talawas blog

Chuyên mục:

Friedrich August von Hayek – Sự ngụy tạo tri thức (kỳ 2)

31/05/2010 | 10:16 sáng | 3 phản hồi

Tác giả: Đinh Tuấn Minh

Chuyên mục: Kinh tế - Môi trường, Thế giới
Thẻ:

Xem kỳ 1

Đinh Tuấn Minh dịch

Trước khi bàn tiếp chủ đề thực tiễn của bài thuyết trình, những tác động của tất cả điều này đối với các chính sách tạo công ăn việc làm hiện đang được theo đuổi, cho phép tôi chỉ ra cụ thể hơn nữa những hạn chế vốn có nhưng thường bị bỏ qua trong kiến thức số (numerical knowledge) của chúng ta. Tôi muốn làm như vậy để tránh tạo ấn tượng rằng tôi là người về cơ bản bác bỏ phương pháp toán học trong kinh tế học. Thực tế, tôi coi công cụ toán học là một lợi thế lớn cho phép chúng ta mô tả đặc tính chung của một mô thức thông qua các phương trình đại số cho dù chúng ta không biết gì về các trị số quyết định hình hài cụ thể của mô thức đó. Chúng ta rất khó vẽ được bức tranh tổng thể về sự phụ thuộc lẫn nhau của các sự kiện khác nhau hiện diện trên một thị trường nếu thiếu công cụ đại số này. Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến ảo tưởng rằng chúng ta có thể sử dụng công cụ này để xác định và tiên đoán những trị số của các đại lượng này; và điều này đã dẫn đến những cố gắng kiếm tìm trong vô vọng các hằng số định lượng bằng những con số cụ thể. Những nỗ lực kiểu này đã và vẫn tiếp diễn bất chấp thực tế rằng những người sáng lập ra môn kinh tế toán hiện đại không hề có những ảo tưởng đó. Đúng là các hệ phương trình của họ mô tả mô hình cân bằng thị trường rất chi tiết đến mức nếu giả dụ chúng ta có thể điền đầy các khoảng trống trong các công thức trừu tượng này, tức là, nếu giả dụ chúng ta biết tất cả các tham số (parameters) của các phương trình trong hệ thống, thì chúng ta có thể tính ra được các mức giá và khối lượng của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được đem ra trao đổi. Nhưng như Vilfredo Pareto, một trong những nhà sáng lập ra hệ thống phương trình này, đã chỉ rõ, mục đích của hệ thống không phải là “đưa ra cách tính bằng số các mức giá”, bởi vì như ông nói: việc giả định rằng chúng ta có thể chắc chắn có được mọi dữ liệu là “vô nghĩa”[1]. Thực chất, điểm cốt lõi này đã được những học giả lỗi lạc người Tây Ban Nha thế kỷ XVI, trước khi kinh tế học hiện đại xuất hiện, nhận ra; họ đã nhấn mạnh rằng cái được gọi là giá cả toán học (pretium mathematicum), do phụ thuộc vào quá nhiều các yếu tố cụ thể, không có ai có thể biết rõ ngoài Chúa Trời[2]. Đôi lúc tôi muốn tin rằng rằng các nhà kinh tế toán của chúng ta nhập tâm điều này. Nhưng tôi phải thú nhận rằng tôi vẫn hoài nghi liệu nỗ lực của họ trong việc tìm kiếm các đại lượng có thể đo lường được có đem lại những đóng góp thực sự đối với hiểu biết lý thuyết của chúng ta về các hiện tượng kinh tế – thứ phân biệt với đóng góp của các đại lượng đó trong việc mô tả tình huống cụ thể. Tôi cũng thấy khó chấp nhận lời biện hộ rằng nhánh nghiên cứu này còn rất non trẻ: hãy xem, ngài William Petty, người sáng lập ra môn kinh trắc học, là nhân vật có thâm niên cao hơn cả ngài Isaac Newton trong Viện hàn lâm hoàng gia (Royal Society)!

Tuy không có nhiều ví dụ về tác hại gây ra trong lĩnh vực kinh tế của ảo tưởng rằng chỉ các đại lượng có thể đo lường mới quan trọng: nhưng tình trạng lạm phát và thất nghiệp hiện nay lại là một trường hợp rất điển hình của ảo tưởng này. Hậu quả của ảo tưởng này là, thứ nhất, cái đáng ra là nguyên nhân đích thực của nạn thất nghiệp sâu rộng lại bị các nhà kinh tế có đầu óc duy khoa học chiếm số đông bỏ qua, vì rằng tác động của nguyên nhân này không thể khẳng định được thông qua các mối quan hệ có thể quan sát trực tiếp giữa các đại lượng có khả năng đo lường; và thứ hai, sự tập trung hầu như hoàn toàn vào các hiện tượng bề mặt có khả năng đo lường được đã tạo ra chính sách khiến cho mọi việc càng thêm tồi tệ.

Dĩ nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận rằng loại lý thuyết mà tôi cho là lý giải đúng đắn vấn đề thất nghiệp chỉ là một lý thuyết có sức mạnh khá hạn chế (limited content) vì nó chỉ cho phép chúng ta thực hiện những tiên đoán khái quát về loại sự kiện chúng ta mong đợi xuất hiện trong một tình huống cụ thể. Nhưng việc áp dụng những mô hình đầy tham vọng rất tiếc cũng chẳng đem lại những ảnh hưởng tốt đẹp; và tôi phải thú nhận rằng tôi ưa thích loại tri thức đích thực cho dù không hoàn hảo, thậm chí để lại nhiều khoảng không xác định và không thể tiên đoán được, hơn là ngụy tạo ra thứ tri thức chính xác nhưng sai lệch. Chính cái tiếng tăm tuân thủ chặt chẽ các tiêu chuẩn khoa học phổ biến mà các lý thuyết trông có vẻ dễ hiểu nhưng sai lệch có được đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như chúng ta đang thấy trong ví dụ về vấn đề thất nghiệp hiện nay.

Trên thực tế, liên quan đến chủ đề đang bàn luận, chính các biện pháp do lý thuyết ‘kinh tế vĩ mô” hiện hành khuyến nghị để giải quyết nạn thất nghiệp – biện pháp gia tăng tổng cầu – là nguyên nhân gây ra sự phân bổ sai lệch nghiêm trọng các nguồn lực, khiến cho khó có thể tránh được nạn thất nghiệp trên qui mô lớn sau này. Việc bơm thêm liên tục tiền tệ vào các điểm này khác của hệ thống kinh tế nhằm tạo cầu ngắn hạn (phần cầu ắt biến mất khi việc tăng cung tiền bị cắt giảm), cộng với kỳ vọng về việc giá cả tiếp tục gia tăng, sẽ thu hút lao động và các nguồn lực khác vào guồng máy kinh tế; nhưng quá trình này chỉ duy trì được chừng nào cung tiền được liên tục gia tăng với tỷ lệ không đổi – hoặc có lẽ chỉ có thể duy trì được nếu cung tiền được liên tục gia tăng theo một tỷ lệ đã ấn định trước. Những gì chính sách này đem lại không phải là một mức thất nghiệp không thể đạt được bằng các biện pháp khác, mà là sự phân phối công ăn việc làm vốn không thể duy trì được lâu dài, và sau một thời gian chỉ có thể duy trì được bằng một tỷ lệ lạm phát mà có thể nhanh chóng làm đảo lộn mọi hoạt động kinh tế. Sự thực là, chúng ta đã bị đẩy vào tình thế bấp bênh, không thể ngăn chặn nạn thất nghiệp trên diện rộng quay trở lại, bởi quan điểm lý thuyết sai lầm này; không phải bởi vì nạn thất nghiệp  này được chủ động gây ra như là một biện pháp để chống lại lạm phát như đôi lúc được diễn giải sai lệnh bởi lý thuyết vĩ mô hiện hành, mà bởi vì giờ đây nạn thất nghiệp có khuynh hướng xuất hiện như là một hệ quả đáng tiếc nhưng không thể tránh khỏi bởi các chính sách sai lầm trong quá khứ ngay khi lạm phát ngừng gia tăng.

Tuy nhiên, giờ đây tôi phải tạm gác lại những vấn đề thực tiễn trước mắt, những vấn đề mà tôi đưa ra nhằm minh họa cho các hậu quả nghiêm trọng có thể diễn ra bắt nguồn từ các sai sót liên quan đến các vấn đề trừu tượng của triết học về khoa học. Những hiểm họa lâu dài gây ra bởi sự chấp nhận không suy xét những nhận định có vẻ khoa học trong một lĩnh vực khoa học rộng hơn đáng để chúng ta phải suy ngẫm thấu đáo  như đối với hiểm họa liên quan đến những vấn đề tôi vừa đề cập. Những gì tôi thực sự muốn trình bày qua ví dụ minh họa trên là: trong lĩnh vực nghiên cứu của tôi, tất nhiên thế, nhưng tôi tin rằng cũng trong những ngành khoa học nhân văn khác, cái thoạt trông có vẻ là đúng quy trình khoa học nhất lại thường là cái phi khoa học nhất, và hơn nữa, trong những lĩnh vực này có những giới hạn nhất định đối với những điều chúng ta kỳ vọng khoa học đạt tới. Điều này có nghĩa là tin tưởng vào khoa học – hay tin tưởng vào sự kiểm soát có chủ ý dựa theo những nguyên lý khoa học – nhiều hơn mức phương pháp khoa học có thể đem lại có khả năng dẫn đến những hiệu ứng tai hại. Sự tiến bộ của các ngành tự nhiên trong thời kỳ hiện đại dĩ nhiên đã vượt quá xa mọi sự mong đợi; điều này khiến cho người ta hoài nghi bất kỳ ý kiến nào cho rằng có thể có những giới hạn nhất định đối với quá trình tiến bộ này. Ý tưởng này sẽ bị chống đối đặc biệt bởi những người đặt hi vọng vào khả năng kiểm soát xã hội hoàn toàn theo ý chúng ta nhờ năng lực tiên đoán và kiểm soát ngày càng cao của chúng ta – thường được coi là kết quả đặc thù của tiến bộ khoa học – đối với sự các quá trình vận động của xã hội. Sự thật là, trái ngược với niềm phấn khích về khả năng kiểm soát mà các khám phá của khoa học tự nhiên thường đem lại, càng hiểu biết về các hiện tượng xã hội, chúng ta lại càng có xu hướng giảm khát vọng đó; và có lẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi những đồng nghiệp trẻ tuổi và tràn đầy nhiệt huyết của chúng ta khó sẵn lòng chấp nhận điều này. Song niềm tin vào sức mạnh vô biên của khoa học lại quá đỗi dựa vào một tín điều sai lầm rằng phương pháp khoa học cốt tại việc ứng dụng một kĩ thuật sẵn có, hoặc cốt tại việc sao chép hình thức thay vì nội dung của quy trình khoa học, như thể người ta chỉ cần tuân theo một số công thức nấu nướng là có thể giải quyết mọi vấn đề xã hội. Đôi khi có vẻ cứ như thể các kỹ thuật của khoa học dễ nắm bắt hơn cách tư duy để phát hiện ra các vấn đề và cách thức để giải quyết chúng.

Sự xung đột giữa một bên là những điều mà hiện tại công chúng mong muốn khoa học giải quyết nhằm thỏa mãn những hi vọng số đông và bên kia là khả năng thực sự của khoa học là một vấn đề đáng phải lưu tâm, bởi vì ngay cả nếu tất cả những nhà khoa học đích thực đều thừa nhận những giới hạn mà khoa học có thể đạt được trong các lĩnh vực nghiên cứu về con người, nhưng chừng nào công chúng còn mong đợi quá mức thì chừng đó vẫn sẽ luôn có những người ngụy tạo, và có lẽ thành thực tin, rằng họ có thể làm được nhiều hơn quyền năng thực sự của họ để thỏa mãn các nhu cầu số đông. Việc phân biệt giữa những tuyên bố trong thẩm quyền và không trong thẩm quyền (legitimate and illegitimate claims) nhân danh khoa học thường rất khó khăn đối với giới chuyên gia, và tất nhiên là hầu như không thể đối với người bình thường trong nhiều trường hợp. Việc đưa tin rầm rộ gần đây của các phương tiện thông tin đại chúng về một báo cáo nhân danh khoa học Những giới hạn đối với sự tăng trưởng (The Limits to Growth), và sự câm lặng của chính các phương tiện thông tin đại chúng đó trước phê phán sổ toẹt báo cáo này từ các chuyên gia đích thực[3] làm cho người ta phần nào cảm thấy lo ngại về cách danh tiếng của khoa học được đem ra sử dụng. Nhưng điều này không có nghĩa là chỉ trong lĩnh vực kinh tế học người ta mới đưa ra những tuyên bố đại chúng nhân danh khoa học để định hướng mọi hoạt động của con người, để thay thế các quá trình tự phát bằng “sự kiểm soát có ý thức của con người”. Nếu tôi không nhầm thì tâm lý học, tâm thần học và một số ngành xã hội học, không kể đến cái gọi là triết học lịch sử, còn bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi cái mà tôi gọi là định kiến duy khoa học và bởi những tuyên bố sai lệch về những gì khoa học có thể làm được[4].

Bảo vệ danh tiếng của khoa học và ngăn cản qui trình ngụy tạo tri thức (arrogation of knowledge) dựa trên việc bắt chước thô thiển qui trình nghiên cứu trong các ngành khoa học tự nhiên đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hơn nữa trong việc vạch trần những qui trình ngụy tạo đó, đặc biệt khi một số qui trình ngụy tạo này hiện đã trở thành những  chuẩn mực chung được chấp thuận bởi các khoa thuộc những trường đại học danh tiếng. Chúng ta không thể cảm tạ hết công ơn của các triết gia khoa học hiện đại như ngài Karl Popper, người đã cống hiến cho chúng ta một sự kiểm nghiệm mà nhờ đó chúng ta có thể phân biệt giữa những gì có thể được xem là khoa học và những gì không phải – một sự kiểm nghiệm mà tôi chắc rằng một số học thuyết hiện đang được chấp nhận rộng rãi là khoa học cũng không thể vượt qua. Tuy nhiên, có một số vấn đề khu biệt liên quan đến những hiện tượng có bản chất phức, trong đó các cấu trúc xã hội là trường hợp cực kỳ quan trọng, khiến tôi nên diễn đạt lại trong phần kết luận bằng ngôn ngữ tổng quát hơn về các lý do tại sao trong các lĩnh vực này không chỉ có các trở ngại nhất định đối với việc tiên đoán về các sự kiện cụ thể, mà còn tại sao nếu chúng ta hành động như thể chúng ta sở hữu những tri thức khoa học cho phép chúng ta vượt qua những trở ngại đó thì có thể đó sẽ là một trở ngại nghiêm trọng đối với sự tiến bộ của trí tuệ loài người.

Có một điểm quan trọng chúng ta phải ghi nhớ là: các quy luật chi phối, giúp ta có thể lý giải và tiên đoán, các hiện tượng quan sát trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên đạt được những bước tiến vĩ đại và nhanh chóng có dạng các hàm số chứa tương đối ít các biến số, bất kể đó là các biến số về các dữ kiện cụ thể hay tần suất tương đối. Đây có lẽ là lý do quan trọng nhất giải thích tại sao chúng ta tách biệt các lĩnh vực nghiên cứu này vào nhóm “tự nhiên” đối lập với các lĩnh vực nghiên cứu các cấu trúc có tổ chức cao hơn mà tôi gọi là các hiện tượng có bản chất phức. Không có lý gì khiến chúng ta phải tiếp cận lĩnh vực sau theo cùng cách thức như lĩnh vực trước. Những khó khăn mà chúng ta vấp phải trong lĩnh vực sau không phải là những khó khăn về xây dựng các lý thuyết để lý giải các sự kiện quan sát được như ai đó thoạt nghĩ – mặc dù chúng cũng gây ra những khó khăn nhất định đối với việc kiểm nghiệm những lý giải được để xuất, và do vậy, loại bỏ những lý thuyết tồi. Những khó khăn trong lĩnh vực nghiên cứu các cấu trúc có bản chất phức thực chất nằm ở chính vấn đề vốn sẽ nảy sinh khi chúng ta áp dụng các lý thuyết của chúng ta vào bất kì trường hợp cụ thể nào trong thế giới thực. Một lý thuyết về những hiện tượng có bản chất phức phải được tham chiếu đến một lượng lớn các dữ kiện cụ thể; và để đưa ra một tiên đoán từ lý thuyết đó, hoặc để kiểm nghiệm nó, chúng ta cần phải chắc rằng sẽ có tất cả các dữ kiện cụ thể này. Nếu giả dụ chúng ta thành công trong việc này, thì việc đưa ra những tiên đoán khả kiểm sẽ chẳng còn gặp khó khăn đặc biệt nào; với sự trợ giúp của các máy điện toán hiện đại, việc điền các dữ liệu này vào các khoảng trống trong công thức lý thuyết và đưa ra một tiên đoán là công việc khá dễ dàng. Nhưng khó khăn đích thực lại cốt tại trong việc đảm bảo có được các dữ kiện cụ thể; đây là điều mà khoa học chẳng giúp ích gì được nhiều và đôi khi thực sự ta không thể đưa ra  giải pháp.

Một ví dụ đơn giản sẽ cho thấy bản chất của khó khăn này. Xét một trận đấu bóng nào đó của một nhóm cầu thủ có trình độ gần như ngang bằng. Nếu giả dụ chúng ta biết thêm được một số dữ kiện cụ thể ngoài sự hiểu biết chung về năng lực của từng cầu thủ, chẳng hạn mức độ tập trung, khả năng cảm giác và trạng thái hoạt động của tim, phổi, cơ bắp v.v… trong từng thời điểm của trận đấu, thì có lẽ chúng ta có thể tiên đoán được kết quả của trận đấu. Thực ra thì, nếu giả dụ chúng ta có hiểu biết về cả trận đấu lẫn các đội bóng, thì có khả năng chúng ta sẽ vẫn đưa ra được một nhận xét sắc sảo về các yếu tố quyết định kết quả trận đấu. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không thể chắc chắn có được các dữ kiện này, và do vậy kết quả của trận đấu nằm ngoài tầm có thế tiên đoán bằng phương pháp khoa học, bất chấp mức độ hiểu biết của chúng ta về những yếu tố ảnh hưởng đến các sự kiện cụ thể đóng góp vào kết quả trận đấu. Điều này không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra tiên đoán nào trong suốt thời gian diễn ra trận đấu. Trong khi xem một trận đấu bóng, nếu chúng ta biết được các luật chơi của các trò chơi bóng khác nhau, chúng ta sẽ sớm biết được trận đấu đang diễn ra thuộc loại nào, những loại hành động nào chúng ta chờ đợi sẽ xảy ra và loại nào thì sẽ không. Nhưng năng lực tiên đoán của chúng ta sẽ bị giới hạn vào những đặc tính chung kiểu như thế của các sự kiện mong đợi;  còn khả năng tiên đoán từng sự kiện riêng lẻ sẽ nằm ngoài năng lực tiên đoán của chúng ta.

Điều này phù hợp với cái mà tôi đã đề cập trên đây – tiên đoán mô thức; chúng ta sẽ càng bị giới hạn vào tiên toán mô thức khi chúng ta càng mở rộng phạm vi nghiên cứu ra khỏi những lĩnh vực nơi các quy luật tương đối giản đơn chi phối để tiến vào địa hạt các hiện tượng bị chi phối bởi những qui luật phức tạp. Càng tiến vào địa hạt đó chúng ta càng thường xuyên thấy rằng trên thực tế chúng ta chỉ có thể chắc chắn có một số chứ không phải tất cả các dữ kiện cụ thể vốn quyết định kết quả của một quá trình nào đó; và hệ quả là, chúng ta chỉ có thể tiên đoán một số chứ không phải tất cả các tính chất của kết quả mà chúng ta mong đợi. Thông thường thì tất cả những gì mà chúng ta có thể tiên đoán chỉ là một đặc tính trừu tượng nào đó của mô thức sẽ xuất hiện – những mối quan hệ giữa các loại phần tử mà chúng ta biết rất ít về từng phần tử riêng rẽ. Tuy thế, như tôi cảm thấy có nghĩa vụ phải nhắc lại rằng, chúng ta sẽ vẫn có được những tiên đoán mà chúng ta có thể phủ định và do vậy chúng vẫn có ý nghĩa thực nghiệm.

Dĩ  nhiên, so với những tiên đoán chính xác mà chúng ta đã quen mong đợi trong các ngành khoa học tự nhiên, các tiên đoán theo kiểu thuần túy mô thức này là lựa chọn tốt nhì mà ai đó dù không muốn cũng vẫn phải chấp nhận. Song hiểm họa về điều mà tôi muốn cảnh báo đích xác là loại niềm tin rằng để một tuyên bố được chấp nhận là có tính khoa học thì tuyên bố đó phải khoa học hơn nữa. Lối suy nghĩ này ẩn chứa sự ngụy tạo và hậu quả tồi tệ. Khi tin rằng chúng ta có tri thức và quyền năng cho phép chúng ta định hình các quá trình của xã hội hoàn toàn theo ý muốn của chúng ta, thứ tri thức mà trên thực tế chúng ta không có, và hành động theo niềm tin đó thì chúng ta lại thường gây ra nhiều tai hại. Trong các ngành khoa học tự nhiên, có lẽ ít gặp phải sự phản đối đối với việc cố gắng làm những điều không thể; thậm chí có lẽ ta còn cảm thấy không được phép làm nản lòng những người tự tin thái quá bởi vì những thí nghiệm của họ rốt cục có thể đem lại cái gì đó mới mẻ. Nhưng trong lĩnh vực xã hội, niềm tin rằng sử dụng quyền lực vượt quá cũng sẽ đem lại những kết quả hữu ích là một niềm tin sai lầm; nó thường dẫn đến một quyền lực mới cưỡng ép những người khác phải lệ thuộc vào một quyền uy nào đó. Ngay cả khi bản thân quyền lực đó không phải là xấu, thì việc thực thi nó lại cản trở sự hoạt động của những lực lượng tuân theo trật tự tự phát, những lực lượng  trên thực tế hỗ trợ con người đáng kể trong việc theo đuổi các mục đích của mình mà không cần phải có hiểu biết về chúng. Chúng ta mới chỉ bắt đầu hiểu biết chút ít về sự kỳ diệu của một hệ thống thông tin trợ giúp cho sự vận hành của xã hội công nghiệp phát triển – một hệ thống thông tin mà chúng ta gọi là thị trường và tỏ ra là một cơ chế hiệu quả trong việc xử lý thông tin phân tán hơn bất kì hệ thống thông tin nào được con người chủ ý thiết lập.

Nếu con người không muốn làm những điều lợi bất cập hại khi cố gắng cải thiện trật tự xã hội thì con người cần phải ý thức được rằng, trong lĩnh vực này cũng như trong mọi lĩnh vực khác nơi tính phức chi phối hiện tượng, con người không thể có được tri thức đầy đủ để có thể làm chủ được các sự kiện. Do vậy, con người sẽ phải vận dụng những tri thức có khả năng đạt được, không phải để định hình các kết quả như một thợ thủ công tạo hình cho sản phẩm của mình, mà là để nuôi dưỡng sự phát triển bằng cách tạo ra môi trường thích hợp, theo cách của người làm vườn vun vén cho cây cối của mình. Cảm giác phấn khích về sức mạnh ngày càng gia tăng mà sự tiến bộ của các ngành khoa học tự nhiên mang lại ẩn chứa một hiểm họa; nó cuốn người ta vào nỗ lực  theo kiểu “say men chiến thắng” – một cụm từ đặc thù của chủ nghĩa cộng sản trước đây – để không chỉ chế ngự môi trường tự nhiên mà còn cả môi trường xã hội của loài người theo ý muốn kiểm soát của con người. Ghi nhận những giới hạn không thể vượt qua đối với tri thức của con người là một bài học về tính khiêm cung thực sự cần phải dạy cho sinh viên nghiên cứu về xã hội  để tránh trở thành kẻ đồng lõa trong tham vọng kiểm soát xã hội đầy nguy hiểm của một số người – thứ tham vọng không chỉ biến anh ta thành kẻ độc đoán đối với đồng loại của mình mà còn biến anh ta thành kẻ hủy hoại nền văn minh không phải do một bộ óc nào tạo ra, nền văn minh được phát triển từ những nỗ lực tự do của hàng triệu con người.

Nguồn: F.A. Hayek (1989), “Pretence of Knowledge”, American Economic Review, 79(6): 3-7.

(Có tham khảo bản dịch “Sự ngụy tạo kiến thức” trong Assar Lindbeck (biên soạn), “Các thuyết trình tại lễ trao giải thưởng Nobel về khoa học kinh tế 1969-1980”, Trần Thị Thái Hà và cộng sự dịch, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 277-91.)

Bản tiếng Việt © 2010 Đinh Tuấn Minh

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] V. Pareto, Manuel d’économie politique, xuất bản lần thứ hai, Paris, 1927, trang 223-4.

[2] Xem, ví dụ, Luis Molina, De iustitia et iure, Cologne, 1596-1600, tom. II, disp. 347, no. 3, và đặc biệt Johannes de Lugo, Disputationum de iustitia et iure tomus secundus, Lyon 1642, disp. 26, sect. 4, no. 40.

[3] Xem The Limits to Growth: a Report of the Club of Rome’s Project on the Predicament of Mankind, NewYork 1972; để tham khảo nhận xét có hệ thống đối với báo cáo này bởi một nhà kinh tế học thực thụ, xem Wilfred Beckerman, In Defence of Economic Growth, London 1974, và về các bài phê bình trước đó của các chuyên gia, xem Gottfried Haberler, Economic Growth and Stability, Los Angeles 1974. Haberler hoàn toàn đúng khi dùng từ “sổ toẹt” (devastating) để chỉ ảnh hưởng của các phê bình của các chuyên gia đối với báo cáo này.

[4] Tôi đã đưa ra một số minh họa cho những xu hướng này trong các lĩnh vực khác trong bài diễn văn nhận chức giáo sư danh dự tại trường Đại học Tổng hợp Salzburg, Die Irrtumer des Konstruktivismus und die Grundlagen legitimer Kritik gesenllschaftlicher Gebilde, Munich 1970, nay được tái bản tại Walter Eucken Institue, Freiburg i.Brg., bởi J.C.B. Mohr, Tubingen 1975.

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Friedrich August von Hayek – Sự ngụy tạo tri thức (kỳ 2)”)

  1. Phùng Tường Vân nói:

    Arrogant (adj.) theo tôi thì không có nghĩa nào gần giống như bạn Tôn Văn đã cho, còn ba định nghĩa của bạn vantruong thì tôi nghĩ từ “lớn lối” là có nghĩa gần gặn nhất, hai từ “xấc xược”, “hỗn láo” e có phần hơi hơi nặng. Người Pháp định nghĩa danh từ “arrogance” như là “Niềm (tự) kiêu hãnh được biểu thị một cách lớn lối, tự cao, miệt thị người khác (orgeuil qui se manifeste par des manières hautaines, méprisantes; morgue.. Danh từ tiếng Anh <arrogance cũng có một nghĩa tương tự. Còn arrogation trong Anh Ngữ thì lại có một nội hàm hơi dị biệt : “tự nhận (là của mình) mà thực ra không có quyền ấy; thái độ tự nhận một cách lớn lối, vô bằng” (to claim or seize without right; appropriate ‘to oneself’ arrogantly) và đây có lẽ là định nghĩa được tác giả dùng trong bài viết của mình và như vậy tôi cũng có chung một nhận xét với bạn Tôn Văn là chuyển sang tiếng Việt là “ngụy tạo” e không được “tinh nghĩa” (refined) lắm chăng ?

  2. vantruong nói:

    Những liên quan của bài đến đề tài kinh tế có thể gây chú ý chuyên môn đến một người tôi quen biết.
    Riêng tôi khi đọc bài ở đây thì tôi liên tưởng đến chữ “pseudo-scientifique” trong tiếng Pháp, từ tiếng Hy Lạp pseudês nghĩa là “sai, láo”, cùng mạch dẫn nghĩ đến cái vụ bà “chiêm tinh gia” Elizabeth Teissier làm doctorat ở Sorbonne ở đây:
    http://www.skepsis.nl/doctorteissier.html
    http://www.eteissier.com/
    Đây là những chuyện đàng hoàng, đứng (tùy chỗ…) đắn, có thể vẫn gây tranh cãi mút mùa.
    Xin được phép mở ngoặc nhỏ:
    “arrogant” tiếng Pháp có nghĩa là xấc xược, hỗn láo, lớn lối.
    “arrogation” (tiếng Anh) từ gốc La-tinh arrogatus, có thể chẻ ra là “ad” + “rogare”, và “rogare” nghĩa có thể như là right = quyền, vậy có nghĩa chung cho cả chữ là “tiếm quyền, lấn quyền” chẳng hạn, vì vậy tôi nghĩ ngay đến từ “impersonator” như Elvis Presley impersonator chẳng hạn, những người có mặt mũi, phong cách y hệt Elvis, và cuối cùng cũng là chuyện “thấy vậy nhưng không phải vậy”.

  3. Tôn Văn nói:

    Thưa tác giả Đinh Tuấn Minh,

    Xin cảm ơn tác giả về một bản dịch công phu. Nội dung ở đây là thuộc lĩnh vực (kinh tế) xa lạ và phức tạp đối với tôi nên rất khó nắm bắt hoàn toàn; Nhưng tôi thấy bị lôi cuốn vì đề cập đến cách thức nghiên cứu nên có lướt qua và thấy hình như khái niệm „ngụy tạo trí thức“ (arrogation of knowledge) chưa phản ánh đúng nội dung trình bày.
    „Arrogant“ (hình như có nguồn gốc từ tiếng Pháp và) có nghĩa gần như „bắt chước – làm giống theo cái cách“. „Ngụy tạo“ là „làm giả một cách cố tình“; Nhưng ở đây có lẽ chỉ nói về sự sai lạc khi lấy cách của lĩnh vực này đem áp dụng cho lĩnh vực kia mà chưa xét tới sự khác nhau của hai lĩnh vực đó.
    Tôi thấy nội dung rất có ý nghĩa nên sẽ cố tìm hiểu thêm.

    Cảm ơn công sức biên dịch rất nhiều của tác giả.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả