talawas blog

Chuyên mục:

Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 1)

28/06/2010 | 12:00 chiều | 1 phản hồi

Tác giả: Philip Taylor

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

Đặng Thế Truyền dịch

Khiên làm phụ bếp cho một tiệm phở ở Chợ Lớn. Cô 18 tuổi, xuất thân từ một gia đình nông dân dân tộc Khmer tỉnh Trà Vinh, đồng bằng sông Mê-kông. Vài năm gần đây, gia đình cô phải bán đi một phần ruộng để trang trải chi phí sản xuất ngày một tăng và bảo đảm cuộc sống thường nhật. Ba năm trước, khi mẹ Khiên lâm bệnh, họ lại bán một phần đất để chi tiền thuốc men và chữa bệnh. Lúc đó, Khiên đang học lớp 5. Đã từng buộc phải bỏ học nhiều lần, cô thôi học hẳn để thay mẹ cô trông coi quầy hàng xén của gia đình. Địa phương nơi cô ở cũng có những công việc vặt. Chính quyền địa phương tuyên bố kế hoạch xây dựng một nhà máy đường, nhưng vì giá đường giảm mạnh nên kế hoạch đó không bao giờ được thực hiện. Để thoát khỏi tình cảnh khó khăn, Khiên tính tới việc lấy chồng Đài Loan. Một vài người hàng xóm của cô sửa chữa nâng cấp nhà cửa nhờ khoản tiền mà con gái họ hiện sống ở Đài Loan gửi về. Nhưng cô thay đổi kế hoạch sau lần tới lễ ở ngôi chùa quê cô; tại đó cô đã gặp một người ở Chợ Lớn; bà đến gặp sư trụ trì chùa để xin bùa trừ tà ngôi nhà mới mua. Bà nói với cô rằng tiệm phở nơi bà làm việc đang cần tuyển thêm người và hứa sẽ giới thiệu cô cho chủ tiệm.

Khiên ở tại tiệm phở cùng với em trai. Cậu bé bán vé số. Cả hai chị em không có đăng ký hộ khẩu ở thành phố. Nhưng cô nói được chủ đối xử tử tế, ngoài lương 38 đô la mỗi tháng, cô được chủ cho ăn, ở không mất tiền. Ông chủ tiệm phở nói cô là người tin được và chăm chỉ. Cô và ông chủ giao dịch với nhau bằng tiếng Việt. Cứ hai tháng Khiên lại gửi tiền về nhà một lần; gia đình cô đã dùng số tiền đó để lợp ngói nhà. Mẹ cô, hiện đã nghỉ hưu và sức khoẻ khá hơn, dành hầu hết thì giờ giúp nhà chùa. Sắp tới Khiên sẽ về quê dự lễ khánh thành chùa; cô đã cúng một phần thu nhập của mình cho việc tôn tạo khá hoang phí đó.

Chúng ta lý giải thế nào về những thay đổi trong số phận của gia đình nông thôn này?

Những người ủng hộ tự do hoá kinh tế sẽ xem bước cải thiện đời sống ở Việt Nam là kết quả tất yếu của việc chính phủ chấp nhận các biện pháp cải cách thị trường hồi cuối những năm 1980. Một vài nhà kinh tế lập luận rằng trường hợp Việt Nam chứng tỏ việc tự do hoá thương mại đã mang lại tăng trưởng có lợi cho mọi người, và có lợi cho người nghèo[1]. Cuộc sống của gia đình Khiên quả đã được cải thiện đáng kể trong mấy năm gần đây và bản thân cô có thể cũng cho rằng cuộc sống khá hơn trước. Tuy nhiên, trường hợp của Khiên không khẳng định lý thuyết cho rằng thị trường ủng hộ người nghèo, vì kinh nghiệm của gia đình cô trong việc sản xuất lúa làm hàng hoá xuất khẩu và chi trả cho việc chữa bệnh đã được tư nhân hoá lại góp phần làm hao hụt ruộng lúa của họ. Những nhà phê phán theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa đối với các chính sách toàn cầu hoá tân tự do có vẻ lý giải tốt hơn các hệ quả này bằng cách chỉ ra rằng việc tự do hoá nông nghiệp ở Việt Nam, cũng như ở các nơi khác trên thế giới, dẫn tới sự chênh lệch thu nhập nghiêm trọng và phá hoại cuộc sống ở nông thôn[2]. Ý kiến phê phán này có vẻ nhắm vào vùng đồng bằng sông Mê-kông, một vùng đã hội nhập sâu vào thị trường tư bản, nơi mà tình trạng mất ổn định của người nông dân và sự chia rẽ giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng, tình trạng trắng tay về ruộng đất ngày càng lan rộng cho thấy ý nghĩa mỏng manh của thành tích xoá đói giảm nghèo. Song những phân tích kiểu xã hội chủ nghĩa về phát triển nông thôn lại không giải thích ngay được bước ngoặt rõ ràng trong số phận của gia đình Khiên, điều mà cô cho là phúc nhờ các hoạt động tôn giáo của cô mà có. Chỉ sau khi ra thành phố mới kiếm được cuộc sống tốt hơn, Khiên dành khoản tiết kiệm nhỏ nhoi của mình vào việc cúng viếng tôn giáo mà cả những người ủng hộ cải cách tự do lẫn phái phê phán theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa đều có thể cho là không hợp lý.

Một số người khác lập luận rằng Việt Nam chưa thực sự theo phương thuốc tân tự do và chính vì thế sự tăng trưởng của Việt Nam mang tính toàn xã hội. Pietro Masima lập luận rằng nhà nước Việt Nam vẫn duy trì vai trò trung tâm trong các sáng kiến phát triển tương tự như các nước Đông Á khác, kết hợp rõ ràng giữa việc đặc biệt chú ý tới vùng nông thôn và bảo trợ xã hội, dần dần tiến tới chủ nghĩa tân tự do[3]. Bàn tay nhà nước hiện rõ trong một số chương trình phát triển nông thôn của Việt Nam: các chương trình đầu tư cho hiện đại hoá kỹ thuật và công nghiệp hoá nông thôn và nỗ lực phổ cập giao thông và giáo dục. Tuy vậy, Khiên vẫn không thể cảm ơn nhà nước đã mang đến sự đổi đời của cô: cô phải bỏ học từ cấp hai, công nghiệp hoá không giúp gì cô ở quê mình và cô đã đi ra thành phố, không có sự thừa nhận chính thức của nhà nước, cô sử dụng một mạng lưới xã hội mà các quan chức nhà nước có thể coi là “mê tín dị đoan”. Quả vậy, một cách lý giải khác các vấn đề của cô có thể cho rằng việc nhà nước áp dụng một cách hình thức các biện pháp cải cách không liên quan nhiều lắm tới lĩnh vực của cô. James Scott lập luận rằng những cố gắng tập trung hoá của nhà nước nhằm áp đặt lên các vùng nông thôn những giải pháp một kích cỡ cho tất cả, dù đó là tư nhân hoá các dịch vụ xã hội hay hiện đại hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, tất yếu sẽ thất bại, vì sự đơn giản hoá tai hại mà họ áp đặt lên các quá trình phức tạp rất đa dạng[4]. Đây có thể là một giải thích cho tình trạng người dân bị đuổi ra khỏi mảnh đất của mình, tạo ra làn sóng di cư tràn vào đô thị, khiến tỷ lệ bỏ học và tìm đến các giải pháp tôn giáo ở vùng nông thôn Việt Nam tăng cao, mà câu chuyện của Khiên là một minh hoạ. Tuy nhiên, sẽ là không khôn ngoan và phi lô-gic nếu đánh giá quá cao tính hiệu quả của một nhà nước mà số mệnh đã an bài là nó sẽ thất bại bởi sự thiển cận tập trung hoá của chính nó. Các quá trình này có thể được giải thích khác như là các chiến lược có chủ ý của chính những người dân nông thôn.

Một giải thích cuối cùng về những thay đổi ở nông thôn Việt Nam là nhà nước phản ứng nhanh trước nhu cầu của người dân ở nông thôn. Benedict Kerkvliet lập luận rằng đảng từ bỏ các chính sách tập thể hoá của mình vì áp lực chính trị của những người nông dân không chịu tuân thủ các chính sách đó[5]. Các giải thích này ít nhiều có lý từ dư luận cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được thành công vì là người đại diện cho quyền lợi của nông dân trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Kerkvliet nhận xét rằng chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng quyền lợi của vùng nông thôn, chắc chắn là hơn đảng cầm quyền ở Philippines[6]. Song cái yếu của lập luận này là ở chỗ trong một loạt chính sách phát triển nông thôn của chính phủ, chính phủ cũng đáp ứng các quyền lợi khác nữa: đó là các nhà tài trợ như chính phủ Úc và chính phủ Mỹ, cũng như các tổ chức đa phương như Ngân hàng Thế giới, là các nhà tài trợ cung cấp viện trợ với điều kiện áp dụng các chính sách dựa trên kinh tế thị trường. Có nhiều dấu hiệu cho thấy rằng những quyền lợi này – và quyền lợi của tầng lớp trung lưu ở nông thôn ngày càng khẳng định được vị thế của mình – đã chiếm được tiếng nói của chính phủ, mà phương pháp tiếp cận của chính phủ này đối với vấn đề phát triển nông thôn ngày nay là hiện thân của sự pha trộn giữa cách nhìn thờ ơ đối với các quy luật phát triển phổ biến và thái độ gia trưởng đối với người dân nông thôn. Thái độ này biểu hiện đặc biệt rõ trong việc mô tả người dân nông thôn trong các báo cáo phát triển chính thức như là những người nghèo khó, lạc hậu, ở vùng hẻo lánh, biệt lập, không hiểu biết và lệ thuộc vào nhà nước để cuộc sống của họ được cải thiện. Điều này được thể hiện một cách trắng trợn nhất trong thái độ chính thức đối với các nhóm dân tộc thiểu số, kể cả người Khmer như Khiên mà những tập quán “lạc hậu”, các xu hướng tôn giáo và sự biệt lập về văn hoá của họ bị coi là trở ngại đối với hoạt động của thị trường và các chương trình của nhà nước, và tác động lợi ích của nó được mặc nhiên thừa nhận.

Do những vấn đề này – với cách giải thích đặt sự phát triển trong tay thị trường hay trong tay nhà nước và đổ tình trạng trì trệ cho sự lạc hậu của người dân nông thôn, tôi xin gợi ra một cách giải thích khác cho rất nhiều đổi thay đang diễn ra ở nông thôn Việt Nam. Tiếp sau các trường hợp lịch sử của những người Việt Nam như Khiên, tôi lập luận rằng chúng ta có thể hiểu cặn kẽ hơn các con đường thay đổi của vùng nông thôn bằng cách nhận ra những nguồn lực độc đáo mà người dân nông thôn có được và đang sử dụng: đó là các lô gich về luân lý và tôn giáo, các kho tàng của sự gắn kết và kiến thức, và các chiến lược của sự linh hoạt và chủ nghĩa cộng đồng. Mặc dù, theo cách nhìn của một nhà hoạch định kế hoạch của nhà nước, thì một số chiến lược của những người dân này có vẻ là không đúng chỗ, nhưng chúng lại có nghĩa đối với nguời dân nông thôn, và thực sự đó có thể là nguyên nhân của những thành công mà các nhà hoạch định kế hoạch nhà nước mạo nhận công một phần. Nhờ các chiến lược này, người dân nông thôn đã được hưởng một mức sống thường không được ghi nhận trong các chỉ số phát triển thông thường.

Bài viết này chia làm hai phần. Trong phần đầu, tôi đánh giá một số chương trình phát triển nông thôn đối chiếu với các mục tiêu của chúng. Các chương trình này gồm cả các chính sách thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá xuất khẩu, hiện đại hoá, công nghiệp hoá, các nỗ lực phổ cập thông tin liên lạc, giáo dục công và các chính sách “xã hội hoá”. Vì khó có thể giải thích được sự thay đổi về xã hội trong nông thôn Việt Nam chỉ bằng việc xem xét hệ quả của các chính sách này, tôi chuyển sang phần hai của bài viết, nghiên cứu các chiến lược và những con đường phát triển nông thôn mà nhà hoạch định kế hoạch nhà nước không thấy được. Đó là những tập quán tích đức, chủ nghĩa hiện đại bản địa, tính kinh tế của sự lưu chuyển, chủ nghĩa xuyên quốc gia phi tập trung hoá, chủ nghĩa thế giới nông thôn, và các hình thái ngược lại với nhà nước. Trường hợp nghiên cứu điển hình chính được lựa chọn là Đồng bằng sông Mê-kông, vùng trọng điểm của các chương trình phát triển nông thôn của nhà nước. Vùng này rất thú vị vì nhiều trong số những thành công nó đạt được, theo các tiêu chuẩn phát triển chính thức, đã diễn ra bởi các lý do không lường tới, và vì thất bại của một số chương trình phát triển chính thức cho thấy rằng còn có tác động của các yếu tố và lý lẽ khác nữa. Trên cơ sở nhiều năm quan sát dân tộc học những diễn biến xã hội ở vùng đồng bằng này, tôi nêu bật các nguồn lực và các chiến lược mà người dân nông thôn sử dụng[7]. Tôi đánh giá lại các tập quán vẫn được coi là truyền thống, bản địa, và không thích hợp cho việc xếp chúng theo quan điểm lịch sử và khu vực, như là những cách làm hiện đại, thu hút mọi người và bền vững. Tôi lập luận rằng những nét đặc trưng của sự thay đổi xã hội ở vùng đồng bằng sông Mê-kông cho thấy cần phải có những chính sách phát triển nhạy cảm đối với những sự khác biệt ở địa phương.

Các chính sách phát triển nông thôn

Những nét cơ bản của thị trường

Những cải cách thị trường trong nền nông nghiệp Việt Nam bắt đầu từ đầu những năm 1980 và được đẩy mạnh vào cuối thập kỷ đó. Những cải cách này bao gồm việc chấp nhận khoán nông phẩm tới hộ gia đình, phi tập thể hoá nông nghiệp, và cho phép nông dân mua, bán và chuyển nhượng đất đai cùng các tư liệu sản xuất khác. Những chính sách này đã giải quyết được cuộc khủng hoảng kinh tế do hệ thống tập trung bao cấp gây ra, và đáp ứng áp lực trong nước và quốc tế đòi phải thay đổi[8]. Như được báo trước trong lời tuyên bố chính sách mở cửa giữa thập niên 1980, từ đầu những năm 1990, chính phủ dứt khoát đặt Việt Nam trong hệ thống thị trường quốc tế, ký kết hàng loạt hiệp định thương mại và cắt giảm trợ cấp cũng như thuế quan đối với hàng nhập khẩu. Lý do của việc này là đầu tư và thương mại thông thoáng hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng và tăng cường thịnh vượng.[9]

Trong số những chỉ số được trích dẫn nhiều nhất về sự cải thiện ở vùng nông thôn nhờ các cải cách này là sự chuyển biến nhanh chóng của Việt Nam từ thiếu hụt lương thực và lệ thuộc vào nhập khẩu gạo trong những năm 1980 thành một nước xuất khẩu lương thực trong những năm 1990 và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Khi đánh giá các thành tựu chính của thập niên từ 1996-2006, các bộ của nhà nước nhấn mạnh việc xếp hạng cao trên thế giới của ngành xuất khẩu gạo, cà phê, cao su, hạt điều và hạt tiêu của Việt Nam là nhờ việc tăng tỷ trọng nông sản dành cho xuất khẩu[10]. Thu nhập và chi tiêu ở vùng nông thôn ngày càng tăng được xem là minh chứng của những lợi ích mà người nông dân được hưởng nhờ quá trình hội nhập với thị trường quốc tế. Từ năm 1993 đến 1998, thu nhập ở vùng nông thôn tăng 27,6%[11], và chi tiêu của hộ gia đình nông thôn tăng 30%[12]. Thành tựu thu hút được sự chú ý nhiều nhất trong mấy năm gần đây là việc giảm mạnh tình trạng nghèo khổ. So với những năm giữa thập kỷ 1980, khi mà theo một báo cáo thì 70% người dân Việt Nam sống trong đói nghèo[13], số người sống dưới mức nghèo khổ giảm từ 58,1% năm 1993 xuống 28,9% năm 2002.[14]

Mặc dù Việt Nam được khen ngợi về thành tích xoá đói giảm nghèo, hầu hết các nhà bình luận lưu ý rằng sự chênh lệch kinh tế xã hội giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng và các dân tộc thiểu số ngày càng trầm trọng.[15]Trên phạm vị cả nước, thu nhập ở nông thôn giảm so với thành thị; năm 2002 chưa bằng một nửa ở khu vực thành thị.[16] Tình trạng giảm nghèo ở vùng nông thôn diễn ra chậm hơn, nơi mà đến năm 2002 vẫn chiếm hơn 90% tổng số người sống trong nghèo khổ[17]. Cũng trong năm đó, tỷ lệ nghèo khổ trong các dân tộc thiểu số gấp hơn hai lần vùng nông thôn nói chung.[18] Kể từ khi áp dụng cơ chế thị trường, tình trạng phân hoá giàu nghèo ở vùng nông thôn ngày càng tăng vì sự khác biệt về điều kiện tiếp cận tư liệu sản xuất như đất đai, vốn, sức lao động, vốn xã hội và thông tin[19]. Sự chênh lệch này đặc biệt rõ ràng ở vùng đồng bằng sông Mê-kông, nơi mà sự bất bình đẳng trong việc sử dụng đất đai, biển, sông và các nguồn vốn đã tăng lênh mạnh mẽ khi phải tiếp cận nhiều hơn với cơ chế thị trường.[20]

Nhiều người dân nông thôn cho rằng đời sống bị giảm sút từ khi họ bị đẩy vào thị trường. Ví dụ ở vùng đồng bằng sông Mê-kông – vựa lúa lớn nhất của cả nước, chiếm khoảng 90% lượng gạo xuất khẩu toàn quốc – giá lúa gạo giảm sút cùng với giá vật tư sản xuất ngày càng cao, như phân bón, thuốc trừ sâu, công lao động thuê mướn, máy móc và chi phí vận tải làm cho việc sản xuất lúa gạo cho xuất khẩu không có lợi nhuận nữa, và đó là “con đường chắc chắn đi tới nghèo khổ”.[21] Cách mua chịu vật tư sản xuất và trả chủ nợ sau thu hoạch trở nên phổ biến ở đồng bằng sông Mê-kông. Tôi trao đổi với những người nông dân trồng lúa ở tỉnh Bạc Liêu và Trà Vinh về cách thức làm ăn này hồi đầu 2007, họ ước tính rằng 70% nông dân tham gia trồng lúa vẫn mắc nợ sau thu hoạch, và mô tả những người có thể trả xong nợ là những người “giàu”. Những người không thể trả hết nợ trong sản xuất nông nghiệp đã phải bán đất hay tìm kiếm việc đơn giản ở nơi khác. Lợi nhuận từ chăn nuôi cũng suy giảm tương tự như vậy, giá gia súc tăng bị vô hiệu hoá bởi chi phí thức ăn và thuốc thú y tăng. Gần đây, nuôi cá lồng và tôm sú được thúc đẩy như là các hoạt động xuất khẩu có lợi, nhưng việc tiếp cận ngành cần nhiều vốn này bị hạn chế và rủi ro mất vốn vì bệnh tật, thời tiết không thuận còn lớn hơn nhiều rủi ro trong trồng lúa.[22] Các báo cáo của chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế mô tả sự gia tăng gần đây trong sản xuất hàng hoá nông nghiệp là cải thiện về “an toàn lương thực.”[23] Tuy nhiên, nông dân đang phải đối đầu với tình trạng bất an toàn lương thực ngày càng nghiêm trọng, rõ ràng là hệ quả của việc lệ thuộc vào thị trường hàng hoá xuất khẩu. Sự an toàn của nông dân nghèo bị xói mòn bởi việc bán đất, trong khi người nông dân khá giả hơn phải đương đầu với rủi ro lớn hơn trong đầu tư.

Ngoài việc bị phơi ra trước thị trường toàn cầu, người dân nông thôn ở Việt Nam còn bị phơi ra bởi quá trình phát triển công nghiệp theo các tiêu chuẩn mới; các tiêu chuẩn này coi mức sống vật chất của họ thua kém dân đô thị. Những kết luận ảm đạm trong các báo cáo phát triển rằng tình trạng nghèo khổ tập trung ở vùng nông thôn và chủ yếu là trong các nhóm dân tộc thiểu số, nơi người dân nông thôn thường mô tả mức sống của mình là “nghèo”, coi nghề nông là “nghề của người nghèo”, mô tả cuộc sống nông thôn là mái rạ, da rám nắng và đi theo tín ngưỡng là dấu hiệu của tình trạng khốn cùng. Những lời đàm luận như vậy bám chặt lấy cộng đồng Khmerr ở đồng bằng sông Mê-kông, mặc dù nổi tiếng là những người trồng lúa tài ba ở khu vực, vẫn tự nhận mình là lác hậu và rất nghèo. Bức ảnh tự hoạ tiêu cực này trùng hợp với sự lan truyền ở Việt Nam các chỉ số đặt người Khmer gần với nấc cuối cùng của bậc thang phát triển và các học thuyết coi các hệ quả này là do sự “cách trở” về địa lý, văn hoá và thiên hướng tôn giáo của nhóm người này.[24] Các học giả và quan chức Việt Nam nói rằng quan điểm biệt lập và tư tưởng tin vào số mệnh mà họ gán cho người Khmer đã ngăn cản sự giao lưu, làm nhụt tính sáng tạo và cấm đoán việc tích luỹ vốn.[25] Các báo cáo phát triển giải thích rằng “những nhóm nghèo khổ” người Khmer là kết quả của việc họ không hoà nhập được vào dòng chảy chung của xã hội, không tham gia vào thị trường và không từ bỏ được những tập tục và truyền thống tôn giáo của họ.[26] Các quan chức được trích dẫn trong các báo cáo coi việc người Khmer dành thì giờ và nỗ lực vào các lễ nghi và xây dựng các nơi thờ cúng là lãng phí thì giờ, tiền bạc mà lẽ ra có thể dùng để đầu tư hiệu quả hơn.[27] Rõ ràng tập tục dai dẳng và thiên hướng tâm linh của các cộng đồng thiểu số – đã từng bị coi là trở ngại cho quá trình hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa[28] – vẫn tước đoạt của họ khả năng tiếp cận với cái được coi là tác động lợi ích của thị trường.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Thế Truyền/JVS

Bản tiếng Việt © talawas


[1] Chẳng hạn, xem David Dollar và Aart Kraay, “Spreading the Wealth,” Foreign Affairs 81, no. 1 (2002): 1–13. 

[2] Gabriel Kolko, Vietnam: Anatomy of a Peace (London: Routledge, 1997).

[3] Pietro Masina, Vietnam’s Development Strategies (New York: Routledge, 2006).

[4] James C. Scott, Seeing Like a State: How Certain Schemes to Improve the Human Condition Have Failed (New Haven, CT: Yale University Press, 1998).

[5] Benedict J. Tria Kerkvliet, The Power of Everyday Politics: How Vietnamese Peasants Transformed National Policy (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2005).

[6] Benedict J. Tria Kerkvliet, “Political Expectations and Democracy in the Philippines and Vietnam,” Philippine Political Science Journal 26, no. 49 (2005): 1–26.

[7] Công việc nghiên cứu cho bài viết này bắt đầu từ năm 1992 – 1994 trong đợt điền dã nhân học ở đồng bằng sông Mê Kông, phục vụ cho luận án tiến sĩ nhân học của tôi tại Đại học Tổng hợp quốc gia Australia. Việc nghiên cứu tiếp tục với hơn mười chuyến khảo sát thực tế ở khu vực này và chuyến cuối cùng là tháng Giêng năm 2007.

[8] Adam Fforde and Stefan de Vylder, From Plan to Market: The Economic Transition in Vietnam (Boulder, CO: Westview, 1996).

[9] World Bank, Accelerating Vietnam’s Rural Development: Growth, Equity and Diversification (Washington, DC: World Bank, 2006).

[10] Ministry of Agriculture and Rural Development, Agriculture and Rural Development Five-Year Plan (2001–2005) (Hà Nội: Ministry of Agriculture and Rural Development, 2000); Ministry of Planning and Investment (MPI), The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010 (English version) (Hà Nội: Ministry of Planning and Investment, 2006), 10.

[11]World Bank Poverty Working Group, Attacking Poverty: Vietnam Development Report 1999/2000 (Washington, DC: World Bank, 1999), 51.

[12] Do Thien Kien et al, “Inequality,” in Living Standards During an Economic Boom: The Case of Vietnam, eds. Dominique Haughton, Jonathon Haughton, and Nguyen Phong (Hà Nội: UNDP and Statistical Publishing House, 2001), 41.

[13] World Bank, Attacking Poverty

[14] Patricia Justino, “Beyond HEPR: A Framework for an Integrated National System of Social Security in Viet Nam,” UNDP Việt Nam Policy Dialogue Paper 2005/1 (Hà Nội: United Nations Development Program, 2005), 3. Mức nghèo khổ nói tới ở đây được tính là chi phí cần thiết để mua 2.100 ca-lo cho mỗi người mỗi ngày và một số thứ không phải là lương thực khác.

[15] Chẳng hạn, xem Dominique Haughton, Jonathon Haughton, và Nguyen Phong, eds., Living Standards During an Economic Boom: The Case of Vietnam (Hà Nội: UNDP and Statistical Publishing House, 2001); Philip Taylor, ed. Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2004).

[16] General Statistical Office (GSO), Result of the Survey on Household Living Standards (Hà Nội: Statistical Publishing House, 2004), 77.

[17] Shenggen Fan, Pham Lan Huong, and Trinh Quang Long, Government Spending and Poverty Reduction in Vietnam (Washington, DC: International Food Policy Research Institute and Hà Nội: Central Institute for Economic Management, 2004), 6.

[18] Justino, “Beyond HEPR,” 3.

[19] Neil Adger, “Exploring Income Inequality in Rural Coastal Vietnam,” Journal of Development Studies 35, no. 5 (1999): 96–119; A. Haroon Akram-Lodhi, “Are ‘Landlords Taking Back the Land?’ An Essay on the Agrarian Transition in Vietnam,” The European Journal of Development Research 16, no. 4 (2004): 757–789; Tran Thi Thu Trang, “From Collectivization to Globalization: Social Differentiation in a Muong Ethnic Community of Vietnam,” in Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform, ed. Philip Taylor (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2004), 123–165; Thomas Sikor and Pham Thi Tuong Vi, “The Dynamics of Commoditization in a Vietnamese Uplands Village, 1980–2000,” Journal of Agrarian Change 5, no. 3 (2005): 405–428.

[20] Hy Van Luong, “Wealth, Power and Inequality: Global Market, the State, and Local Socio-cultural Dynamics,” in Postwar Vietnam: Dynamics of a Transforming Society, ed. Hy Van Luong (Oxford: Rowman and Littlefield, 2003), 98–99; Philip Taylor, “Redressing Disadvantage or Re-Arranging Inequality? Development Interventions and Local Responses in the Mekong Delta,” in Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform, ed. Philip Taylor (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2004), 247–252.

[21] Taylor, “Redressing Disadvantage,” 347–348.

[22] Louis Lebel et al., “Industrial Transformation and Shrimp Aquaculture in Thailand and Vietnam: Pathways to Ecological, Social and Economic Sustainability?” Ambio 31, no. 4 (2002): 311–323; Philip Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta: Place and Mobility in the Cosmopolitan Periphery (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 2007), 159, 198–199.

[23] Ministry of Agriculture and Rural Development, Agriculture and Rural Development Five-Year Plan (2001–2005); World Bank, Accelerating Vietnam’s Rural Development, 2.

[24] Năm 1998, theo tính toán dựa trên cuộc Khảo sát mức sống của hộ gia đình năm 1998, 57% hộ gia đình Khmer sống dưới mức nghèo khổ, gần gấp đôi tỷ lệ người Kinh (30%) và hơn tỷ lệ người Hoa 7 lần (8%). Bob Baulch et al., “Ethnic Minority Development in Vietnam: A Socio-economic Perspective” (Working Paper 2836, Washington, DC: World Bank, 2002), 4.

[25] Nguyễn Xuân Nghĩa, “Đạo Phật tiểu thừa Khơme ở vùng nông thôn ở đồng bằng sông Cửu long: Chức năng xã hội truyền thống và động thái xã hội,” Nghiên Cứu Tôn Giáo 5, no. 23 (2003): 25–37; Phan Xuân Biên, “Vấn đề dân trí và phát triển văn hóa ở vùng người Khơ-me Nam Bộ trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,” Dân Tộc Học 5, no. 131 (2004): 3–6.

[26] Mekong Delta Poverty Analysis Project (MDPA), Mekong Delta Poverty Analysis First Milestone Report, Stage One (26 May 2003) (HCMC: Mekong Delta Poverty Analysis Project, 2003), 29–33.

[27] MDPA, Mekong Delta Poverty Analysis First Milestone Report, 20, 23.

[28] Pam McElwee, “Becoming Socialist or Becoming Kinh? Government Policies for Ethnic Minorities in the Socialist Republic of Vietnam,” in Civilizing the Margins: Southeast Asian Government Policies for the Development of Ethnic Minorities, ed. Christopher R. Duncan (Ithaca, NY: Cornell University Press, 2004), 182–213.

Phản hồi

1 phản hồi (bài “Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 1)”)

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả