talawas blog

Chuyên mục:

Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 4)

01/07/2010 | 12:00 chiều | Comments Off on Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 4)

Tác giả: Philip Taylor

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

(Xem kỳ 1, kỳ 2, & kỳ 3)

Đặng Thế Truyền dịch

Các con đường khác để phát triển nông thôn

Trong phần còn lại của bài viết này, tôi đưa ra một cách nhìn khác về những thay đổi đang diễn ra ở nông thôn Việt Nam. Chuyển trọng tâm từ thị trường hay nhà nước với tư cách là điểm của phát triển, nhưng vẫn giữ đồng bằng sông Mê-Kông làm ví dụ chính, tôi mô tả những nguồn lực mà người dân nông thôn có được và các chiến lược để họ tìm cách cải thiện cuộc sống của mình. Mặc dù những nguồn lực và chiến lược này ít được các tài liệu nghiên cứu chính thức để ý đến, trừ khi chúng được phân tích là dấu hiệu của sự tước đoạt hay trở ngại đối với phát triển, chúng được người dân nông thôn sử dụng để đạt chất lượng cuộc sống nhất định cho bản thân họ. Trái ngược với việc mô tả cuộc sống nông thôn là biệt lập, lạc hậu và dị thường, tôi nhận thấy trong các cung cách nông thôn này một lối sống hết lòng, hiện đại và bền vững.

Tích luỹ đạo đức

Bất chấp những lời tuyên bố của các nhà kinh tế rằng hội nhập thị trường sẽ mang lại tăng trưởng cho tất cả mọi người, chúng tôi thấy rằng các chính sách hội nhập thị trường của Việt Nam đang làm hại người dân nông thôn xét theo cách đánh giá ưa thích của thuyết này là tích luỹ vật chất. Các vùng nông thôn đang tụt hậu so với đô thị, và quá trình thị trường hoá đang làm hao mòn vốn liếng và suy giảm sự an toàn về vật chất. Đôi khi những lời đổ tội về hậu quả này chĩa ngược lại vào người dân nông thôn đã quá gắn bó với các đạo lý truyền thống, cản trở họ tham gia vào thị trường. Điều này có thể hàm ý rằng ở nông thôn Việt Nam thị trường đã phải khuất phục sự ngoan cố của đạo lý truyền thống và tính biệt lập và lạc hậu của phong cách nông thôn. Nếu đúng như vậy, thì nó rất đối lập với những điều mà chúng ta được nghe về các tác động mang tính biến đổi của chủ nghĩa tư bản đối với các quan hệ xã hội và văn hoá: Lời quả quyết của Mác rằng “Tất cả những gì vững chắc đều tan vào không khí”, kiến thức sâu sắc của Durkheim về sự mất đi của gắn kết xã hội, và lời báo trước lạnh lùng của Webster về “chiếc lồng sắt đang chụp xuống” của duy lý.

Tuy nhiên, việc mổ xẻ lô gic về tinh thần có vẻ dai dẳng của nông thôn Việt Nam trong ánh sáng của sự thất vọng mà nó khơi dậy, tại phần nổi của sự phát triển, giữa những nhà lập kế hoạch với đầu óc vật chất, có thể có ích ít nhiều. James Scott đưa ra khái niệm nền kinh tế tinh thần để giải thích người nông dân hành động một cách tập thể và bảo thủ thế nào để bảo vệ một đạo lý tồn tại lâu đời trước sự tước đoạt kế sinh nhai của họ bởi nền kinh tế thị trường thực dân.[1] Phương pháp tiếp cận này tách biệt một cách hữu ích đạo nghĩa của người nông dân chống lại sự hợp lý khách quan của các công chức và giải thích sự tồn tại của người nông dân bằng sự phản kháng. Khái niệm này về nền kinh tế tinh thần bị phê phán là không thừa nhận các chiến lược có tính toán của người dân nông thôn hay những thay đổi về đạo đức ở những vùng chịu tác động của một thời gian dài tiếp cận với thị trường.[2] Người ta có thể lập luận rằng mô hình này không tính tới sự tham gia tốn kém và thường thành công với kinh tế thị trường mà chúng ta chứng kiến ở nông thôn Việt Nam, ngược lại gợi ra sự không tương thích giữa đạo đức tư bản và đạo đức nông nghiệp. Tuy nhiên, nếu chúng ta sửa đổi khái niệm của Scott về nền kinh tế tinh thần để bao hàm cả hành động có tính toán của dân nông thôn trong bối cảnh lịch sử của kinh tế thị trường, chúng ta có thể giữ lại được ít nhiều giá trị của nó để giải thích cho các lô gic tinh thần nổi bật mà chúng ta thấy ở vùng nông thôn Việt Nam. Trong khi đồng ý với các quan chức chính phủ tỉnh Vĩnh Long, mà trong một báo cáo về tình trạng nghèo khổ ở đồng bằng sông Mê Kông, họ cho rằng xu hướng này là của người Khmer,[3] tôi có thể đưa ra một mô hình khác về nền kinh tế nông thôn, đó là một dự án “tích  luỹ đạo đức”.

Chúng ta hãy bắt đầu minh họa luận điểm này với nguồn lực được xem là không thể thiếu của các lái thương Tèo Châu ở tỉnh Bạc Liêu thuộc đồng bằng sông Mê Kông: đó là uy tín. Người Tèo Châu vận hành các cửa hàng tạp hoá ở khắp vùng nông thôn thuộc tỉnh này và các tỉnh khác thuộc phía tây vùng đồng bằng. Các lái thương Tèo Châu nhận mình là hội nhập với vùng nông thôn nhiều hơn là những người gốc Quảng Đông, mà theo họ thường tập trung ở Chợ Lớn: “Ở mỗi làng trong vùng nông thôn này, người ta thấy người Tèo Châu có ít nhất một cửa hàng tạp hoá”. Họ cũng nói tiếng địa phương – tiếng Khmer và tiếng Việt – và lấy vợ lấy chồng ở địa phương. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, người Tèo Châu di cư từ Triều Châu, Trung Quốc đến phía tây châu thổ, sang Căm-pu-chia và Thái Lan. Lúc đầu, họ làm phu khuân vác, lao động chân tay, lái xe, thợ cắt tóc, đánh cá: “Bất kỳ việc gì có nhu cầu, là chúng tôi làm”. Những con người khiêm nhường ban đầu này là những điển hình nổi bật về sự biến đổi từ tầng lớp vô sản thành thị thành tầng lớp trung lưu nông thôn tương đối khá giả: “Tất cả những gì chúng tôi có ngày nay là nhờ vào đôi bàn tay mình. Mỗi sản phẩm chúng tôi bán, chúng tôi chỉ thu một khoản lợi nhuận nhỏ bé – để làm cho mọi người có thể mua được – nhưng chúng tôi trở nên giàu có nhờ bán được khối lượng lớn”. Những câu chuyện từ nghèo khó trở nên giàu có hàm ý rằng không có gì là bí ẩn hay đặc biệt về thành công của họ. Tất cả là nhờ uy tín: “Trong kinh doanh, sự tin cậy của khách hàng là tài sản duy nhất. Chúng tôi không nói dối, không bán hàng giả hay cân điêu hoặc điều chỉnh giá theo mẽ bề ngoài của khách hàng. Chúng tôi không tự cho rằng hàng hoá của mình quá tốt không thể bán cho những người trông vẻ nghèo khó rách rưới, hầu hết khách hàng của chúng tôi trông như vậy và đó là lý do tại sao mọi người vẫn quay lại mua của chúng tôi.” Sự lâu bền của hoạt động kinh doanh của họ là nhờ họ sẵn lòng cho nông dân mua chịu lâu hơn, vì giữa hai vụ thu hoạch, nông dân thường không có tiền mặt; họ có lòng tin khi làm như vậy vì họ dựa vào sự hiểu biết của mình về hoàn cảnh của từng khách hàng, mà bản thân cách ứng xử này là hoạt động của lái thương Tèo Châu hội nhập vào các mạng lưới nông thôn. Bản thân chữ tín nói lên tất cả khi họ mua chịu lượng hàng hoá lớn từ những nhà bán xỉ ở thành phố. Những lái thương Tèo Châu nông thôn là những người trung gian tối cần thiết trong dòng chảy tín dụng khắp cả vùng, trở thành một “mạng lưới chằng chịt”[4] từ thị trường bán xỉ ở Chợ Lớn tới các ngôi nhà nhỏ nhất, xa xôi nhất ở vùng đồng bằng. Hàng hoá tiêu dùng gia đình được mua chịu từ những nhà bán xỉ trên thành phố, bán chịu cho nông dân, và được thanh toán vào lúc thu hoạch, có khi mấy tháng sau, khi mà đơn đặt hàng tiếp theo được chuyển tới các nhà bán xỉ. Mạng lưới tín dụng rộng lớn này, vẫn hoạt động mạnh mẽ sau hơn năm mươi năm kể từ khi nó hình thành, chủ yếu dựa vào chữ tín, một giá trị tinh thần mà các lái thương nông thôn Tèo Châu vẫn tiếp tục làm việc chăm chỉ để có thể có được chữ tín từ cả người mua và người bán.

Như đã nói ở trên, khái niệm về “tích luỹ đạo đức” được phát động bởi các quan chức tỉnh trong một nghiên cứu gần đây về tình trạng đói nghèo để giải thích tại sao người Khmer vẫn là người nghèo nhất ở đồng bằng sông Mê Kông. Lập luận là, vì ít quan tâm tới làm giàu kinh tế hơn là sự thành đạt về tinh thần, người Khmer dành hết sức lực và tài sản nhỏ bé của mình để làm việc tốt và tu bổ chùa chiền.[5] Sự giải thích này ngược lại với cách giải thích mà các quan chức khác đưa ra trong cùng một báo cáo – những người này lý giải sự nghèo khó của người Khmer là do lười biếng, không hợp lý, không nhìn xa trông rộng và không biết tính toán. Đúng vậy, người Khmer không thể bị khinh miệt vì họ nghèo khó, bởi họ rất giàu đạo lý, ở khía cạnh này, có thể thấy hành động của họ là có tính toán và vì vậy đương nhiên là hợp lý. Lập luận tương đối này có được với cái giá là xếp người Khmer ngang hàng với một vũ trụ xa xôi, theo các lô gic cơ bản là xa lạ, và rõ ràng được nuôi dưỡng bằng các nguồn sống tinh thần. Tuy nhiên, các phạm trù tích luỹ này không thể tách biệt nhau. Ở vùng trồng lúa hiếm tiền mặt mà nhiều người Khmer đang sinh sống, một thanh niên Khmer có thể trở thành sư và được cung cấp thức ăn, nơi ở, được học hành nhiều năm nhờ vào các món quà không phải bằng tiền của tín đồ trong cộng đồng. Làm vui lòng cha mẹ bằng sự hy sinh bản thân mình qua việc thụ giới vào nhà chùa, người thanh niên Khmer được công nhận là đã trưởng thành, có giáo dục, biết tự kiềm chế và nâng cao triển vọng của mình cho cuộc sống hôn nhân cũng như vị thế của anh ta trong cộng đồng. Trong cuộc sống sau này, anh ta có thể tự nguyện trở thành một A-cha, hay thầy giáo ở trường làng. Những phụ nữ nội trợ cúng tiến quà cho các nhà sư có thể giải xui trong công việc làm ăn, được vị nể trong bạn bè cùng lứa, và khi có tuổi được giúp đỡ và được gia nhập phường hội trong cộng đồng tôn giáo.

Những tập quán này đặt ra một chuẩn mực đạo đức nghiêm khắc cho người Khmer; sự thừa nhận đối với họ chỉ có được thông qua làm việc tốt và đóng góp cho cộng đồng. Điều quan trọng đây không phải là một hệ thống đạo đức khép kín. Các lái thương Tèo Châu và Chàm sẵn sàng bán chịu cho nông dân Khmer, giải thích rằng khác với những người khác, người Khmer rất cẩn trọng về đạo đức, luôn luôn có thể tin rằng họ sẽ trả nợ. Người Tèo Châu và người Việt sống gần các cộng đồng Khmer nói rằng người Khmer – cả nam và nữ – là những người chồng, người vợ chung thuỷ, là người làm biết tự kiềm chế và chăm chỉ. Tiếng tốt này lan toả khắp thành phố Hồ Chí Minh, nơi mà gần đây người Khmer tới làm người giúp việc trong nhà [ô-sin] vì người ta nói rằng có thể tin những người này sẽ không ăn cắp tiền hay tư trang khi ở một mình trong nhà người lạ. Những ví dụ này nói rằng tiếng tốt về đạo đức mà người Khmer tích luỹ được là một nguồn lực giá trị cả trong cộng đồng của họ cũng như ngày càng lan toả ra ngoài.

Phụ nữ vùng đồng bằng sông Mê Kông thích kết hôn với những người đàn ông có thể kiếm sống ở ngoài địa phương của họ, mà ví dụ tai tiếng nhất hiện nay là lấy người Đài Loan. Người dân nông thôn trong vùng hiểu được các mối quan hệ không bình đẳng và hoàn cảnh bắt buộc hình thành nên các con đường hôn nhân này. Một số nhà phân tích lý giải những mối liên kết này với người ngoài qua một thấu kính kinh tế chính trị, là cách để thoát nghèo hay các cuộc hôn nhân xuyên biên giới được thương mại hoá.[6] Người dân địa phương cũng cho rằng sự liên kết này thường xuất phát từ mong muốn của người phụ nữ về một cuộc sống vật chất khá giả hơn hay một lối sống đô thị và ngoại quốc giàu có mà họ thấy trên các phương tiện truyền thông. Nhiều trí thức đô thị của Việt Nam nhìn nhận mốt lấy chồng Đài Loan hiện nay với sự quan ngại và coi đó là triệu chứng của căn bệnh nghèo khổ của vùng nông thôn hay sự suy đồi luân lý truyền thống. Đồng thời, từ đầu những năm 1990, khi tôi bắt đầu nghiên cứu khu vực này, có quan điểm mô tả người phụ nữ nông thôn hoàn toàn ngược lại, tôn vinh họ là những đối tác hôn nhân lý tưởng, bởi vì họ được coi là tiêu biểu của đức hạnh truyền thống. Cảm giác rằng phụ nữ nghèo nông thôn trong vùng có đức hạnh cao đã làm bùng nổ nhu cầu lấy vợ nông thôn của những người di cư đến thành phố, của Việt kiều, và nam giới ở các nước lân cận như Đài Loan, Hàn Quốc và  Singapore. Quan điểm này gợi ra rằng đồng bằng sông Mê Kông đã hội nhập với bậc thang văn hoá xuyên quốc gia và tôn thờ những người phụ nữ nông thôn của mình là hiện thân của đức hạnh Khổng giáo. Quan điểm này cũng cộng sinh với sự mô tả tân truyền thống về nữ tính được nhà nước thúc đẩy trong mô hình “kinh tế hộ gia đình” tân tự do.[7]

Tất cả những điều này có thể cho thấy người phụ nữ nông thôn không có mấy lựa chọn vì cuộc đời họ bị đóng khung trong các cấu trúc chính trị, kinh tế và văn hoá đầy uy lực. Tuy nhiên, từ góc độ nông thôn, có thể coi những liên kết này là phù hợp với chiến lược tích luỹ tinh thần và phát huy đức hạnh của phụ nữ. Như Helle Rydstrom đã gợi ra cho vùng đồng bằng bắc bộ,[8] quá trình xã hội hoá của người phụ nữ nông thôn ở đồng bằng sông Mê Kông bao gồm cả sự hiện thân của đức hạnh. Người phụ nữ được nuôi dưỡng với đức tính hy sinh để chăm sóc cha mẹ, con cái và quán xuyến các nhu cầu của gia đình theo quan niệm hiếu thảo và trách nhiệm của người chị. Con gái được xã hội hoá để chăm lo cho những người thân thiết khác ngoài phạm vi gia đình ruột thịt như chồng con, và nói rộng hơn, trong phạm vi ngành dịch vụ của địa phương với đa số nhân viên là nữ giới.[9]

Mặc dù chiến lược đầy tính hy sinh này có thể bị xem là tiêu cực đối với các chuẩn mực gia trưởng nặng nề,[10] nhưng đúng là người phụ nữ đã giành được sự kính trọng, an toàn và ảnh hưởng trong xã hội nông thôn qua việc hoàn thành những nhiệm vụ gia đình ấy. Tôi khác với Rydstrom trong việc gợi ra rằng các chiến lược này cũng đáp ứng lại sự đánh giá văn hoá từ bên ngoài về người phụ nữ nông thôn là mẫu mực về phẩm hạnh. Quả vậy, đây là các chiến lược được sử dụng có chủ ý, vì trong những phẩm hạnh cô dâu nông thôn được giới thiệu nhiều nhất cho chú rể tương lai là đức hạnh chung thuỷ và có trách nhiệm với gia đình. Khi gắn bó với người đàn ông ngoài địa phương của mình, người phụ nữ được tiếng là có đức hạnh. Sau đó, nhiều phụ nữ vẫn tiếp tục giúp đỡ gia đình ruột thịt của mình với ý thức trách nhiệm và thông cảm bằng cách gửi tiền về cho gia đình.[11] Nói cách khác, sự khấm khá của nhiều gia đình trong vùng nhờ tiền con gái lấy chồng xa gửi về hoàn toàn phù hợp với lô-gic của việc tích luỹ đạo đức của người phụ nữ.

Trái ngược với sự mô tả của các nhà kinh tế về nền kinh tế nông thôn là một dự án tích luỹ vật chất, những ví dụ này cho thấy người dân nông thôn đang tích đức: dù đó là chữ tín, điều tốt, hay đức hạnh. Tôi xin gợi ra rằng những lô-gic đạo lý này không phải là biệt lập, và cũng không phải là thờ ơ. Uy tín đạo đức mà người dân nông thôn tích gây dựng được được quý trọng ở địa phương và được thừa nhận ở ngoài các địa phương đó. Hơn nữa, tôi cho rằng đây không phải là tàn dư của các truyền thống, hay là sự chuyển đổi nhất thời từ địa vị luân lý thành hàng hoá, mà đó là chìa khoá của sự vận hành kinh tế ở vùng này. Cùng với cách nhìn này, chúng ta có thể thấy đạo đức là cái gì đó được tích luỹ bởi các tác nhân mà tới nay vẫn rất tính toán vì sự thành đạt về đạo đức của họ là thước đo chân thực vị trí xã hội của họ. Thúc đẩy lợi ích của mình vì yêu cầu đạo đức, thì thành công của họ làm cho yêu cầu này có thêm sức mạnh và hợp lý hơn. Và mặc dù lô-gic này không phải là vật chất, nó vẫn có thể mang lại lợi ích vật chất. Vì thế, các chiến lược này vẫn đứng vững được. Nó bao gồm phương tiện để các gia đình và cộng đồng tiếp cận được các nguồn lực vật chất, đồng thời cải thiện tình trạng an toàn xã hội và uy tín của mình.

Tiến trình hiện đại hoá bản địa

Trong số những thành đạt quan trọng nhất của người dân nông thôn đồng bằng sông Mê Kông có sự thích nghi khéo léo của họ với môi trường sông nước đặc thù của mình. Nhà cửa được làm trên mức nước cao nhất trên các cọc gỗ tràm có sẵn ở địa phương. Cây dừa nước được dùng để kè bờ sông và lá dùng để lợp mái và làm tường nhà. Người dân ở đây chuộng xuồng hơn xe máy và xe đạp. Chợ nổi, các dịch vụ và hoạt động kinh tế khác nhau được thực hiện trên mặt nước. Người dân sống theo mùa. Mùa lũ, người dân ở phía tây vùng đồng bằng chuyển từ nông nghiệp sang đánh bắt cá, khi đó rất dồi dào. Loài cá linh di cư được dùng làm nước mắm và làm thức ăn cho cá tra nuôi lồng. Lưới được rải dọc bờ sông và vắt ngang các cửa sông để bắt cá hàng ngày theo thuỷ triều. Vào mùa cạn, người dân bắt ốc, cua, ếch, các loại cây mọc dưới nước và bắt chuột, lươn, chim trời. Vào mùa mưa theo gió mùa, dân vùng ven biển trồng lúa. Vào mùa khô, khi nước mặn tràn vào đồng, họ chuyển sang đánh cá, làm muối, nuôi tôm, bắt sò và làm các công việc phi nông nghiệp khác.

Vì sự lệ thuộc của mình vào nước, người dân ở đồng bằng sông Mê Kông thường được xem là gần gũi với thiên nhiên, và điều chỉnh theo các chu kỳ của thiên nhiên. Điều này cũng thường được dùng để giải thích cho thiên hướng tôn giáo của họ, như là một phương cách để cầu an với thiên nhiên uy nghiêm ở một vùng biệt lập và lạc hậu về kỹ thuật. Các lễ hội tôn giáo lớn nhất ở vùng này, Hội Bà Chúa Xứ và các lễ hội Khmer Chol Chnam Thmei và Ok Om Bok được tiến hành theo mùa vụ, diễn ra vào đầu mùa mưa và cuối mùa lụt, là lúc khởi đầu và kết thúc mùa gieo trồng truyền thống. Các lễ hội này được mô tả trong văn học dân tộc Việt Nam là lễ tạ tội với thần linh và các lễ tạ ơn trong nông nghiệp.[12] Tuy nhiên,  một số thần không dễ làm nguôi lòng. Thần nước Bà Thuỷ chỉ huy toàn bộ sông ngòi trong vùng và người ta nói bà còn cao chức hơn cả Long Vương, người trị vì phần còn lại của đất nước. Bà là người bí hiểm, tính đồng bóng và tàn ác. Mọi người cúng tế bà, nhưng không dám nói đến tên bà. Người ta thì thào rằng những người chết đuối trong các trận lụt đầu thế kỷ này là đi gặp Bà Thuỷ.

Một cách giải thích sự tồn tại dai dẳng của tôn giáo ở Việt Nam trong thời đại hiện đại này là người dân nước này đã bị mất phương hướng trong quá trình chuyển đổi sang một thế giới xa lạ được đại diện bởi kinh tế thị trường.[13] Cũng vì điều được gọi là thiếu quan điểm khoa học hiện đại, nhiều người dân ở nông thôn Việt Nam tìm đến thần thánh để được giúp đỡ vượt qua bệnh tật, thời tiết không thuận, giá cả biến động mà các nhà hoạch định kế hoạch của chính phủ đã thừa nhận là làm phức tạp thêm sự không chắc chắn của tăng trưởng dựa trên thị trường.[14] Các nghiên cứu về nhân chủng học và lịch sử về đồng bằng sông Mê Kông đưa ra trường hợp rất thuyết phục rằng sức mạnh và sức sống đặc biệt của  mạng lưới tôn giáo ở vùng đồng bằng này gắn chặt với sự tiếp xúc dữ dội với các tác động của thị trường toàn cầu.[15] Phải chăng đồng bằng sông Mê Kông tiêu biểu cho một trường hợp hội nhập với thị trường mà không có hiện đại hoá? Liệu chúng ta có thể dự báo sự giảm sút của tình trạng dựa vào tinh thần ở đây với các nỗ lực của nhà nước nhằm hiện đại hoá cả khu vực này bằng các chương trình mục tiêu nâng trình độ công nghệ và khoa học lên ngang tầm với cả nước được không?

Trường hợp của tỉnh An Giang, nơi mà sự hội nhập mãnh liệt vào thị trường song hành với cuộc sống tôn giáo cực kỳ sôi động, có vẻ như hỗ trợ cho cách suy nghĩ này. An Giang bị ngăn cách khỏi cả nước bởi một nhánh sông Mê Kông. Phần lớn tỉnh này hàng năm ngập nước vài ba tháng. Khi nước rút thường để lại những vũng bùn có độ a-xít cao. Đường xá bị lũ cuốn trôi, khu dân cư bị ngập trong xình lầy, trẻ em bị chết đuối. Nước sạch sinh hoạt và phương tiện lọc nước thiếu. Dưới hạ lưu dọc theo sông Mê Kông, những đợt nước mặn xâm nhập hàng năm vào mùa khô tác hại tới năng suất lúa và không thể trồng cây ăn trái. Để giải quyết các vấn đề này, mặt đất sông Mê Kông đang được cải tạo trên quy mô lớn. Đang có những cố gắng tẩy nước a-xít khỏi các vùng đầm lầy, kiểm soát lũ lụt và ngăn chặn sự xâm nhập của nước mặn bằng những con đê và hệ thống cửa cống, xây dựng cầu đường, tôn cao nền, ngăn lũ và củng cố các khu dân cư.[16] Tuy nhiên nhiều vùng ở đồng bằng sông Mê Kông vẫn chưa thấy được lợi ích của các nỗ lực hiện đại hoá tốn kém này. Cũng như các vùng cao nguyên và nông thôn khác, nơi mà thiên tai, tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao, bệnh tật thường xuyên xảy ra, An Giang có vẻ đang bị làm suy yếu vì thiếu sự phát triển công nghệ. Những khó khăn gặp phải ở vùng này có vẻ là vì có quá nhiều nước.

Tuy nhiên, nước lại là lợi thế chủ yếu của vùng này. An Giang là trung tâm của ngành nuôi cá tra xuất khẩu cần nhiều vốn và nghề đánh bắt cá nước ngọt phổ biến rộng lớn. Nền kinh tế thương mại xuyên biên giới năng động của tỉnh này dùng sông Mê Kông làm huyết mạch. Tỉnh có đội tàu thuyền đông đảo và đa dạng, và giao thông đường thuỷ đang phát triển từng ngày. Là tỉnh bị bao bọc bởi sông nước nhiều nhất Việt Nam, Cà Mau là nơi sản xuất và chế biến hải sản lớn nhất cả nước. Rạch Giá, tỉnh lỵ với chương trình đô thị hoá năng nổ và tham vọng nhất vùng đồng bằng, lại là nơi địa đầu xa xôi và bí hiểm nhất. Nước là lời lý giải cho sự bí hiểm này. Khu vực thành phố được mở rộng bằng lấn biển, bằng bùn nạo vét từ các kênh rạch. Có rất nhiều người muốn mua nhà ở các khu mới này với giá lên tới hai trăm ngàn đô la Mỹ một căn. Phần lớn số tiền mua nhà ở đây là từ ngành đánh cá biển ở Rạch Giá, khai thác các vùng biển trong Vịnh Thái lan. Mấy năm qua các đội tàu đánh cá phát triển nhanh chóng, chủ yếu nhờ nguồn tiền do người Việt sống ở nước ngoài gửi về. Rạch Giá có rất nhiều mối liên kết với cộng đồng người Việt ở nước ngoài vì gần biển.

Nếu coi nguồn nước dồi dào của vùng đồng bằng là “tự nhiên” tức là không thấy thực tế rằng vùng đồng bằng này là một trong các vùng nông thôn thay đổi nhiều nhất về công nghệ của Việt Nam. Phần lớn các tuyến đường thuỷ ở đây được nạo vét và mở rộng trong hơn một thế kỷ.[17] Hệ thống kênh mương tưới tiêu được mở rộng rất nhiều phục vụ nông nghiệp. Các rừng đước vùng ven biển bị quét sạch, các vỉa bùn bị nạo vét để làm sân muối và các ao nuôi tôm, các đầm lầy bị tát cạn để không ngừng mở rộng đồng lúa. Một lượng phù sa khổng lồ bị xúc khỏi lòng sông rạch để đắp khác khu dân cư, đường xá và khu vực trồng cấy. Ao hồ được đào để nuôi cá, giếng được khơi lấy nước. Các dòng chảy bị khống chế bởi hệ thống của cống và đê, và các dòng chảy mới được tạo ra bởi bơm máy. Những thay đổi này làm tăng số dân vùng đồng bằng và tạo nên năng xuất to lớn ở đây. Theo ý kiến của nhiều người dân vùng này, thì đây cũng chính là nguyên nhân chủ yếu của nhiều vấn đề.

Các hoạt động tôn giáo rất phổ biến ở vùng đồng bằng cũng phản ánh tính phực tạp về kinh tế và xã hội của nó. Hội Bà Chúa Xứ thu hút không chỉ nông dân mà cả các thương nhân mua bán sản phẩm của họ, cũng như những người bán lẻ, các nhà bán xỉ, và công nhân vận tải và dịch vụ. Những chủ nợ cầu Bà phù hộ họ thu được nợ, và con nợ thì cầu Bà độ trì để có thể trả nợ đúng hạn.[18] Những người đầu tư nuôi tôm thì cầu Bà Thuỷ phù hộ để những con tôm xuất khẩu quí giá của họ không chết vì dịch bệnh. Những người đầu cơ đất xin bùa của các thấy cúng Khmer để có được giá đất tốt và trừ tà khỏi các mảnh đất đó, hồn ma của những người thân của chủ đất cũ mà người mua đất không nợ nần gì. Những người đi xe máy xin bùa của các thầy phù thuỷ Khmer để xua đuổi hồn ma của các nạn nhân tai nạn giao thông mà người ta tin là nguyên nhân gây ra hầu hết các vụ tai nạn chết người.[19] Không phải là phản ánh lối suy nghĩ hiện đại, chỗ dựa tôn giáo của người dân vùng đồng bằng lại được sử dụng để giải quyết nhiều vấn đề do hiện đại hoá gây ra.

Hầu hết người dân địa phương trông mong vào sự phát triển công nghệ cho địa phương họ, chia sẻ quan điểm của chính phủ về tương lai, nhưng đồng thời phản ánh những ưu tiên của địa phương phát sinh trong lịch sử. Các dòng sông mà hầu hết người dân ở đây sống dọc hai bên bờ cũng là các tuyến đương giao thông, thương mại và giao lưu. Mặc dù phía sau mỗi ngôi nhà đều là ruộng lúa, vườn cây hay ao cá, nhưng phía trước nhà nối với một con đường thuỷ. Tôn giáo ở vùng đồng bằng sông Mê Kông, đạo Cao Đài hổ lốn là một ví dụ nổi bật, phản ánh mối bận tâm ở địa phương vì vay nợ, sự xáo trộn, và mối quan hệ phù hợp với các sống cởi mở này. Ngày nay ở vùng đồng bằng sông Mê Kông, tràn ngập sự phấn khỏi với việc xây dựng thêm đường xá và cầu cống. Người dân sẵn sàng từ bỏ các kênh rạch để đến sống dọc hai bên lộ. Một cây cầu mới xây nhanh chóng trở thành nơi tụ họp của người dân địa phương và địa danh hành hương cho những người từ nơi xa đến. Mặc dù được mô tả là một hình thức hiện đại hoá, khát vọng của người dân địa phương đối với các con đường chỉ là biểu hiện gần đây nhất của sự nhấn mạnh lâu dài ở địa phương đối với giao thông.[20]

Sự thích nghi về môi sinh của các vùng nông thôn Việt Nam mỗi vùng rất khác nhau. Một điều mà người ta có thể thấy từ trường hợp của đồng bằng sông Mê Kông là nếu coi sự khác biệt về môi sinh là sự kém phát triển hay lạc hậu là sai lầm. Xây dựng hạ tầng cơ sở trên mặt đất không nhất thiết đồng nghĩa với hiện đại hoá và mở cửa, cũng như các thiên hướng tôn giáo không có nghĩa là lạc hậu và biệt lập. Vì vậy, một cách để cải thiện địa vị thị trường của người nông thôn là hiểu và thúc đẩy sự thích nghi về sinh thái và kinh tế chứ không phải là tìm cách cải tạo chúng theo một cách nhìn đơn nhất về hiện đại hoá.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Thế Truyền/JVS

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] James C. Scott, The Moral Economy of the Peasant (New Haven, CT: Yale University Press, 1976).

[2] Samuel L. Popkin, The Rational Peasant: The Political Economy of Rural Society in Vietnam (Berkeley and Los Angeles: University of California Press, 1979); Hy Van Luong, Revolution in the Village: Tradition and Transformation in North Vietnam, 1925–1988 (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 1992).

[3] MDPA, Mekong Delta Poverty Analysis First Milestone Report, 23.

[4] Victor Purcell, The Chinese in Southeast Asia (London: Oxford University Press, 1951), 240.

[5] MDPA, Mekong Delta Poverty Analysis First Milestone Report, 23.

[6] Hong-zen Wang and Shu-ming Chang, “The Commodification of International Marriages: Cross-border Marriage Business Between Taiwan and Viet Nam,” International Migration 40, no. 6 (2002): 93–116.

[7] Werner, “Gender, Household and State”; Nguyen-Vo Thu-Huong, “Governing Sex: Medicine and Governmental Intervention in Prostitution,” in Gender, Household, State: Doi Moi in Vietnam, eds. Jayne Werner and Daniele Belanger (New York: Cornell University Southeast Asia Program, 2002), 129–151.

[8] Helle Rydstrom, Embodying Morality: Growing up in Rural Northern Vietnam (Honolulu: University of Hawai‘i Press, 2003).

[9] Philip Taylor, “Social Inequality in a Socialist State,” in Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform, ed. Philip Taylor (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2004), 16.

[10] Taylor, Goddess on the Rise, 278.

[11] Ibid., 107–109.

[12] Thạch Voi, “Tín ngưỡng tôn giáo của người Khmerr vùng đồng bằng sông Cửu long,” trong Văn Hóa Người Khmerr Vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, ed. Trường Lưu (Hà Nội: Văn Hóa Dân Tộc, 1993), 39–70; Huỳnh Quốc Thắng, Lễ Hội Dân Gian ở Nam Bộ (Hà Nội: Văn Hóa Thông Tin, 2003).

[13] Le Hong Ly, “Praying for Profits: The Cult of the Lady of the Treasury” (Tài liệu trình bày tại hội nghị hàng năm của Hiệp hội Nghiên cứu châu Á, Chicago, ngày 23 tháng 3 năm 2001), 33.)

[14]MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 9. Giải thích tôn giáo là cách để chống trọi với sự thất thường của thiên nhiên và các cuộc khủng hoảng, tình trạng không chắc chắn do quá trình hội nhập thị trường gây ra được thảo luận trong tác phẩm của Taylor: Goddess on the Rise, tr 34-35, 91-95.

[15] Hue-Tam Ho Tai, Millenarianism and Peasant Politics in Vietnam (Cambridge, Mass: Harvard University Press, 1983); Pierre Brocheux, The Mekong Delta: Ecology, Economy and Revolution, 1860–1960 (Madison: University of Wisconsin-Madison Center for Southeast Asian Studies, Monograph Number 12, 1995); Thien Do, Vietnamese Supernaturalism; Taylor, Goddess on the Rise; Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta.

[16] Philip Taylor, “Rivers into Roads: The Terrestrialisation of a Southeast Asian River Delta,” in Water: Histories, Cultures, Ecologies, eds. Marnie Leybourne and Andrea Gaynor (Perth: University of Western Australia Press, 2006), 38–52.

[17] David Biggs, “Problematic Progress: Reading Environmental and Social Change in the Mekong Delta,” Journal of Southeast Asian Studies 34, no. 1 (2003): 77–96.

[18] Để có thông tin đầy đủ về các tập quán này, xem tác phẩm của Taylor, Goddess on the Rise, tr. 85-90.

[19] Thêm các ví dụ về sự  kiềm chế thế giới tâm linh bị qui cho người dân tộc Khmer và Chàm được thảo luận trong tác phẩm của Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta, 112–120; “Taylor, “Apocalypse Now?” 344-349.

[20] Taylor, “Rivers into Roads.”

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 4)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả