Châu. Đồ của họ Hạ vẽ Thất Châu Dương ở phía tây nam đảo Quỳnh Châu.

b. Cao Ly – Triều Tiên: đối với bán đảo Triều Tiên hiện nay, Văn của họ Trần viết là Triều Tiên, Đồ của họ Hạ tiêu danh là Cao Ly (tên dùng hồi đời Minh).

c. Lợi Tử Nghi: Văn họ Trần viết “phía đông nam Lợi Tử Nghi là 5 đảo: Ban Ái, Ác Đảng, Túc Vụ, Miêu Vụ Yên, Cương Cân Tiều Não”. Xem Đồ của họ Hạ thì thấy phương hướng ngược lại, 3 đảo ở phía Tây và 2 đảo ở phía Nam Lợi Tử Nghi. Ngoài ra, ở hòn đảo thứ 5, Văn viết “Cương Cân Tiều Não – 綱巾礁腦”, Đồ lại tiêu danh là “Giao Trùng Tiều Lão –蛟蟲礁老” .

Sự chênh lệch quá xa về phương hướng và văn từ bất cập như trên không thể là do sơ xuất trong hành văn và cũng khó xem là lỗi kỹ thuật trong việc kê cứu. Tuy nhiên, chủ đích của khảo cứu này chưa phải để tìm cho Hạ Tuyền Uyên một ghế trong kho tàng văn hiến Trung Hoa, nên nhất thời, vì sự tiện dụng trong văn từ và tra cứu thư mục, chúng tôi cứ tạm xem Trần Luân Quýnh là tác giả của phần Văn và cả phần Đồ trong HQVKL.

(Còn tiếp 2 kì)


[1] Hoa Đình cũng có thể là tên huyện, bản quán của Hạ Tuyền Uyên. Huyện Hoa Đình thuộc tỉnh Cam Túc, phía đông bắc.

[2] Trung Quốc biên cương sử địa nghiên cứu [中國邊疆史地研究], số 1, 1992 tr. 95.

[3] Nam Hải chư đảo địa danh tư liệu hối biên [南海諸島地名資料匯編]– Quảng Đông tỉnh Địa danh Ủy viên hội biên – Quảng Đông tỉnh địa đồ xuất bản xã (xbx) – 1987.

[4] Ngã Quốc Nam Hải chư đảo sử liệu hối biên [我國南海諸島史料匯編]– Đông Phương xbx – 1988.

[5] Trung Quốc Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo [中國南海諸島地名 論稿]– Khoa học xbx – Bắc Kinh – 1996.

[6] Trung Quốc Lịch sử đại từ điển [中國歷史大辭典]– Thượng Hải Từ Thư xbx. 2000.

[7] Science and civilisation in China. Cambridge at the University Press – 1959. Vol.3, p. 699 (Bibliography A) [Record of Things seen and Heard about the coastal Regions].

[8] Minh sử [明史]- (Thanh) Trương Đình Ngọc chủ biên – Trung Hoa Thư cục – Bắc Kinh – 2003. Quyển 326, Liệt Truyện 214, Ngoại Quốc 7.

[9] Đông Tây Dương Khảo東西洋考 [Minh] Trương Tiếp. Tạ Phương hiệu chú. Trung Hoa Thư cục – Bắc Kinh – 1981.

Bình luận

12 Comments (bài “Phạm Hoàng Quân – Hải quốc văn kiến lục: Khảo sát và trích dịch (1)”)

  1. Dương Danh Huy viết:

    Cảm ơn bác Tích đã giải thích.

    Trân trọng,

    Huy

  2. Hoàng Trường Sa viết:

    “Dầu sao có độc giả đã cho biết là từng có nhóm chữ “bãi phân chim”, vậy phải chăng nhóm chữ đó, vào một dịp nào đó và nhân một chuyện nào đó, đã đi vào bộ nhớ của gã học trò đoàn trong lớp học của bà xã tôi, để cho gã vận dụng vào lúc thích hợp? Từ “bãi phân chim” đến “đảo chim ỉa” đâu có xa xôi gì?” (Trích ý kiến bác Trần Văn Tích)

    Cái nhóm chữ “đảo chim ỉa” chính tai tôi đã nghe từ cửa miệng một người Việt ở Sydney nói cách đây đúng 9 năm (năm 2000) tại ngay thành phố Sydney, xứ Úc Đại Lợi (Australia) này, khi ông này cãi nhau về việc VN bị mất Hoàng Sa và nhiều đất dọc theo biên giới phía Bắc vào tay TQ. Ông này đã nói là VN chỉ mất tí xíu đất nơi vùng “khỉ ho cò gáy” và mất cái “đảo chim ỉa” , có gì đâu mà phải lo lắng cho nó mệt xác.

  3. Hoà Nguyễn viết:

    Những người như ông Trần Văn Tích nếu mất mát gì khi rời VN thì chắc cũng được lại nhiều hơn: có một cuộc sống tự do, phần vật chất không kém trước, và một tương lai tốt đẹp cho con cháu. Khi bỏ lại đằng sau một chế độ độc đoán, áp bức, với nhiều chủ trưong mù quáng, sai lầm khiến đất nước điêu linh, nghèo đói, lạc hâu, chắc những người như ông Tích không hối tiếc gì, nhất là khi đã biết quá rõ thế nào là được “giải phóng” (theo lời kể ở góp ý khác, ông Tích rời VN năm 1984). Nếu tôi nhớ không lầm, ông Tích từng viết là chuyện ở VN bây giờ không còn liên can gì với ông nữa, có lẽ xét theo tâm tình trên. Còn các đảo ở Biển Đông, nghe nói nhiều dầu khí, nếu giữ được khỏi tay TQ, thì chính những người như ông Buzz hưởng hết thôi.

    Tháng 1/1974, việc TQ chiếm trọn Hoàng Sa là môt biến cố lớn đối với miền Nam vì lần đầu tiên từ “xâm lược” có đủ hết ý nghĩa. Trước đó, miền Nam cho miền Bắc xâm lược, hay miền Bắc cho Mỹ xâm lược, đều với nghĩa không đúng (Mỹ đưa quân vào nhưng không chiếm đóng, cai trị miền Nam như Pháp). Đó là một xúc động lớn (trong khoảng thời gian tương đối hoà bình ở miền Nam), nên báo chí viết nhiều và nhiều người ở miền Nam để tâm tìm hiểu về địa lý, lịch sử Hoàng Sa, Trường Sa. Tập san Sử Địa của Đại học Sư phạm Sài Gòn, do ông Nguyễn Nhã biên tập lúc đó, phần lớn nội dung chỉ là tập hợp nhiều bài viết lấy từ nhiều nguồn, của nhiều tác giả ở trong nước hay Pháp. Tạ Chí Đại Trường đã viết là những đường gẫy khúc bao quanh Biển Đông đã thấy in trên báo của Đài Loan bày bán trong Chợ Lớn lúc đó. Cho nên nhiều người miền Nam biết về chuyện ở Hoàng Sa và biển Đông, và biết cả chuyện miền Bắc không hề phản đối Trung Quốc đánh chiếm HS. Sau 30-4-1975, báo Sài Gòn Giải phóng, có lẽ trước câu hỏi của nhiều người miền Nam quan tâm đến HS, giải thích là người anh cả Trung Quốc giữ dùm VN quần đảo Hoàng Sa, và sau này sẽ trả lại. Sách của ông Lưu Văn Lợi (nhiều phần rất có giá trị), cũng nói đến lý lẽ này hay cho người VN miền Bắc lúc đó tin TQ sẽ trả lại HS, như họ trả lại VN đảo Bạch Long Vỹ sau khi họ chiếm giữ từ 1955 (khi Pháp rút xuống dưới vĩ tuyến 17).

    Câu hỏi của học sinh Trung học ở miền Nam như thế là phản ánh những ưu tư của người dân miền Nam lúc đó, và họ đều biết miền Bắc ủng hộ hay ít ra không phản đối việc TQ chiếm HS. Khi nói kèm HS với TS có lẽ ông Tích quên nhiều chuyện cũ, nhưng TQ không chiếm Trường Sa lúc đó là môt may mắn cho VN. Vì mãi 5 ngày hay một tuần lễ sau khi Sài Gòn giải phóng, hải quân miền Bắc mới ra chiếm các đảo Trướng Sa, lúc đó còn do lính miền Nam đóng giữ. Trung Quốc có thể nhân lúc hai phía VN đánh nhau trong đất liền, đưa hải quân xuống chiếm Trường Sa trước hay vào ngày 30-4, theo ý đồ họ có từ lâu (ít ra từ khi ông Phạm Văn Đồng công nhận HS, TS là thuộc TQ). Nhưng sở dĩ TQ không (dám) làm là vì có lẽ sợ đệ thất hạm đội của Mỹ lúc đó đang có mặt trong vùng.

    Tôi không chắc vào năm 1974, miền Nam đã biết công hàm Phạm Văn Đồng chưa. Có thể biết, do Trung Quốc công bố nội dung (tuy chưa công bố bản chụp) để biện minh cho việc họ dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa.

    Chuyện đảo chim ỉa là nói về đảo Hoàng Sa. Tôi nhớ chắc chắn người của bà Ngô Đình Nhu đã lập công ty khai thác phân chim trên đảo Hoàng Sa, nhưng dường như về sau không có lợi, hay phải bỏ dở sau đảo chính 1963.

  4. Trần Văn Tích viết:

    Kính ông Dương Danh Huy,
    Để tránh hiểu lầm, xin nói rõ là khi viết câu “Chớ suy bụng ta ra bụng người” không bao giờ tôi dám bất kính nghĩ đến ông đâu.
    Trân trọng,
    Trần Văn Tích

  5. Trần Văn Tích viết:

    Tôi không hồ đồ, càng không hề bịa chuyện. Nên nhớ rằng bà xã tôi dạy Anh văn, kiến thức của bả về Hoàng Sa Trường Sa rất mơ hồ. Bả chẳng phân biệt được rành mạch như ông Dương Danh Huy đâu. Bả chỉ biết là Hoàng Sa hay Trường Sa gì gì đó đã bị mất vào tay Trung Cộng rồi, vào cái thời điểm sau 30.04.75. Cho nên khi có học trò hỏi sao “cách mạng” để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa Trường Sa (tôi nhắc lại: học trò Trung Học Hùng Vương biết rất mơ hồ về Hoàng Sa Trường Sa, cô giáo của chúng cũng chẳng hơn gì) thì đó là dịp để học trò đoàn lên lớp cho bạn đồng học ngụy. Dầu sao có độc giả đã cho biết là từng có nhóm chữ “bãi phân chim”, vậy phải chăng nhóm chữ đó, vào một dịp nào đó và nhân một chuyện nào đó, đã đi vào bộ nhớ của gã học trò đoàn trong lớp học của bà xã tôi, để cho gã vận dụng vào lúc thích hợp? Từ “bãi phân chim” đến “đảo chim ỉa” đâu có xa xôi gì?
    Tôi có nhiều tính xấu lắm lắm, nhưng ít nhất tính xấu đặt chuyện nói láo như Vẹm thì tôi không có tính đó đâu. Chớ suy bụng ta ra bụng người.

  6. Dương Danh Huy viết:

    Về chuyện nhân chứng này của bác Tích thì tôi cũng hơi nghi ngờ.

    Ngay từ những tháng sau 1975 thì Trung Quốc chưa chiếm đảo Trường Sa nào thì làm sao có chuyện để mất để mà trách cứ.

    Và tôi thấy khó tin nếu có ai cho rằng ngay từ những tháng sau 1975 người miền Nam đã biết về những v/đ như công hàm Phạm Văn Đồng, phát biểu Ung Văn Khiêm hay bài báo Nhân Dân.

    Bác Buzz nói mất Hoàng Sa là do VNCH chắc cũng không đúng hoàn toàn. Mất Hoàng Sa ít nhất một phần là do Nam Bắc mải đánh nhau, đặt đánh nhau lên trước Hoàng Sa. Mà có lẽ bên chủ động trong cuộc đánh nhau đó là VNDCCH.

    Cứ hận thù chia rẽ như vầy, người VN nói chung còn mất nhiều, mất thế chưa đủ đâu.

    Điều trên thì tôi đồng ý với bác trên tinh thần.

  7. Buzz viết:

    @Hoàng Trường Sa: Tôi không hiểu ý định khi ông trích dẫn một tài liệu có sai lỗi như vậy. May quá, tôi gúk “Nam Hải” “Vũ Cống” thì bắt được một đoạn của Trương Thái Du:

    “Khá khen cho Trưng Trắc lắm mồm. Ngươi nên biết sách Vũ Cống đã có từ Nam Hải. Sách Xuân Thu chép rằng nước Sở đã gồm thu Nam Hải thuộc Hoa Hạ. Cổ thư Sơn Hải kinh tiên Tần nói Tây Giang đổ vào Nam Hải. Cả biển nam này là của Đại Hán, rẻo đất trâu nằm Âu Lạc lý nào lại ở ngoài Đại Hán”. Tô Định biện luận rất hùng hồn.

    Trưng Trắc cười vang tiếp lời họ Tô: “Lữ Lạc tướng, hậu duệ Lữ Gia đã giúp ta vạch rõ ngoa ngôn. Người Trung Quốc trăm năm trước cứ thấy sông rộng, nước nhiều liền gọi là biển. Nam Hải ở Vũ Cống và Xuân Thu là Trường Giang vậy. Nam Hải trong Sơn Hải kinh rõ ràng là Tây Giang chảy qua Phiên Ngung. Vua Kiến Đức và tể tướng Lữ Gia của triều đình Nam Việt lên thuyền ra sông lớn ngoài Phiên Ngung lập chiến khu, Lộ Bác Đức tấu về triều bảo họ vào biển tây”.

    (http://74.125.153.132/search?q=cache:cQpEVJYfRrAJ:vn.myblog.yahoo.com/truongthaidu/article%3Fmid%3D41%26fid%3D-1%26action%3Dnext+%22nam+h%E1%BA%A3i%22+%22v%C5%A9+c%E1%BB%91ng%22&cd=3&hl=vi&ct=clnk&gl=vn)

  8. Buzz viết:

    @Trần Văn Tích: Ông quá coi thường người đọc talawas khi bịa ra một câu chuyện hồ đồ. Mất Hoàng Sa là do VNCH. Đến năm 1975 theo tôi biết (làm biếng check gúk cho kỹ) thì Trung Cộng chưa sơ múi gì ở Trường Sa. Hơn nữa độ phổ biến thông tin của biển đảo thời ấy rất ít. Tôi còn nhớ một bộ phim tài liệu giải phóng Trường Sa, đúng là có nói đến chuyện bãi phân chim, cây phong ba nhưng nó hoàn toàn thuộc về VN.

    Các ông là những thành phần “mất mát” phải lưu vong, thù hận làm méo mó hết cả ký ức. Cứ hận thù chia rẽ như vầy, người VN nói chung còn mất nhiều, mất thế chưa đủ đâu.

  9. Trần Văn Tích viết:

    Sau năm 1975, bà xã tôi được “lưu dụng” và làm đến tổ trưởng Anh văn tại Trường Trung Học Hùng Vương, Sàigòn. Bả dạy lớp 12 và là chủ nhiệm lớp. Một hôm học trò thảo luận về vấn đề gì đó mà có nhắc đến Hoàng Sa Trường Sa. Có ý kiến trách cứ “cách mạng” đã để mất Hoàng Sa Trường Sa. Học trò trưởng lớp, con cán bộ, đoàn viên, tác sắc bảo bạn “Hoàng Sa Trường Sa là đảo chim ỉa, ta để Trung Quốc giữ tạm cho khỏi lọt vào tay ngụy, có gì đâu mà phải nói đi nói lại?”. Bà xã lỡ dại không đồng ý với đứa học trò đoàn viên, bả bảo đất chim ỉa cũng vẫn phải giữ, không để mất được. Kết quả, bả được ban giám hiệu mời lên làm việc v.v.. Nếu bài viết bác học của Phạm tiên sinh phân tích nguồn gốc của tên gọi Cochinchina etc thì tôi thắc mắc bình dân hơn, tôi mong được biết ai đã “sáng tạo” ra “cụm từ” “đất chim ỉa, đảo chim ỉa” để cho gã học trò đoàn sử dụng ngay từ những tháng sau 1975?

  10. Hoàng Trường Sa viết:

    Học giả Lãng Hồ Nguyễn Khắc Kham, trong bài HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA, LÃNH THỔ VIỆT NAM đăng trên Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về HOÀNG SA và Trường Sa (tr 54-114) xuất bản tại Sài Gòn năm 1975, viết như sau:

    “Như đã nói qua ở bên trên, biển từ đảo Hải Nam trở xuống phía Nam đã sớm được người Tàu mệnh danh là biển Nam Hải, cũng có khi lại được biệt xưng là Trướng Hải. Kế đến biển Nam Hải được người Tàu chia ra làm 2 hải vực mệnh danh là Tây DươngĐông Dương. Tục truyền đường phân giới khởi điểm ở đảo Ta-Tan (đông kinh tuyến 118 độ 09) gần hải cảng Hạ Môn và một địa điểm phân giới nữa ở vào một nơi mệnh danh là Wen-Lai (đông kinh tuyến 114 độ 56), trên Tây hải ngạn Bornéo. Đường phân giới chạy qua phía Đông Ma-Yeh-Weng (đảo Belitung đông kinh tuyến 108 độ 20) và cuối cùng chạy qua phía đông Pai-Hua (Pajajaram) ở tây bộ Java (vào khoảng đông kinh tuyến 106 độ 58). Tây Dương cũng được mệnh danh là Tây Nam Dương và bao quát những nước xưa như Giao Chỉ, Cao Miên, Xiêm, Mã Lai, Qua Oa và cả Ấn-Độ, Ba-Tư, Ả-Rập, còn Đông Dương thời gồm có Nhật Bản, Phi Luật Tân, Đài Loan, bờ biển phía tây Bornéo và Java bây giờ. Lấn lên cả Tây Dương lẫn Đông Dương là phần biển Nam Hải được mệnh danh là Nam Dương đi từ lãnh hải Chiêm Thành cho tới Java về phía Nam. Sự phân chia hải vực của biển Nam Hải vốn đã được người Tàu bắt đầu thực hiện từ cuối đời Nguyên, nhưng đến đời Minh mới được thật phổ thông như đã chứng tỏ sự tích Trịnh Hoà bảy lần hạ Tây Dương. Đến năm 1617, Trương Nhiếp có soạn 1 cuốn sách nhan đề là Đông Tây Dương Khảo, trong đó sự phân biệt giữa Đông Dương và Tây Dương càng rõ rệt hơn. Theo sách đó thì sự giao thông giữa Trung Quốc và Đông Nam Á phải theo 2 con đường gọi là Đông Dương châm lộTây Dương châm lộ. Những địa điểm mà Đông Dương châm lộ đi qua là Molucca, Bornéo, quần đảo Phi Luật TânĐài Loan bây giờ, còn Tây Dương châm lộ thì đi tới duyên hải Ấn Độ Chi na, quần đảo Mã Lai, Sumatra và Java. Kế đến đời Thanh, Trần luân Quýnh có soạn ra cuốn Hải quốc văn kiến lục (chứ không phải Hải quốc kiến văn lục như ông Tề Tân đã chép sai). Trong cuốn này có 2 danh xưng mới xuất hiện là Nam dương và Đông nam dương. Riêng nước ta thời xưa đã từng được mệnh danh là nước Giao Chỉ đã bất chấp sự phân chia hải vực độc đoán đó của người Tàu, chứng cớ là phần biển Nam Hải thuộc lãnh hải phía bắc Việt Nam bây giờ từ bắc vỹ tuyến 20 đến bắc vỹ tuyến 15, đã được mệnh danh là Giao Chỉ Dương, danh xưng này cũng đã thấy được ghi trên bản đồ của Mao Khôn nói trên. Một chứng cớ nữa là dân chúng Việt Nam thường gọi biển Nam Hải là biển Đông, vì là biển ở phía đông Việt Nam. Bởi vậy đã có những câu ca dao như :
    “Dã tràng xe cát bể Đông,
    Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì”.
    ” (Lãng Hồ)

  11. Phùng Tường Vân viết:

    Nhớ một người anh em lâu nay thấy vắng tiếng, nhất là ở mảng đề tài này.

    Ta nhớ người xa vắng bấy nay
    Thăm rằng có được mạnh không đây?
    Mong sao thường gặp nhau như trước
    Khắc khẩu nhưng ta vẫn bạn bầy.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả

    talawas blog: Cảm ơn tất cả! Tạm biệt và mong ngày ...
    Trung Thứ: Trích: „Ngoài ra, việc duy trì nhóm khởi...
    Hà Sĩ Phu: LỜI TẠM BIỆT: Buông lơi “một...
    Phùng Tường Vân: Dục Biệt Nhung Dục (Trung Đường) có ...
    Hoài Phi: Chỉ còn vài phút thôi là talawas chính th...
    Hà Sĩ Phu: @ixij Bạn ixij đã gõ đúng chỗ tôi c...
    P: Kính gửi hai bác Lê Anh Dũng và Trung Thứ...
    Hoangnguyen: Không biết những dòng chữ này còn kịp ...
    Trần Quốc Việt: Dear Talawas, Thank you! You're gone now but I ...
    Nguyễn Ước: Xin lỗi. Tôi hơi bị nhớ lầm vài chữ t...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Thời giờ cũng đ...
    Trần Quốc Việt: Hành trang rời Talawas: Live Not By Lies ...
    Hoà Nguyễn: Qua bức thư hết sức nhã nhặn, lịch s...
    Trần Việt: Ôi, nếu được như bác Hữu Tình hình du...
    ixij: Không được tham gia trả lời 3 câu hỏi ...
    Lâm Hoàng Mạnh: Đốt Lò Hương Cũ. Mượn thơ của Th...
    P: Cũng xin góp thêm một bài mới biết :D ...
    Lê Tuấn Huy: Xin gửi anh VQU, TV và những người quan t...
    Khiêm: Cảm ơn nhà văn Võ Thị Hảo đã thực hi...
    Phùng Công Tử: Bị bắt cũng đáng! Vào blog của CoigaiDoL...
    Phùng Công Tử: Nô lệ của văn hóa Trung Quốc: Đi hỏ...
    classicalmood: Bài viết có một số điểm tích cực nh...
    Thanh Nguyễn: Đọc những con số thống kê trong bài vi...
    Phùng Tường Vân: Vĩ Thanh tiễn chị Hoài Thế sự mang ...
    Tiêu Kiến Xương: ĐBA mượn lời ông bác nông dân: "Nói gì...
    dodung: "Sóng lớp phế hưng coi đã rộn......
    Camillia Ngo: Chín năm, một quãng đường dài, Bóng ng...
    Camillia Ngo: Một dân tộc u mê, hèn kém tột độ mớ...
    Thai Huu Tinh: Thưa các bác Trần Việt, Quốc Uy, Tuấn H...
    Phùng Tường Vân: " Thứ nhất, nói mọi thứ đều thối ná...
    Nguyễn Ước: Tôi không vào được Phản hồi bên bài C...
    Tôn Văn: Tiếp theo „Lời tạm biệt“ Câu hỏi...
    Trần Việt: Công bằng mà nói một cách ngắn gọn, Gs...
    Phùng Công Tử: Và gần đây tôi cảm thấy hơi phiền hơ...
    Bùi Xuân Bách: Việc talawas ngừng hoạt động tuy có là ...
    Nguyễn Chính: Gửi chị Phạm Thị Hoài và Ban Biên tập...
    Lê Tuấn Huy: Việc cảnh giác, tôi đã nói đến. Tôi t...
    vuquocuy: - Tác giả Lê Tuấn Huy đã phát hiện rấ...
    Hạnh Đào: Hơn tuần nay, tôi ngần ngại không muốn ...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Lê Anh Dũng: Bravo ý tưởng tuyệt vời của Arthur, ...
    Thanh Nguyễn: Chào chị Hoài, Cảm ơn tâm huyết và nh...
    Thanh Nguyễn: Cảm ơn ý kiến của anh Hoàng Ngọc Tuấn...
    Hà Minh: Cuộc vui nào cũng phải đến lúc tàn, (al...
    P: Xin có lời cảm ơn gửi đến những ngư...
    Nguyễn Đình Đăng: Tôi lợi dụng chính phản hồi của mình ...
    Arthur: Có nên đề nghi BBT Talawas chơi/hát lại b...
    Phùng Tường Vân: Tôi xin kể thêm truyện này, nghe cũng lâu...
    Hà Sĩ Phu: @ Nam Dao Đây là bài “bình thơ chơi” v...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Cám ơn bác về nhã...
    Trần Việt: Đồng ý với ông Lê Tuấn Huy. Tuy chỉ c...
    Trầm Kha: CÓ THẾ CHỨ! THẾ MỚI 'TIỀN VỆ' CHỨ!...
    Phùng Tường Vân: Hết xảy ! (http://www.talawas.org/?p=26665#co...
    Hoàng Ngọc-Tuấn: Xin thông báo cùng quý vị: Để tiếp n...
    Dương Danh Huy: Cảm ơn bác Phùng Tường Vân và Lâm Hòan...
    Phùng Tường Vân: Đôi lời thưa thêm với bác D.D.Huy, Xin...
    chuha: Mỗi người có một "gu" ăn phở. Riêng t...
    Trương Đức: "Chị Hoài ơi, chị Hoài ơi Niết Bàn nà...
    Phùng Tường Vân: Thưa Bác Dương Danh Huy Xin vội vã trìn...
    Dương Danh Huy: À, có điều tôi muốn nhắc các bác: K...
    hlevan: “Le coeur a ses raisons que la raison ignore” ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Lâm Hòang Mạnh &...
    Phùng Tường Vân: CẨN BẠCH Nhận biết được giới hạ...
    Le Van Hung: Thử lướt qua các trang web Việt Nam, chún...
    Đinh Minh Đạo: Tin TALAWS sẽ ngừng hoạt động làm tôi n...
    Lê Quốc Trinh: Cám ơn tác giả Phạm Hồng Sơn, Nếu c...
    Le Van Hung: "Giáo dục, giáo dục và giáo dục (có l...
    classicalmood: Vậy thì quyết định đóng cửa Talawas, n...
    VanLang: "Merda d’artista" vẫn đang được trưng b...
    Khiêm: Bác Phùng, Một người quen cho biết xếp...
    Nguyễn Đăng Thường: Đập phá & xây dựng “Đạp đổ t...
    Tonnguyen147: Bác Phùng Tường Vân, Người ta không ...
    Hoà Nguyễn: Hôm nay có tin đại biểu Quốc hội Việt...
    Hoà Nguyễn: Báo Người Việt hôm nay đăng toàn văn l...
    Trung Nu Hoang: @ Tạm Biệt talawas. Với lòng quý mến ...
    Tonnguyen147: Bác Trung Thứ và các bác ơi, Chủ Nh...
    VanLang: Đầu thập niên 90 Việt Nam lạm phát phi ...
    Nam Dao: Trình với cả làng Thể ý Trưng Nữ Ho...
    Lâm Hoàng Mạnh: Nâng cốc, cụng ly ... hết váng đầu Nh...
    Hoà Nguyễn: Cứ tưởng nếu khách ngồi bàn chuyện ho...
    Nam Dao: Anh thân mến Quí trọng những việc an...
    Thanh Nguyễn: Talawas trước giờ lâm chung mà vẫn đau ...
    Phùng Tường Vân: Chiếc Cân Thủy Ngân ..."Cứ xét theo ...
    Trung Nu Hoang: Nếu nhà văn Phạm Thị Hoài và BBT Talawas...
    Bắc Phong: bác bị váng đầu thèm uống rượu cứ ...
    Lê Thị Thấm Vân: Ngân trong "là con người", một trích đo...
    classicalmood: Talawas đột ngột chia tay khiến không ít ...
    Trung Thứ: Thưa bác Lê Anh Dũng, Tôi xin chia sẻ thê...
    Canuck: Bác Nguyễn Phong, Tui thấy đây là vấn...
    Nguyễn Đình Đăng: Bravo! Như một minh hoạ cho bài này mờ...
    Dương Danh Huy: Bác Phùng Tường Vân, Tôi đã set up hai...
    Phùng Tường Vân: @Nguyên Phong (http://www.talawas.org/?p=26665#c...
    Nguyễn Phong: Tôi thấy các bác hơi lạc quan và ảo tư...
    Thuận: Chỉ còn ít giờ nữa, Talawas sẽ đóng c...
    Trương Đức: "Nửa ấy… “nói chung là”: nửa dưới...
    Trầm Kha: talawas ơi! oan ức quá! Oan ức quá! Em ...
    Canuck: Tui cám ơn Ban Chủ Nhiệm, Ban Biên Tập Ta...
    Trầm Kha: bác vạch lẹ quá! em há hốc hà lá nho ...
    Trầm Kha: thường thì bác Thường siết... hết bế...
    pham duc le: Tôi đồng ý với bạn Nguyễn Phong, nhưng...
    booksreader: Au plaisir de vous revoir, "một mô hình hoạt...
    Bach Phat Gia: Tôi là độc giả của talawas đã mấy nă...
    Lề Trái: Trong việc tẩm bổ chỉ xin Gia Cát Dự đ...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trầm Kha, bác Đào Nguyên, Xin ...
    Lê Thượng: Nói rằng "So với thảm họa môi trường ...
    Anh Dũng: @1mitee: 1. Muốn SỐNG tới mức "cụ" nh...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng "...phải nghe lời cái dạ dày,...
    Trầm Kha: “Khi cầm cuốn Kinh thánh, tôi đọc với...
    Đào Nguyên: @ bác Nguyễn Phong Tôi đồng thanh tương ...
    Hoà Nguyễn: Sau chuỗi cười khá thoải mái do ông Gia ...
    1mitee: @Anh Dũng "Cả ông Marx, ông Hồ Chí Minh,...
    Bùi Văn Phú: Bạn Trung Nu Hoang ơi, Bạn có khả năng...
    Thái Hữu Tình: Bài vừa mới ra lò, mấy anh (cả mấy ch...
    Canuck: Trong đời tui, có 3 lần / hoàn cảnh xảy...
    Phùng Tường Vân: Lời đề nghị khẩn khoản của tôi Nh...
    Thái Hữu Tình: 1/ Bài nghiên cứu này của ông MTL càng ch...
    Nguyễn Phong: Thực ra ở hải ngoại hiện nay thì có m...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: 1. Cái bạc triệu (VNĐ) c...
    Dương Danh Huy: Bác Hòa Trước hết tôi cảm ơn về l...
    Louis: Trong phút giây chia tay người tình ảo, b...
    Đào Nguyên: Từ lâu ngưỡng mộ bác, biết bác thích ...
    Trầm Kha: Ha ha ha! Bác Trương Đức ơi, Bác "đả t...
    Lê Quốc Trinh: LÊ QUỐC TRINH - LỜI GIÃ BIỆT Thân m...
    vantruong: Thôi thì trước khi giải tán tụ tập tal...
    Đào Nguyên: @Anh Dũng "... - Không có đủ sản phẩm ...
    VietSoul:21: Tôi không nghĩ tài chánh là vấn đề (ch...
    Hoàng Trường Sa: Talawas ơi Ta giã biệt em Như giã từ cu...
    Hoàng Trường Sa: Bauxite Việt Nam: hãy cứu ngay chữ tín! (...
    Anh Dũng: @Đào Nguyên: Thực ra Marx có nói, nói n...
    Lâm Hoàng Mạnh: Chỉ còn vài 28 giờ, Ta Là... Gì sẽ ngh...
    Le Van Hung: Kính thưa các Anh Chị, Từ trước đế...
    Phùng Tường Vân: Bi giờ sắp đến giờ lâm biệt Xin Gia T...
    Hoàng Trường Sa: EM ĐI RỒI Em đã đi rồi thế cũng xong...
    Nguyễn Đăng Thường: Chia tay phút này ai không thấy buồn? Nh...
    Trung Nu Hoang: Tôi cũng có nghe kể chuyện một "học gi...
    peihoh: Tôi không được hỏi ba câu hỏi của tal...
    peihoh: Anh Lại Văn Sâm ơi! Dịch giùm câu này: "...
    Đào Nguyên: @ Anh Dũng Mác nói nhiều về lợi nhuận,...
    Hoà Nguyễn: Ông Huy viết : Điều tôi nói hoàn toàn kh...
    Trương Đức: Đọc cái câu này: "2030: định mệnh đã ...
    Đào Nguyên: Tôi cũng có đọc những câu chuyện với ...
    Camillia Ngo: Nguyễn Khoa Thái-Anh nói "Vũ Huy Quang là m...
    Dương Danh Huy: Bác Hoà Tôi cũng thấy thú vị khi đọ...
    Thanh Nguyễn: Giữa cái lúc "dầu sôi lửa bỏng" thế n...
    Thanh Nguyễn: Nếu vì lý do tài chính mà talawas đóng c...
    Thanh Nguyễn: Oh, Thank you Trầm Hương! We all have our h...
    Hà Minh: Một truyện ngắn quá hay, cảm ơn tác gi...
    Nguyễn Việt Thanh: Trên Talawas bộ cũ, có lần nhà văn Phạm...
    Anh Dũng: Ông Đào Nguyên nói đến "duy lợi". Nhưng...
    Hoàng Trường Sa: BRING ME HAPPINESS Đừng đi Đừng đi Đ...
    Lê Anh Dũng: (tiếp) Nhưng chính nhờ Tin Lành VN như...
    Lê Anh Dũng: Thưa bác Trung Thứ, Trong cảnh talawas ch...
    Đào Nguyên: Lời ông Vũ Huy Quang làm tôi nhớ tới l...
    Đào Nguyên: @ Nguyễn Khoa Thái Anh Trước khi chiéc thu...
    Trương Nhân Tuấn: Trích : « Người Việt hải ngoại vẫn th...
    Hoàng Trường Sa: Bô xít Việt Nam : Truyền thông Mỹ sắp n...
    khonglaai: Không ngờ anh Bách còn giỏi cả tiến...
    khonglaai: Nếu có giải thưởng talacu thì tôi ti...
    Phùng Tường Vân: Chúc nhau chân cứng đá mềm Chúc nhau an ...
    khonglaai: “Khi nói chuyện với mình họ chỉ nhìn ...