talawas blog

Chuyên mục:

Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (2)

09/05/2010 | 1:00 chiều | 2 phản hồi

Tác giả: Lại Nguyên Ân

Chuyên mục: Hồ sơ Nhân văn - Giai phẩm, Văn học - Nghệ thuật
Thẻ: >

(Xem kì 1)

2a. Bước sang năm 1956, xã hội và văn hoá văn nghệ ở miền Bắc chứng kiến những diễn biến phức tạp, có lúc đang ở hướng này đột ngột rẽ sang hướng khác.

Ngay vào dịp Tết nguyên đán, tập sách Giai phẩm mùa Xuân 1956 của Nhà xuất bản Minh Đức vừa ra mắt đã bị tịch thu, nhưng có lẽ cũng đã lọt ra ngoài một ít cuốn, và ban Văn của Hội Văn nghệ Việt Nam đã tổ chức một cuộc họp do Hoài Thanh chủ trì nhằm phê phán bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần, − một trong những tác phẩm đăng trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956 kể trên. Báo Văn nghệ đăng bài của Hoài ThanhVạch tính chất phản động của bài “Nhất định thắng” của Trần Dần (VN s. 110, ngày 1/3/1956), tiếp đó đăng bài dài 3 kỳ của Nguyễn Đình Thi Những sai lầm về tư tưởng trong tập sách Giai phẩm (VN s. 117, ngày 19/4/1956; VN s. 118, ngày 26/4/1956; VN s. 119. ngày 3/5/1956). Cũng dịp này, báo chọn dịch đăng các bài hỗ trợ công việc phê bình nêu trên, ví dụ bài Vai trò lãnh đạo của Đảng, trích văn kiện ĐH 20 ĐCS  Liên Xô, do Xuân Diệu dịch (VN s. 110, ngày 1/3/1956), bài Văn nghệ là sự nghiệp của nhân dân, cũng rút từ báo Văn học Liên Xô nói về văn nghệ Hungary, do Vũ Thông dịch (VN s. 111, ngày 15/3/1956), bài Nguyên tắc của chủ nghĩa Lê-nin về Đảng tính trong văn học của Lê-xuy-sép-ski do Việt Lam trích dịch (VN s. 118, ngày 26/4/1956). Nhưng việc phê phán sách Giai phẩm mùa Xuân bỗng đột ngột dừng lại.

Vì sao? Có lẽ vì những diễn biến bên ngoài.

Người ta biết, tháng 2/1956, Đảng Cộng sản Liên Xô họp đại hội lần thứ 20, trong đó, phần báo cáo về những tổn thất do tệ sùng bái cá nhân của Stalin gây ra tuy không được trình bày công khai, nhưng hẳn đã được thông báo tới các đảng cộng sản và công nhân có đoàn đại biểu đến dự, trong đó, có đoàn của Đảng Lao động Việt Nam (gồm Tổng bí thư Trường Chinh và Ủy viên bộ chính trị Lê Đức Thọ). Đảng Lao động Việt Nam đã triệu tập hội nghị Ban chấp hành trung ương mở rộng từ 19 đến 24/4/1956 để nghe báo cáo về ĐH 20 ĐCS LX, ra nghị quyết trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ chống sùng bái cá nhân, thực hiện phương thức lãnh đạo tập thể, đẩy mạnh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt đảng; [1] đó là nghị quyết 9 (nhiệm kỳ 2). Vấn đề nêu ra trong nghị quyết 9 nói trên càng trở nên rõ ràng khi tin tức về việc Trung ương Đảng cộng sản Liên Xô ngày 30/6/1956 thông qua nghị quyết chống sùng bái cá nhân được đăng tải khá kỹ càng trên nhật báo Nhân dân của Đảng Lao động Việt Nam. [2]

Với việc Đảng ra nghị quyết 9 (khoá 2) nhắc trên, bản nghị quyết này cũng yêu cầu phổ biến tinh thần “chống sùng bái cá nhân, thực hiện lãnh đạo tập thể, phê bình và tự phê bình” đến các cấp các ngành; vì vậy, hội Văn nghệ Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ trên bằng việc tổ chức cuộc học tập nghiên cứu lý luận cho trên 200 văn nghệ sĩ từ 1/8 đến 18/8/1956.

Cũng chính từ tinh thần học tập các văn kiện ĐH 20 ĐCS LX mà BCH TƯ ĐLĐ VN đã phát hiện ra những sai lầm của cuộc cải cách ruộng đất, nhất là sau kết quả CCRĐ đợt 5, triệu tập hội nghị trung ương mở rộng lần thứ 10 và ra nghị quyết sửa sai. “Hội  nghị Trung ương Đảng lần thứ 10 đã đi đến nhận định nhất trí rằng chỉnh đốn tổ chức ở các cấp tỉnh, huyện là một thất bại, chỉnh đốn chi bộ ở xã đã gây những tổn thất rất nặng nề cho Đảng”.[3] Sự kiện này, xin sẽ vắn tắt đề cập ở một đoạn sau.

*

2b. Tuy nhiên, liên quan đến Xuân Diệu, ta hãy tạm dừng lại ở đời sống văn nghệ trong đoạn thời gian trước khi có các diễn biến chính trị kể trên, tức là từ sau cuộc thảo luận về tập thơ “Việt Bắc” đến trước tháng 8/1956.

Ngay từ đầu năm 1956, dư luận trong giới văn nghệ có ít nhiều chấn động vì  kết quả giải thưởng văn học 1954-55 của Hội Văn nghệ Việt Nam (công bố trên báo Văn nghệ số 112, ngày 15/3/1956), theo đó về thơ, ngoài giải nhất được trao cho tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu, còn có 3 giải nhì: Giải nhì  A trao cho 2 tập Đồng tháng tám và Dặn con, thơ và ca dao về nông dân kháng chiến và phát động quần chúng của Trần Hữu Thung; giải nhì B trao cho Ngôi sao, tập thơ của Xuân Diệu; giải nhì C trao cho Nụ cười chính nghĩa, tập thơ đả kích của Tú Mỡ; giải ba trao cho tập Thơ chiến sĩ của Hồ Khải Đại; và một số tác phẩm khác được trao giải khuyến khích (bên cạnh đó còn có các giải về tiểu thuyết, kịch, ký sự, dịch văn học).

Việc tập thơ Ngôi sao của Xuân Diệu ở vị trí giải nhì gây phản ứng trong một số không ít văn nghệ sĩ, tiêu biểu là sự phê bình của báo Trăm hoa. (Các bài phê bình của báoTrăm hoa, − đây là Trăm hoa loại cũ, ra từ tháng 9/1955 − khi giải thưởng văn học 1954-55 vừa công bố, hiện nay tôi chưa tìm thấy nên không rõ do ai viết và nội dung ra sao, nhưng theo lời Trần Lê Văn [VN. s. 136, ngày 30/8/1956] và lời Nguyễn Bính chủ bút tuần báoTrăm hoa, thì tuần báo ấy đã đăng liền 3 bài phê phán việc trao giải nhì cho tập Ngôi sao).

Dù luồng ý kiến ấy có bị một số người cho là ác ý đi nữa, thì một trong những người giữ trọng trách trong ban chấm giải là Hoài Thanh cũng đã phải lên tiếng, chủ yếu để bênh vực ban chấm giải, nhưng bằng cách khẳng định giá trị tập thơ của Xuân Diệu (Một vài ý kiến về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu // VN. s. 122, ngày 24/5/1955).

“… Cách mạng càng tiến lên, Xuân Diệu càng thêm gắn bó với quần chúng, nhất là với quần chúng nông dân, nhờ đó thơ Xuân Diệu càng thêm chắc về nội dung tình cảm, thêm giản dị về điệu về lời. Và đã có lúc chúng ta tưởng như gặp một Xuân Diệu hoàn toàn mới. Nhưng cuộc đấu tranh giữa cái mới và cũ trong thơ Xuân Diệu cũng như trong con người của mỗi chúng ta là một cuộc đấu tranh gay go. Trong cái mới sao cho khỏi rơi rớt lại những cái cũ. Cái phần cũ tôi muốn nói cái phần sống sượng, lệch lạc, giả tạo trong thơ Xuân Diệu cũng còn nhiều. Nhưng hôm nay tôi không định nói về phần ấy. Tôi muốn nói về cái phần đứng đắn, chân thành trong thơ Xuân Diệu”…

Như vậy, tuy giành phần lớn bài viết để nói về chỗ khả thủ ở tập thơ Ngôi sao, Hoài Thanh vẫn mặc nhiên thừa nhận phương diện chưa thành công, “sống sượng, lệch lạc, giả tạo” ở tập thơ này của Xuân Diệu.

Song, bài viết trên của Hoài Thanh bị xem là chỉ nhằm xoa dịu dư luận, − nhà thơ Nguyễn Bính lên tiếng như vậy (Hội cần phải mạnh dạn tự phê bình // VN. s. 125, ngày 14/6/1956) và nói rõ sự thắc mắc của dư luận trong ngoài giới văn nghệ về việc trao giải nhì cho tập Ngôi sao:

“Thắc mắc chung quanh tập Ngôi sao thực là nhiều và sôi nổi. Có những thắc mắc đã nói ra trên báo chí, có những thắc mắc chỉ trao đổi trong những cuộc mạn đàm. Có những thắc mắc trong anh em văn nghệ, có những thắc mắc của bạn đọc. Của những người ở vùng tự do cũ, cũng như ở vùng mới giải phóng, ở nhiều tầng lớp khác nhau, trong những cương vị công tác, hoạt động khác nhau. Nói chung, phần tán thành ít mà phần thắc mắc thì hầu như phổ biến. Tập thơ Ngôi sao lại đã xuất bản trước khi công bố giải thưởng.[4] Ngay khi chưa biết nó được giải cũng đã nhiều anh em phàn nàn về những mặt hỏng của nó. Sao không có một cuộc thăm dò dư luận từ trước? Quả là ban giám khảo chưa thực mở rộng dân chủ, chưa tha thiết lắng nghe ý kiến nguyện vọng của quần chúng. Sự định đoạt giá trị và thứ bậc tác phẩm hầu như chỉ thu hẹp trong phạm vi ban giám khảo, trong sự bàn cãi phân tách của một số nhỏ người.

[…] Đối với những phản ứng trong quần chúng, Ban chấm giải không tự kiểm điểm, không trưng cầu ý kiến của quần chúng, khơi cho hết thắc mắc của mọi người, mà chỉ tìm cách xoa dịu bằng một bài báo nặng tính cách bào chữa của Hoài Thanh trong Văn nghệ số 122. Một vài anh em còn không bằng lòng ra mặt những bài phê bình tập Ngôi sao trên báo Trăm hoa, cho đó là lối “đập” thiên lệch và ác. Trong khi ấy trên tờ báo của Hội vẫn có những bài phê bình có tính cách “đập” thiên lệch và ác như bài của Nguyễn Đình Thi phê bình Giai phẩm. Phải chăng đó là lưu tệ của cái thói “lỗi người để túi trước, lỗi mình để túi sau”? Chính vì vậy mà có tình trạng nhiều bạn nêu lên thắc mắc muốn thành khẩn xây dựng cho cơ quan lãnh đạo Hội, song lại sợ bị thành kiến. Dĩ nhiên những thái độ của mấy bạn đó cũng cần được kiểm điểm lại, nhưng do đấy mà thành một vấn đề: những người lãnh đạo và phụ trách công tác Hội đã làm thế nào để anh em dè dặt đến như vậy?”

Một cây bút phê bình khác là Huy Phương (Phát biểu về tập thơ “Ngôi sao” của Xuân Diệu // VN. s. 126, ngày 21/6/1955) cũng đánh giá không khả quan về tập thơ này của Xuân Diệu.

“… những lúc nào Xuân Diệu bạo dạn đi vào thực tế, được chất chiến đấu của thực tế tác động mạnh mẽ vào tâm hồn, thì ta thấy anh cũng đã viết được những bài thơ thành công”… “Nhưng những khi Xuân Diệu trở về với “hồn thơ” của mình thì thơ anh chỉ là tiếng nói yếu đuối của con người còn vướng mắc trong cái “tôi” riêng lẻ bé nhỏ.

[...] Nói đến sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ, Xuân Diệu viết những câu này:

Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê

Lấy máu tuỷ đổ ra đời bát ngát

Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt

Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng

Đọc những câu thơ nhễ nhại những máu huyết ấy, người đọc thật là thấy giận cái bệnh “khoái cảm” của tác giả. Những câu thơ như vậy không phải là những trường hợp ngẫu nhiên trong thơ Xuân Diệu. Nó là biểu hiện của cả một thái độ sống bắt nguồn từ cả một hệ thống ý thức và tình cảm của tác giả. […] trong nghệ thuật, nhất là trong thơ, không thể nào gạt bỏ được phần cảm giác nó là một cạnh khía quan trọng của khả năng cảm thông của tác giả với thực tế. Nhưng khi cảm giác của nghệ sĩ thiên về tính chất hình thức và hưởng thụ, thậm chí trở thành một động cơ sáng tác thì đó là biểu hiện của bản chất hưởng lạc và cá nhân của chủ nghĩa lãng mạn tư sản.

[…] Tập Ngôi sao đánh dấu một quá trình dài trong bước đường làm thơ của Xuân Diệu. […] Nhưng cái mức chung của Xuân Diệu trong Ngôi sao vẫn là còn thấy mình bé nhỏ, là kẻ chịu ơn và được hưởng thụ nhiều hơn là thấy mình là người chiến đấu có một trách nhiệm nặng nề và vinh quang. Chính vì thế mà thơ Xuân Diệu không đi sâu được vào lòng chúng ta”.

Có thể nói, đó là những lời bình luận không hề dễ lọt tai tác giả; nhưng không thấy Xuân Diệu trả lời, cũng giống như Xuân Diệu đã không lên tiếng trả lời 3 bài viết về tập Ngôi sao của báo Trăm hoa. Về chuyện này, hậu thế đừng nên nhận xét là nhà thơ đã tỏ ra “học phiệt” với dư luận (theo chữ mà Phan Khôi đã dùng vào năm 1930 để xác định thái độ Phạm Quỳnh không trả lời Ngô Đức Kế năm 1925). Trong đời sống văn nghệ những năm 1950-60 ở miền Bắc, một tờ báo “của đoàn thể” (không phải báo tư nhân) như Văn nghệ rất ít khi dành trang cho tác giả lên tiếng trả lời các bài phê bình tác phẩm của mình, khi thật cần trả lời, phải được phép, thậm chí phải trở thành chủ trương của ban lãnh đạo tờ báo.

Không lên tiếng trả lời, nhưng hẳn Xuân Diệu sẽ không quên những món nợ loại như vậy trong giới của mình. Tạp chí Tác phẩm mới (1969-1976) mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như thể không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ Việt thế kỷ XX, − đó có lẽ là cách “trả đũa” của Xuân Diệu, cố nhiên là có sự đồng tình của một số tên tuổi khác. Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986.

*

3a. Chúng ta tiếp tục theo dõi đời sống văn nghệ miền Bắc từ giữa năm 1956. Việc Hội Văn nghệ Việt Nam mở lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ (từ 1/8 đến 18/8/1956) cho trên 200 văn nghệ sĩ và người công tác văn nghệ, trên thực tế, đã mở đầu cho một thời điểm bộc phát nhiều vấn đề tiềm ẩn chất chứa.

Bản dịch bài báo“Trăm hoa đua nở trăm nhà đua tiếng” của Lục Định Nhất, được báo Văn nghệ trích dịch đăng tải (số 134, ngày 16/8/1956) sớm hơn báo Nhân dân (báo này đưa tin bằng “Thư Bắc Kinh” của Lê Hào từ 5/8/1956, nhưng  chỉ cho đăng bản dịch toàn văn ở số ra ngày 30/9/1956), cùng lúc với những ý kiến văn nghệ sĩ tham gia diễn đàn “Tiến tới Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai”, trong đó nhiều ý kiến nêu lên những hiện tượng gò bó, máy móc, áp đặt từ phía những người quản lý văn hoá văn nghệ mà đương thời gọi bằng mấy từ “lãnh đạo văn nghệ”.

Những người thuộc thành phần “lãnh đạo văn nghệ” ấy là những ai? Trong mắt văn nghệ sĩ đương thời, đó có khi là các cơ chế, cơ quan, ví dụ phòng văn nghệ quân đội, hội Văn nghệ Việt Nam, có khi là những quan chức cụ thể, chẳng hạn như Nguyễn Tuân, tổng thư ký Hội Văn nghệ, như Hoài Thanh, giám đốc Vụ nghệ thuật Bộ văn hoá, như Tố Hữu, uỷ viên trung ương Đảng phụ trách tuyên huấn, v.v…

Các ý kiến phê bình và thảo luận đó khá nhiều; mỗi tuần báo Văn nghệ dành ít nhất là 2 trang để đăng tải; tính từ lúc Văn nghệ (số 122, ngày 24/5/1956) đăng thông báo của ban trù bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc đến ngày họp Đại hội (20/2/1957), việc thảo luận trải ra trong suốt 7 – 8 tháng. Người ta bàn đến nhiều chuyện: quan hệ giữa văn nghệ và chính trị với những quan niệm khác nhau xung quanh vấn đề sáng tác phục vụ chính sách; quan niệm về tự do sáng tác, về “trăm hoa đua nở”; quan niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa; vấn đề khai thác và phát triển các hình thức nghệ thuật dân tộc, v.v… nhưng sôi nổi hơn cả vẫn là những chuyện chống công thức sơ lược, “phê bình lãnh đạo văn nghệ” tức là nhận xét phê bình về việc chỉ đạo và quản lý hoạt động văn hoá văn nghệ của các cơ quan quản lý “đoàn thể” (= hội Văn nghệ) hoặc chính quyền (= vụ nghệ thuật, bộ văn hoá…).

Trong không khí ấy, một số “lãnh đạo văn nghệ” đã lên tiếng tự phê bình, ví dụ Hoài Thanh (Tôi đã sai lầm như thế nào trong việc phê bình bài “Nhất định thắng” của anh Trần Dần // Văn nghệ số 139, ngày 20/9/1956), Nguyễn Tuân (Về giải thưởng văn học 1954-55 // Văn nghệ số 140, ngày 27/9/1956). Nguyễn Đình Thi cũng khởi đăng bài Một vài sai lầm trong sự lãnh đạo văn nghệ (Văn nghệ số 140 đã dẫn), hứa hẹn sẽ là bài đăng nhiều kỳ, nhưng sau kỳ đầu rồi không thấy đăng tiếp. Cũng dịp này, Ban thường vụ Hội Văn nghệ ra thông cáo (đăng Văn nghệ số 141, ngày 4/10/1956) “thừa nhận những sai lầm của mình trong cách tổ chức và lãnh đạo cuộc phê bình bài Nhất định thắng của Trần Dần”, thừa nhận những thiếu sót khuyết điểm trong việc chấm giải thưởng văn học 1954-55 (trong đó thừa nhận tập Ngôi sao của Xuân Diệu chỉ đáng giải ba đã được nể nang đưa lên giải nhì). Tuy nhiên, sự thành khẩn tự phê bình từ phía lãnh đạo hội Văn nghệ hầu như chỉ dừng lại ở đấy. Có thể là vì tiếp đó họ phải tập trung đối phó với nhiều sóng gió mới, nặng nề hơn.

Người ta biết, sau thời điểm lớp nghiên cứu lý luận văn nghệ kết thúc không lâu, một loạt ấn phẩm có giọng điệu phê bình mạnh mẽ hơn đã liên tiếp xuất hiện, − những ấn phẩm mà chỉ vài năm sau sẽ bị dư luận chính thống làm cho vĩnh viễn ô danh bằng định ngữ “phản động” và bằng các mệnh lệnh “cấm đọc, cấm phổ biến” được thực thi rất chặt chẽ.

Tháng 8/1956 tập sách Giai phẩm mùa thu 1956 tập I (Nxb. Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất là bài của Phan Khôi Phê bình lãnh đạo văn nghệ.

Tháng 9/1956 sách Giai phẩm mùa thu tập II (Nxb. Minh Đức) ra mắt, trong đó mạnh mẽ nhất có lẽ là bài của Trương Tửu Bệnh sùng bái cá nhân trong giới lãnh đạo văn nghệ.

Ngày 20/9/1956 tờ báo tư nhân mang tên Nhân văn (chủ nhiệm Phan Khôi, thư ký tòa soạn Trần Duy) ra mắt số 1 trong đó có các bài Tiến tới xét lại một vụ án văn học: Con người Trần Dần của Hoàng Cầm, Nhân câu chuyện mấy người tự tử của Lê Đạt, Chống bè phái trong văn nghệ của Trần Công, Phỏng vấn giáo sư Nguyễn Mạnh Tường về vấn đề mở rộng tự do dân chủ, v.v…

Ngày 30/9/1956 báo Nhân văn ra số 2 với những bài: Phấn đấu cho trăm hoa đua nở của Trần Duy, Không sợ địch lợi dụng của Trần Lê Văn, phỏng vấn học giả Đào Duy Anh về mở rộng tự do dân chủ, bài trả lời tác giả Nguyễn Chương của báo Nhân dân, cho rằng ký giả này đã “vu cáo chính trị” đối với báo Nhân văn, v.v…

Ngày 15/10/1956 báo Nhân văn ra số 3 với những bài Nỗ lực phát triển tự do dân chủ của Trần Đức Thảo, phỏng vấn bác sĩ Đặng Văn Ngữ về mở rộng tự do dân chủ, các ý kiến phản hồi về sự tự phê bình của Hoài Thanh đối với vụ phê phán bài thơ “Nhất định thắng”, v.v…

Ngày 20/10/1956, tuần báoTrăm hoa do Nguyễn Bính chủ trì đã tục bản sau nửa năm vắng mặt, lại mạnh mẽ đặt vấn đề: phải sửa sai đối với giải thưởng văn học 1954-55, − một việc mà lãnh đạo Hội Văn nghệ tuy đã thừa nhận có khuyết điểm song không hề sửa chữa trên thực tế (và sau đó mãi mãi không thay đổi). Trăm hoa cũng thường nêu lên những hiện tượng áp đặt máy móc của chính quyền trong sinh hoạt thường ngày ở đô thị (ví dụ quy chế khai báo hộ khẩu khiến chồng không thể về ở nhà mình qua đêm) và nhất là hiện tượng bè phái trong văn nghệ (những văn nghệ sĩ hồi kháng chiến cùng ở Việt Bắc đến lúc này thường ưu tiên ưu đãi nhau, từ việc xét giải thưởng và đi nước ngoài đến việc đăng bài vở, tác phẩm; một số văn nghệ sĩ miền Nam tập kết thiếu chỗ đăng bài, đã đến với với Trăm hoa hoặc một số báo tư nhân khác).

Trong tháng 10/1956 tập sách Giai phẩm mùa xuân 1956 từng bị thu hồi đầu năm, được in lại và phát hành.

Ngày 5/11/1956 báo Nhân văn ra số 4, với những bài của Nguyễn Hữu Đang (Cần phải chính quy hơn nữa), Trần Duy (Thành thật đấu tranh cho tự do dân chủ), truyện ngắn của Phùng Cung (Con ngựa già của chúa Trịnh), rồi bài nêu vụ việc một cán bộ sở báo chí trung ương đến toà báo Trăm hoa gây gổ xúc phạm thi sĩ Nguyễn Bính, bài của Bùi Quang Đoài đáp lại bài viết về chủ nghiã nhân văn của Hoàng Xuân Nhị trên báo Nhân dân, v.v…

Số báo Nhân văn này gần như ra cùng lúc với quyển mới Giai phẩm mùa thu tập III của nhà Minh Đức, trong đó có phần đầu bài Văn nghệ và chính trị của Trương Tửu, bài Muốn phát triển học thuật của Đào Duy Anh, thơ của Phan Khôi, Mai Hanh, bài Chủ nghĩa xã hội và nhà nước của một tác giả Nam Tư do Bùi Quang Đoài dịch, v.v…

Ngày 20/11/1956, báo Nhân văn ra số 5, với những bài phản đối sở báo chí trung ương thi hành kỷ luật báo Nhân văn, các bài của H.L. (Không có lý gì mà không tán thành trăm hoa đua nở), Nguyễn Hữu Đang (Hiến pháp Việt Nam 1946 và hiến pháp Trung Hoa bảo đảm tự do dân chủ thế nào?), Trần Duy (Góp ý kiến về phần tự do dân chủ trong nghị quyết TƯ lần thứ mười), N.Q.S. (Bài học Ba-lan và Hung-ga-ri), Châm Văn Biếm (Thi sĩ máy), Hoàng Tố Nguyên (Tiếng hát quê hương), v.v…

Cuối tháng 11/1956 Giai phẩm mùa đông 1956 tập I của nhà Minh Đức ra mắt với những bài của Trương Tửu (Tự do tư tưởng của văn nghệ sĩ và sự lãnh đạo của đảng cộng sản bôn-sê-vích), Trần Đức Thảo (Nội dung xã hội và hình thức tự do), Sỹ Ngọc (Làm cho hoa nở bốn mùa), Nguyễn Mạnh Tường (Hai câu chuyện),  Hữu Loan (truyện ngắn Lộn sòng), Trần Dần (dịch thơ Mai-a-kốp-ski), Hoàng Cầm (kịch thơ Hướng đi lên bắc), Phùng Quán (thơ Ai người hiểu rõ nhất?), v.v…

Cùng thời gian ấy, loại sách “Đất mới” của Nhà xuất bản Minh Đức ra tập I nhan đề “Chuyện sinh viên”  với bài của các tác giả Nguyễn Bao, Bùi Quang Đoài, Thúc Hà, Dương Viết Á, Văn Tâm, v.v…

Khuynh hướng thể hiện trong các ấn phẩm trên, tất nhiên bị phản đối dữ dội bởi các tờ báo chính thống. Trước hết là báo Nhân dân với các tác giả Nguyễn Chương, Quang Đạm, Xuân Trường, Hoàng Xuân Nhị, và những bạn đọc của báo ấy, v.v… Tuần báo Văn nghệ thì vừa tiếp tục vai trò làm diễn đàn chuẩn bị Đại hội Văn nghệ toàn quốc để cho đăng những bài góp ý phê bình lãnh đạo văn nghệ, vừa dành trang phê bình của báo (kể từ số 141, ngày 4/10/1956) cho những bài phê phán các số Nhân văn và các tập Giai phẩm, thậm chí dành trang cho cuộc thảo luận giữa Nguyễn Hữu Đang và Hồng Vân (Hoàng Trung Thông) xung quanh khẩu hiệu “trăm hoa đua nở”, khi báo Nhân văn và các tập Giai phẩm đã thôi không còn được ra thêm nữa.

Sự phức tạp của tình hình là ở những động thái đột xuất tạm thời cắt ngang dòng ý kiến phê phán báo Nhân văn và các tập Giai phẩm: ấy là ngày 30/10/1956 với việc công bố nghị quyết hội nghị trung ương Đảng lần thứ 10 (mở rộng) nêu lên những sai lầm trong cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, đồng thời nêu quyết tâm sửa chữa những sai lầm ấy, công bố những việc lớn như cử lại chức Tổng bí thư Đảng LĐ VN (Trường Chinh thôi chức này, Hồ Chí Minh kiêm nhiệm), cách chức những quan chức cao cấp của Ủy ban CCRĐ TƯ (chỉ thấy nêu 2 trường hợp Hồ Viết Thắng và Lê Văn Lương), tuyên bố vô hiệu hóa lập tức quyền hạn của UBCCRĐ từ trung ương đến các cấp (các ủy ban này từ đây trở thành những cơ quan chỉ còn chức năng nghiên cứu, ít lâu sau sẽ bị giải tán), giải tán ngay các tòa án nhân dân đặc biệt các cấp do các UBCCRĐ lập ra, nêu ra hàng loạt biện pháp sửa sai, từ các tiêu chuẩn để hạ thành phần cho những người bị quy vào các thành phần bóc lột đến việc minh oan cho những cán bộ đảng viên bị quy vào thành phần phản động các loại.[5]

Sự kiện chấn động đời sống chính trị miền Bắc này, tuy vậy, chỉ làm gián đoạn chốc lát chứ không làm thay đổi chiều hướng phê phán nhằm vào 5 số báo Nhân văn và 5 tập Giai phẩm; tất nhiên trên một số vấn đề sẽ xuất hiện một vài khía cạnh sẽ được biện luận thêm, ví dụ sự “phê bình” được phân chia thành “phê bình xây dựng” và “phê bình phá hoại”.

Ngày 8/11/1956, báo Nhân văn bị Sở báo chí trung ương cảnh cáo vì vi phạm quy chế lưu chiểu.

Ngày 15/11/1956, Ủy ban hành chính TP Hà Nội ra quyết định đình bản báo Nhân văn đồng thời cấm lưu hành tất cả 5 số Nhân văn đã phát hành trước đó.

Các tập Giai phẩm cũng không được cấp giấy phép để ra tiếp, nhà Minh Đức chỉ ra thêm được một tập sách cũng có dạng “giai phẩm” (gồm các sáng tác thơ văn của nhiều tác giả, chỉ không có bài nào là nghị luận) tuy mang tên Sách Tết 1957, với kích cỡ gần như một số báo (32 trang 30 x 40 cm).

Giữa tháng 12/1956, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị đảng viên văn nghệ, thống nhất nhận thức tư tưởng trước khi bước vào đại hội văn nghệ, tại đó hiện tượng Nhân văn – Giai phẩm đã bị lên án.

Tại kỳ họp lần thứ 6 của Quốc hội (khoá I), ngày 18/1/1957, dân biểu Nguyễn Đình Thi đã chính thức nói trước Quốc hội: “Trong khi chúng ta phê bình những sai lầm khuyết điểm, đã có một vài khuynh hướng xấu len vào vu khống chế độ của ta, đả kích sự lãnh đạo của đảng và chính phủ, đối với những người trí thức, tìm cách gây hoang mang chia rẽ. Những khuynh hướng xấu đó gần đây đã được vạch ra, cuộc đấu tranh tư tưởng chung quanh vấn đề văn nghệ hiện nay đang làm cho những người trí thức nước ta trưởng thành lớn thêm một bước nữa”…[6]

Ngày 20/2/1957, Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai khai mạc và tiếp diễn trong 8 ngày; đại hội này đã quyết định chấm dứt Hội Văn nghệ Việt Nam để thành lập Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, khuyến khích các ngành văn nghệ thành lập Hội của ngành mình, đặt trong khuôn khổ Hội Liên hiệp VHNTVN. Trong thời gian đại hội, với tư cách đại diện Đảng Lao động Việt Nam, ông Trường Chinh, được Ban chấp hành hội Văn nghệ giới thiệu như “người bạn thân mến của văn nghệ sĩ Việt Nam” và mời đến nói chuyện tại Nhà hát Lớn trong ngày nghỉ của đại hội (chủ nhật 24/2/1957), với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội”; trong bài nói chuyện này có những đoạn nhận định và lên án Nhân văn – Giai phẩm rất gay gắt; văn bản bài nói chuyện này của Trường Chinh, khoảng 4-5 tháng sau mới được công bố (trên 2 kỳ đầu Tạp chí Văn nghệ, cơ quan của Hội LHVHNTVN, xuất bản từ tháng 6/1957).[7]

(Còn 2 kì)


[1] Xem: tin về ĐH 20 ĐCSLX, lời chào mừng ĐH 20 ĐCS LX của Trường Chinh trong tạp chí Học tập, s. 3 (tháng 2/1956); bản dịch toàn văn các văn kiện và một số tham luận chính tại ĐH 20 ĐCS LX trong tạp chí Học tập số 4 (tháng 3/1956), s. 5 (tháng 4/1956) và s. 6 (tháng 5/1956); các văn kiện hội nghị BCHTƯ ĐLĐ VN lần thứ 9 (mở rộng) gồm nghị quyết, lời bế mạc hội nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo chính tại hội nghị của Tổng bí thư Trường Chinh: Đại hội lần thứ 20 của Đảng cộng sản Liên Xô, một cuộc Đại hội có ý nghĩa lịch sử trọng đại trên tạp chí Học tập số 6 (tháng 5/1956); các bài trao đổi về vấn đề phương thức lãnh đạo tập thể, chống sùng bái cá nhân trên tạp chí Học tập các số 7 (tháng 6/1956), số 8 (tháng 7/1956), số 1 (tháng 1/1957), v.v…

[2] Sự kiện BCH TƯ ĐCS Liên Xô thông qua nghị quyết về chống sùng bái cá nhân được đăng trên Nhân dân ngày 3/7/1956, tr. 1; bài tóm tắt nội dung nghị quyết này được đăng trên Nhân dân ngày 5/7/1956, tr.3-4.

[3] Xã luận tạp chí Học tập số 8 (tháng 7/1956), tr. 3.

[4]Có lẽ ý Nguyễn Bính muốn nói là tập thơ Ngôi sao đã xuất bản trước khi công bố kết quả giải thưởng văn học của Hội Văn nghệ (đăng Văn nghệ s. 112, ngày 15/3/1956). Nên chú ý là trong thể lệ dự giải văn học, tác phẩm gửi về tham dự giải có thể ở dạng bản thảo chưa in, có thể ở dạng sách đã xuất bản trong thời hạn được quy định.

[5] Xem trên nhật báo Nhân dân ngày 30/10/1956: 1/Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 (mở rộng) của Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam; 2/Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc cử lại Tổng bí thư BCH TƯ; 3/ Thông cáo của Hội nghị lần thứ 10 BCH TƯ ĐLĐVN về việc thi hành kỷ luật đối với những đồng chí ủy viên trung ương phạm sai lầm trong việc chỉ đạo công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. 4/Tin tối 29/10/1956 hơn 10.000 đại biểu nhân dân thủ đô họp mặt tại Nhà hát nhân dân nghe thông báo về Nghị quyết Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 10, nghe đại tướng Võ Nguyên Giáp nói chuyện về nghị quyết hội nghị lần thứ 10 trung ương Đảng.

- Xem trên Nhân dân ngày 31/10/1956: Bài nói chuyện của đồng chí Võ Nguyên Giáp ủy viên bộ chính trị trung ương Đảng, về nghị quyết Hội nghị trung ương lần thứ 10, tr. 1, 2-3, 4.

- Xem trên Nhân dân ngày 2/11/1956: Thông cáo của Hội đồng chính phủ;

- Xem trên Nhân dân ngày 7/11/1956: Nghị quyết của Hội đồng chính phủ về mấy chính sách cụ thể để sửa chữa sai lầm về CCRĐ và chỉnh đốn tổ chức.

- Xem trên Nhân dân ngày 8/11/1956: Trích Nghị quyết của HĐCP về việc chấp hành chính sách cụ thể đối với phú nông, đối với những người bị vạch là thành phần bóc lột khác và những người có ít ruộng đất phát canh hoặc thuê người làm; Chính sách đối với địa chủ sau cải cách ruộng đất.

[6] Nguyễn Đình Thi: Mấy việc làm để xây dựng nền văn hoá văn nghệ của nhân dân ta (phát biểu trong phiên họp Quốc hội khoá thứ 6 ngày 18/1/1957) // Văn nghệ,  s. 158 (1/2/1957), tr. 1, 2. Lưu ý: báo chí đương thời gọi đây là “khoá họp” (QH) thứ 6”; theo cách gọi ngày nay, phải là “kỳ họp thứ 6” mới đúng; vì khi đó QH vẫn đang trong nhiệm kỳ I (nay cũng gọi là khoá I), được bầu cử từ 1946.

[7] Theo các bài tường thuật của Huyền Kiêu (VN. s. 161) và Bàng Sĩ Nguyên (VN. s. 162), có thể tóm tắt tiến trình Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai, họp tại Nhà hát Lớn Hà Nội từ 20/2/1957 đến 28/2/1957 như sau:

Chiều 19/2/1957: Họp trù bị, bầu Chủ tịch đoàn Đại hội, 25 người: Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Tú Mỡ, Hoài Thanh, Nguyễn Xuân Khoát, Lương Xuân Nhị, Phan Thao, Thế Lữ, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Nông Quốc Chấn, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Cao Luyện, Văn Cao, Ái Liên, Thái Thị Liên, Nguyễn Thị Kim, Nguyễn Văn Tỵ, Y Dơn, Nguyễn Tuân, Nguyễn Nho Tuý (Đội Tảo), Trần Văn Lắm, Lưu Hữu Phước, Trần Huyền Trân

20/2/1957: phiên khai mạc; ngày họp thứ nhất

- Chủ tịch đoàn giới thiệu Đặng Thai Mai chủ toạ phiên họp đầu tiên. Chủ tịch đoàn giới thiệu bổ sung nhạc sĩ quân đội Đỗ Nhuận vào chủ tịch đoàn, đại hội biểu quyết bằng vỗ tay thông qua.

- Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân giới thiệu thành phần đại hội và khách của đại hội: Thủ tướng Phạm Văn Đồng, đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Trường Chinh đại diện Đảng Lao động VN; trên 600 văn nghệ sĩ; các vị khách Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Quân đội nhân dân, đảng xã hội, đảng dân chủ, bộ văn hoá, các sứ quán, các phóng viên…

- Tổng thư ký Nguyễn Tuân đọc diễn văn khai mạc.

- Lời chào mừng của Mặt trận tổ quốc, của anh em văn nghệ sĩ đang công tác ở giới tuyến, nhà văn và trí thức Ru-ma-ni.

- Nguyễn Đình Thi thay mặt Ban chấp hành Hội đọc báo cáo chính: Văn học và nghệ thuật Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám.

- Chiều: Nguyễn Đình Thi đọc tiếp báo cáo

- Ô. Trường Chinh đọc Thư của BCH TƯ ĐLĐ VN gửi đại hội.

21/2/1957: ngày họp thứ hai

- Lưu Quý Kỳ đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ miền Nam trong chín năm qua và nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

- Nông Quốc Chấn đọc báo cáo bổ sung về: Phong trào văn nghệ các dân tộc miền núi.

- Nguyễn Xuân Sanh đọc báo cáo bổ sung về: Dự thảo điều lệ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

22/2/1957: ngày họp thứ ba

các đại biểu thảo luận theo ngành tại Nhà hát Lớn, CLB Đoàn Kết, CLB Thống Nhất; tối: đoàn bình kịch Cáp-nhĩ-tân (Trung Quốc) biểu diễn chào mừng đại hội với vở Đào hoa nhân diện.

23/2/1957: ngày họp thứ tư

- họp chung tại Nhà hát Lớn nghe các tham luận

- Chủ nhiệm Tổng cục chính trị QĐND VN Nguyễn Chí Thanh phát biểu, mời văn nghệ sĩ sáng tác về các đề tài quân đội.

- Đại diện Ban liên lạc nông dân toàn quốc phát biểu hoan nghênh những sáng tác về nông thôn.

- Tham luận: Vũ Ngọc Phan về dân ca VN; Cầm Biêu về thơ dân tộc Thái; Tú Mỡ về trào phúng; Tô Vũ về vốn nhạc cổ; Cù Huy Cận về học tập vốn cũ dân tộc; Đào Duy Anh về vốn cũ dân tộc; Nguyễn Văn Tỵ về phổ biến tranh dân tộc; ngoài ra còn tham luận của Hoàng Châu Ký, Lã Văn Lô, Nhật Lai, Chi Lăng…

24/2/1957: chủ nhật, đại hội nghỉ,

Ban chấp hành hội Văn nghệ VN “mời đồng chí Trường Chinh, người bạn thân mến của văn nghệ sĩ VN” nói chuyện tại Nhà hát Lớn, với đầu đề: “Phấn đấu cho một nền văn nghệ dân tộc dưới ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội” .

25/2/1957: ngày họp thứ năm

- đại diện Tổng Liên đoàn lao động VN Nguyễn Duy Tính, đại diện Hội LH Phụ nữ VN Đinh Thị Cẩn, đại diện Hội LH Thanh niên VN Hồ Trúc phát biểu những ước mong của giới mình với văn nghệ.

- đại hội thảo luận về kinh nghiệm sáng tác và biểu diễn. Phạm Văn Đôn: về kết quả triển lãm hội hoạ VN tại Trung Quốc, Mông Cổ, Triều Tiên; Đào Duy Kỳ: Khai thác vốn dân tộc; Nguyễn Công Hoan: kinh nghiệm viết tiểu thuyết; Nguyên Hồng: ý thức nhà văn; Bàn Tài Đoàn: tôi học làm thơ như thế nào; Hồ Dzếnh: một ý nghĩ về sáng tác; Y Dơn: tôi làm văn nghệ; Đội Tảo: Người diễn tuồng cổ; hoạ sĩ Nguyễn Hiêm: đi vào quần chúng; Nông Quốc Chấn: thơ và đời sống; Thuý Ngần: tâm sự diễn viên…

26/2/1957: ngày họp thứ sáu

- Thứ trưởng bộ văn hoá Đỗ Đức Dục nói về trách nhiệm văn nghệ sĩ với việc nâng cao đời sống văn hoá của nhân dân; Nguyễn Khánh Toàn (bộ giáo dục) nói về mối quan hệ của ngành giáo dục và văn nghệ sĩ.

- Các tham luận: Nguyễn Xuân Khoát: những khuyết điểm trong phê bình và tự phê bình; Lưu Công Nhân: chống lối phê bình thiếu nâng đỡ đối với hoạ sĩ trẻ; Nguyễn Đình Phúc: sáng tác lâu dài; Phùng Quán: nhận biết “mùi” trăm hoa là khó; Đỗ Nhuận bác lại ý Phùng Quán: “trăm hoa đua nở” không có nghĩa người trồng hoa có thể không có chủ định gì cả…; Xuân Diệu: về bệnh sơ lược trong văn nghệ; Lưu Trọng Lư: về con người mới; Bửu Tiến: tư tưởng tính trong sáng tác; Nguyễn Thành Long: vấn đề phê bình; Lan Sơn: tâm trạng người văn nghệ sĩ tiểu tư sản; Trần Thanh Mại: Đảng, sự thật  và văn học.

27/2/1957: ngày họp thứ bảy

- Tham luận và thảo luận về các nhiệm vụ. Phan Thị Nga: văn nghệ với phụ nữ; Phạm Hổ: văn nghệ với thiếu nhi; Trần Hoàn: lực lượng văn nghệ trẻ; Thái Thị Liên và Bích Được: hoàn cảnh khó khăn của diễn viên…

- Buổi chiều, đại biểu các ngành nghệ thuật trẻ: điện ảnh, nhiếp ảnh, múa rối, xiếc…đọc tham luận; Phan Thao: bàn về đâu tranh cho thống nhất nươc nhà.

28/2/1957: ngày họp thứ tám

- điện mừng đại hội của nhà văn Pháp André Still và Pierre Courtade

- Các tiểu ban báo cáo: Hoàng Như Tiếp báo cáo công việc của tiểu ban điều lệ; Đặng Thai Mai: công việc của tiểu ban nghị quyết; Nguyễn Đình Thi: nghị quyết của đại hội; Tú Mỡ (tiểu ban hiệu triệu): thư đại hội gửi các nhà văn nghệ miền Nam, thư đại hội gửi nhà văn trong nước và ngoài nước, thư gửi Trung ương Đảng LĐVN.

- Thông qua nghị quyết của đại hội. Nguyễn Tuân tuyên bố Hội Văn nghệ VN hết nhiệm kỳ. Đại hội bầu cử (bằng bỏ phiếu kín) Ban Chấp hành chính thức của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Chiều, công bố kết quả: có 45 văn nghệ sĩ trúng cử. BCH ra mắt.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh đến mừng thành công của đại hội và nói chuyện với văn nghệ sĩ.

- Tố Hữu trong đoàn chủ tịch đại hội đọc diễn văn bế mạc.

Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam

(do đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai bầu ra)

ngành văn: Nguyễn Văn Bổng, Hồ Dzếnh, (bà) Vân Đài, Bảo Định Giang, Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Đặng Thai Mai, Tú Mỡ, Hoàng Ngọc Phách, Võ Huy Tâm, Thanh Tịnh, Nguyễn Tuân,  Hoài Thanh, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung

ngành mỹ thuật: Trần Văn Cẩn, (bà) Nguyễn Thị Kim, Trần Văn Lắm, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Tỵ, Huỳnh Văn Thuận

ngành kiến trúc: Nguyễn Cao Luyện

ngành nhạc: Văn Cao, Lưu Quang Duyệt, Vũ Tuấn Đức, (bà) Thương Huyền, Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước

ngành múa: Hoàng Châu

ngành sân khấu: Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), (bà) Ái Liên, Thế Lữ, Tống Văn Ngũ (Năm Ngũ), Nguyễn Thị Lan (bà Cả Tam), Nguyễn Nho Tuý (bác Tảo), Sĩ Tiến

ngành múa rối: Huỳnh Văn Cát

ngành xiếc: Phạm Xuân Thư

ngành điện ảnh: Phạm Văn Khoa, Mai Lộc

ngành nhiếp ảnh: Nguyễn Văn Phú

văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số: Cầm Biêu, Nông Quốc Chấn, Y Dơn

(ngoài ra còn 10 ghế dành cho anh chị em văn nghệ hiện ở miền Nam).

Phiên họp đầu tiên của Ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, ngày 1/3/1957 tại trụ sở Hội số 51 Trần Hưng Đạo Hà Nội, dưới sự chủ toạ của nguyên Tổng thư ký Hội Văn nghệ VN Nguyễn Tuân, có mặt 39 uỷ viên chấp hành, đã bầu:

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật VN: Đặng Thai Mai

- 8 Phó chủ tịch: Nguyễn Tuân, Tú Mỡ, Nguyễn Xuân Khoát, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Cao Luyện, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Phương Danh (Tám Danh), Thế Lữ

- Tổng thư ký: Nguyễn Đình Thi

- 3 phó tổng thư ký: Văn Cao, Lương Xuân Nhị, Nguyễn Văn Bổng

- 13 vị trên đây họp thành Ban Thường vụ của Hội.

Phản hồi

2 phản hồi (bài “Lại Nguyên Ân – Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958 (2)”)

  1. Phùng Tường Vân nói:

    [...] “Nói đến sự hy sinh anh dũng của chiến sĩ, Xuân Diệu viết những câu này:

    Giữa xuân nay muôn chiến sĩ say mê
    Lấy máu tuỷ đổ ra đời bát ngát
    Ngừng tay lại thấy sức xuân còn nhạt
    Đổ máu thêm cho đến lúc toàn hồng

    Đọc những câu thơ nhễ nhại những máu huyết ấy, người đọc thật là thấy giận cái bệnh “khoái cảm” của tác giả…” (Lại Nguyên Ân dẫn Huy Phương)

    Có thể nói, đó là những lời bình luận không hề dễ lọt tai tác giả …Xuân Diệu sẽ không quên những món nợ loại như vậy… Tạp chí Tác phẩm mới (1969-1976) mà Xuân Diệu là một trong số vài ba nhân vật chủ chốt cầm lái, đã hầu như không nhắc gì đến Nguyễn Bính, đã làm như thể không hề có Nguyễn Bính trong nền thơ Việt thế kỷ XX, − đó có lẽ là cách “trả đũa” của Xuân Diệu, cố nhiên là có sự đồng tình của một số tên tuổi khác. Phải nhờ có dư luận văn nghệ miền Nam nhắc nhở, tên tuổi Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc từ 1986.
    (Lại Nguyên Ân)

    Phải nhờ đến văn học miền Nam nhắc nhở, cho mãi đến 1986, 11 năm sau “giải phóng”, tên tuổi một thi sĩ như Nguyễn Bính mới được sống lại với công chúng miền Bắc ! Cái tư cách của những người đến như Xuân Diệu mà cũng còn sa đọa đến thế, kể chi đến những phường “lòi tói”, chỉ có dưới ngọn roi chỉ đạo của nền văn học còng lưng xuống mà thương khóc “Hỡi ơi Ông mất đất trời có không/Thương cha thương mẹ thương chồng/Thương mình thương một thương ông thương mười” nó mới có thể đẻ ra những quái thai dị dạng văn học đến như vậy. Một nền báo chí cứ việc cúi đầu xuống mà đi lầm lũi mãi “bên lề phải” e rằng không bao lâu nữa đâu nó cũng để lại những trang sử báo chí không chừng còn thê thảm hơn thế nữa !

  2. Phùng Tường Vân nói:

    Nhân tác giả có nhắc đến câu chuyện phúng dụ Thi Sĩ Máy của Châm Văn Biếm trong Nhân Văn số 5, tôi có một thắc mắc từ lâu muốn hỏi mà chẳng biết hỏi ai, nay có cơ hội để hỏi ông thật mừng quá. Số là xưa nay tin vào những công bố đầu tiên của ông Hoàng Văn Chí và nhiều nguồn khác cũng nhắc lại như thế, tôi vẫn yên chí Châm Văn Biếm là một bút hiệu của nhà văn, nhà giáo, kịch tác gia Hoàng Như Mai, nhưng gần đây đọc một bài viết trên mạng của Hội Nhà Văn Việt Nam, người viết là Trương Thiếu Huyền (http://hoinhavanvietnam.vn/News.asp?cat=5&scat=&id=1293) thì Châm Văn Biếm lại là Như Mai, một bút danh khác của Ngô Huy Bính, thú thực rằng tôi chưa bao giờ được đọc cái gì của tác giả này . Vậy tôi nhờ ông Lại Nguyên Ân vì nghĩ rằng không ai có thẩm quyền hơn ông, xin ông chiếu cố dọi cho chút ánh sáng về nghi vấn văn học này.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả