talawas blog

Chuyên mục:

Cao Dao – Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học

14/08/2010 | 4:00 chiều | 37 phản hồi

Tác giả: Cao Dao

Chuyên mục: Ngôn ngữ - Dịch thuật, Tư tưởng
Thẻ:

Dịch thuật, hay chuyển ngữ, không phải chỉ là cầm cây bút, hí hoáy một chút, thì chữ (của một hệ ngôn ngữ này) sẽ chuyển sang chữ (của một hệ ngôn ngữ khác).

Đơn giản chỉ là vì: người ta không thể lùa một đàn bò vào một cái chuồng trâu thì chúng sẽ biến thành những con trâu. Bò thì vẫn cứ là bò, trâu thì vẫn cứ là trâu. Còn cái chuồng thì người ta muốn sao cũng được, chỉ có điều gọi là chuồng bò mà nhốt trâu thì không đúng (true), và chuồng trâu lại nhốt bò thì cũng hẳn là sai (false). Cũng như thế, khi tất cả mọi người đều gọi là “bò”, mà chỉ riêng một người gọi là “trâu”, nhưng trong trường hợp này, chưa biết ai (số nhiều) đúng, hay ai (số ít) sai. Đúng và sai chỉ được thẩm định trên cơ sở duy nhất của cái mà người ta không thể biến đổi nó khác đi (trừ phi người ta là Tôn Ngộ Không, nhưng ở đây tôi không nói đến chuyện phù phép), đó là con bò hay con trâu thấy được, sờ được, thương nó được hay ăn món bít-tếch được, như là một đối tượng (object). Còn cái chuồng là một hình thức (form) mà người ta có thể định đoạt rộng, hẹp, vuông, tròn, tùy thích.

Trong trường hợp này thì đối tượng mà chúng ta đang nói đến là đối tượng của dịch thuật một văn bản nói chung. Đối tượng ở đây chính là một hệ kí hiệu ngôn ngữ trong một trạng huống (state of affairs) bị hạn định bởi một chủ thể (subject), cũng tức là hạn định của một thế giới. Người ta không thể đơn giản lồng một thế giới này vào một thế giới khác, như úp một cái rá vào một cái nồi, hay cho hành hẹ vào chung với dưa cà, thì có ngay một món buổi chiều. Vì đơn giản: dịch thuật, không phải là câu chuyện nhà bếp.

Nhưng nếu đối tượng đó lại là một văn bản triết học (cái cao nhất và sâu nhất của ngôn ngữ), thì sao? Câu trả lời đương nhiên là: việc đầu tiên phải làm là phải xác định rõ ràng minh bạch cái gì là “triết học”, mà cái gì là dưa cà hành hẹ…

(Phần dẫn nhập này dùng những hình tượng bình dị cốt để gợi ý một cách tổng quát về toàn bộ nội dung của bài viết này, tôi không hề có ý ám chỉ, hoặc muốn làm tổn thương đến bất kỳ một ai, hay bất kỳ điều gì tương tự…)

1. Cần và thiết yếu phải minh xác lại một số khái niệm sẵn có

Nếu người ta gõ cửa một căn nhà, thì đương nhiên việc đầu tiên phải biết chủ nhà là “ai”, gõ cửa “triết học” thì cái “triết học” đó, nó là cái gì, như thế nào, tại sao gọi nó là “triết học”.

1a. “Triết học” – “哲學”: nguyên ngữ trong tiếng Hy Lạp gồm “philos” (愛 – ái, yêu thương) + “sophos” (知 – tri, tri thức, trí tuệ). Vậy “philosophia” là “yêu thương tri thức”, thuật ngữ này tự nó đã có ý nghĩa nhất định: một môn học khởi xuất từ niềm yêu thương, khát khao tri thức của con người”, được sử dụng trong các tác phẩm của Platon và Aristote.

Từ “triết học” với chữ “triết” (哲): người khôn ngoan, người hiền trí. Với quan niệm phương Đông, thì sự “khôn ngoan, hiền trí” của từ “triết” (哲) được đặt căn bản trên sự khôn ngoan, hiền trí trong việc đối nhân xử thế, cái đạo lý giữa con người với nhau giữa trời đất, chứ không hẳn dựa trên căn bản “tri thức”, cái biết về sự vật nói chung. Có sự dị biệt trong mục đích luận giữa Đạo học, tâm học, tôn giáo và triết học:

1b. “Tâm học” và “tôn giáo“: Thật ra, Tâm học ở phương Đông trong nhiều trường hợp được xem là tôn giáo, lẽ ra phải viết là “tông giáo” (宗教) – với chữ “tông” (宗) gồm bộ “miên” (宀): mái nhà và chữ “thị” (示): thần Đất, bảo cho biết, đồng thời cũng tượng hình cái bàn. “Tông” mang ý nghĩa:  lễ vật trên bàn thờ dưới mái nhà, để dâng lên thần thánh, mong nhận được ban phước và sự minh thị của thánh thần. Ý nghĩa này khá tương đồng, có thể chấp nhận được trong một số trường hợp với religion = re (lập lại, tái) + ligio (kết hợp), với ý nghĩa: tái kết hợp với Thượng đế. (Trong một số trường hợp khác thì “tông giáo” không phải là “religion”.)

Cả tâm học và “tôn” giáo đều đặt mục tiêu tối hậu vào sự toàn thiện nhân cách của cá nhân, không phải là “tri thức”. “Triết” hay “hiền triết”, hay người khôn ngoan, hiền trí của Đông phương, không phải là kẻ chỉ “biết tri”. Người chịu trách nhiệm về điều này đầu tiên ở Trung Quốc có lẽ là Lão tử, người đã xác lập một trong những ý nghĩa nền tảng cho chủ thể tư duy trong nền văn hóa này: “Đạo khả phi thường Đạo”, Đạo (cái Chân lý phổ quát) là cái không thể biết, không thể nói, chỉ có thể trực quan được nó, ai tu người đó chứng thôi. Mục đích luận trong sự hoàn thiện nhân cách này dẫn đến sự thành lập một chủ thể tư duy với tư cách như là một cá thể, đặc trưng Đông phương (Oriental Individuum), nó hạn định một thế giới quan Đông phương. Chỗ khác biệt này là dị biệt thuộc về nền tảng so với “triết học”, cái truy cầu một tri thức phổ biến, thỏa đáng với tất cả mọi người, và là cái có thể truyền đạt được một cách minh bạch rõ ràng.

Như vậy, so sánh giữa a và b, chúng ta thấy có hai điểm lệch xa trong mục đích luận trong thuật ngữ “triết học”: Một chất điểm nội tại sâu thẳm ở bên trong, “Tâm” (心), và một chất điểm nằm xa ngoài vô tận, “Idea” – thực tại tại hoàn hảo nằm trong vô hạn của Platon. Thuật ngữ này có lẽ đã được đặt ra ngay từ buổi đầu tiếp xúc với nền văn minh phương Tây, các học giả Trung Quốc (hay Nhật Bản?) đã gán cho nó. Ngày nay đã trở thành một từ thống nhất trong quyển vực Đông Á, không còn cách nào hơn là phải chấp nhận hai hệ kí hiệu bất tương xứng này.

Chúng ta bị rơi vào trạng huống bị buộc phải chấp nhận nó, như là một mệnh đề cho một mệnh đề khác thuộc về đối tượng là “philosophia”. Ngay từ điểm xuất phát, người Đông phương đã thất bại trong việc đề xuất ra những kí hiệu trong mệnh đề “triết học” của mình.

Thật ra, cái philosophia của tiền-Aristote không quá lệch xa với tâm học của Đông phương như chúng ta tưởng. Chúng ta tìm thấy sự trùng hợp lạ lùng giữa dụng ngữ “doxa” của Platon và “dosa” của hệ phái tư tưởng Sàmïkhya (Số Luận) của Cổ đại Ấn Độ, một hệ phái lâu đời nhất cùng với Upanishad và có những dụng ngữ được sử dụng trong Upanishad. Cả “doxa” của Platon và “dosa” của Sàmïkhya đều có nghĩa là “cái bất xác”, và nhiều căn cứ khác nữa cho thấy đã có giao thoa giữa hai nền văn hóa Cổ đại này (nếu có dịp, sẽ trình bày ở một bài khác, ở bình diện tỉ giảo văn hóa  luận). Tuy nhiên không thể nói Platon “đạo văn”, Platon chỉ sử dụng những “chất liệu” từ bên ngoài để thiết lập một hệ thống tư tưởng triết học của riêng ông, đó là cái gì chỉ có Platon mới có. Ngay cả người Ấn cũng không thể dùng thuật ngữ “dosa” (có thể là nguyên mẫu của “doxa”) để chuyển dịch “doxa” của Platon. Đó là hai kí hiệu ngôn ngữ của hai cấu trúc luận lý khác nhau, dù không khác xa nhau lắm.

Tuy nhiên, đến Aristote, người đã thiết lập một hệ thống triết học thực thụ nghiêm mật và khổng lồ, với một cấu trúc luận lý trong suốt nghiêm nhặt, thì chỗ giao thoa giữa tâm học và triết học bị đoạn lìa, Đông là Đông, Tây là Tây, đôi khi gặp nhau một chút, bắt tay một cái, rồi lại ngoảnh mặt đi ngay. Từ đây, không dễ dàng gì cho phương Đông tiếp cận được “philosophia”, cái cao nhất và sâu nhất của văn hóa phương Tây, và ngược lại, phương Tây cũng không dễ dàng gì tiếp cận với cái ỡm ờ, có vẻ như thế nhưng không phải như thế của văn hóa phương Đông được nữa. Bởi vì:

1c. Metaphysica: với “meta”: siêu vượt lên và “physica” bao hàm ý nghĩa về những tự nhiên học (như toán học, vật lý học, động vật học, thiên văn học…), xuất phát từ “phusis”: tự nhiên, tự nhiên tính.

Aristote đã gọi môn học này bằng nhiều cái tên “cái học của về nguyên nhân thứ nhất” (Metaphysica cuốn 2), “cái học về thực tại tự nó”, “triết học đầu tiên và tiên quyết” (Metaphisica cuốn 4, phần 1), “cái học đầu tiên” (Ibid.) hay “cha của mọi môn học”.

Những cách gọi này đều hàm ý về một triết học có tính cách tiên khởi và quyết định cho những khoa học tự nhiên khác như vật lý học, động vật học, thiên văn học… “Giờ đây, nếu những thực thể thiên nhiên là những sự vật tồn tại đầu tiên, thì vật lý học phải là một khoa học đầu tiên của mọi ngành khoa học. Nhưng nếu có một thực thể khác hơn, là tồn tại đầu tiên, nó biệt lập và bất động, thì tri thức con người phải là cái gì khác hơn và tiên quyết hơn là vật lý học, và nó (philosophia) phổ biến bởi vì nó là cái có trước.” (“Now if natural substances are the first of existing things, physics must be the first of sciences; but if there is another entity and substance, separable and unmovable, the knowledge of it must be different and prior to physics and universal because it is prior.” (Metaphysica cuốn 11, W. D. Ross đọc giải từ tiếng Hy Lạp.)

Như thế, nếu chúng ta có thể dịch với một cái tên tương đối sát nghĩa với Metaphysica, thì đó phải là “siêu tự nhiên học”, hay “siêu tự nhiên khoa học” với ý nghĩa: một môn học vượt lên trên tất cả các khoa học tự nhiên khác, cái có tính cách tiên khởi và quyết định cho tất cả các môn khoa học  này. Nói cách khác, đó là “môn học phản tỉnh tất cả các tri thức của con người (trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên – Người viết) và thống nhất chúng lại một cách thỏa đáng” (“Tetsugaku Nyumon”, Níhida Kitaro).

Như thế thì thuật ngữ mà chúng ta thường sử dụng để nói về môn học này là “siêu hình học” không nói lên một ý nghĩa có tính cách “triết học” nào cả. Người ta lại thất bại trong việc đề xuất những kí hiệu cho một mệnh đề, một mệnh đề tiên khởi của triết học. Chữ “hình” (形) ở đây, với tất cả ý nghĩa khả hữu của nó (hình dạng, hình thể, hình tượng, dạng tướng…) đều không tương quan gì với “physica” cả. Ở Việt Nam đã có người từng đề nghị dùng chữ “thể” (體): cái có một mô thức nhất định, cái có nội hàm một tính chất nhất định, để thành “siêu thể học” (Phạm Công Thiện), nghe có vẻ dễ chịu hơn một chút. Tuy nhiên, chữ “th” (體) này, trong tương quan đối phản với chữ “dụng” (用) – cái biểu lộ ra bên ngoài – nếu có tương quan gì với triết học, thì chỉ có thể tương quan với khái niệm “bản chất, bản thể”, chỉ là một trong những khái niệm được Aristote thiết lập trong Metaphysica thôi (xem Metaphysica cuốn 5, phần 4, Aristote), nó không có thẩm quyền và khả năng biểu thị cho chính Metaphysica.

Các học giả Nhật Bản từ thời Minh Trị cho đến bây giờ, hầu như 100% thống nhất gọi là “hình nhi thượng học” (Keiijougaku – 形而上学), điều này có vẻ lại càng tồi tệ hơn, nếu không nói thẳng là hoàn toàn vô nghĩa. Bởi vì ý nghĩa “hình nhi thượng”, “hình nhi hạ” của Khổng Tử hoàn toàn chẳng dính dáng gì với triết học cả, hai hệ thống này hoàn toàn khác nhau. Nếu chỉ vì một hình thức giống nhau nào đó trong ngữ nghĩa, mà bê chúng ra từ một hệ thống ngữ nghĩa này nhét vào hệ thống ngữ nghĩa kia, thì có khác gì lùa những con bò vào chuồng trâu, rồi bảo chúng là trâu? Trong các đề xuất kí hiệu tiên khởi này, dưa cà hành hẹ được nhét cả vào trong triết học.

“Mt mnh đ xác đnh mt ch trong không gian lun lý. S tn ti trong không gian lun lý này đưc xác chng duy ch bi chính s tn ti ca nhng yếu t cu thành bi s tn ti ca mnh đ có ý nghĩa đó.” (Luận khảo luận lý triết học, 3.4, L. Wittgenstein)

Xuất phát từ một tên gọi cơ bản như thế, thật không lạ gì khi người Nhật cũng cùng một cách như thế, dịch chữ “mind” trong tiếng Anh là “tâm” (心) theo đúng nghĩa mà cái “tâm” trong Đông phương học sử dụng. Vào thập niên 80 và 90, đã xuất hiện một số tác-dịch giả trẻ mạnh dạn đề nghị và dịch từ này bằng cách phiên âm “maindo” (マインド), chứ không dịch nghĩa. Lý do đơn giản: “mind” không phải là “tâm”, cái bao hàm tất cả những hiện tượng thuộc về tâm lý học và là đối tượng mà khoa học này quan tâm, chứ không phải là đối tượng của triết học (mặc dù trong một cách thế nào đó, triết học có thể có tương quan với tâm lý học). “Mind” trong truyền thống triết học phương Tây là cái gì chỉ thuộc vào lý tính (ration), phản tỉnh triết học (philosophical insights) là hành vi lý tính thuần túy đối với toàn bộ tri thức của con người, nó không hề dính dáng gì đến hỉ, nộ, ái, ố hay những xung động thần kinh có tính cách tự phát, hay một bản năng thầm kín nào cả. Thật lạ lùng khi cuốn tự điển về Wittgenstein xuất bản năm 1999 (nhà xuất bản Daishukanshoten) do GS Makoto Yamamoto và GS Hiroshi Kurosaki chủ biên, cùng với sáu vị giáo sư khác của các đại học nổi tiếng của Nhật Bản, đều thống nhất với nhau chuyển ngữ “mind” là “tâm”. Điều đáng ngạc nhiên là các giáo thụ (professors) này là những giáo sư chuyên ngành về Wittgenstein. Các vị này đều đồng tâm hợp lực úp cái rá vào cái chậu, người ta phải nghiêng mình trước cái sức mạnh của quán tính nhà bếp này.

Trong một bối cảnh nhập nhòa giữa tâm họctriết học như thế, thật không ngạc nhiên khi ngay tại giảng đường của Đại học Tokyo, một đại học thuộc “top” của Nhật Bản, giáo sư Suzuki dùng Luận văn tập (trên mười cuốn sách) của ông làm tài liệu giảng dạy cho các môn sinh cấp trên đại học, trong đó ông diễn giải khái niệm “A priori” của Kant đồng nghĩa với “bẩm sinh” (tiếng Nhật: sinh đắc – 生得 – seitoku = innate, angeboren) trên bình diện sinh vật học. May mà Kant đã chết rất lâu trước khi nghe tin này.

Điều này có nguyên nhân sâu xa: nó kế thừa từ cách dịch thuật đã có từ lâu không chỉ ở Nhật Bản, mà cả quyển vực Đông Á: Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Đại Hàn và cả Việt Nam. Trước thập niên 40, hầu như các văn bản triết học ở Nhật đều thống nhất với cách dịch “A priori” là “Tiên thiên” (先天) một cách mơ hồ, đánh đồng ý nghĩa với “bẩm sinh”, “sinh đắc” nói trên. Cuốn Triết học Kant của Trần Thái Đỉnh xuất bản ở Việt Nam trước 1975, cũng vô tình kế thừa cách dịch thuật này. Nishida Kitarō (bạn thân của Daisetsu Suzuki, tác giả của Thiền luậnEssays of Zen), người đã mở ra một trường phái triết học riêng cho Nhật Bản, gọi là “Trường phái Kyōto”, cũng dùng khái niệm “Tiên thiên” này. Mãi sau thập niên 50, người Nhật mới bắt đầu nhận ra sự lủng củng này, đó là một sai lầm căn bản khi nói về Kant, và chuyển dịch nó thành “Tiên nghiệm”: không dựa vào kinh nghiệm, chỉ nội tại trong lý tính, chứ không phải là cái sinh ra đã vốn có, như có bốn chân hai cái sừng và một cái đuôi. Hai ngàn năm trước, Aristote đã xác minh một cách giản khiết một điều tương tự: Protera, Priora“,- cái có trước (chỉ đơn giản là có trước, cái tiên quyết), chính là cơ sở của “A priori”. Vậy mà hơn hai ngàn năm sau vẫn cứ có người nhầm tưởng trâu là bò.

Tôi viết ra những điều này không phải là để phủ nhận những sách triết học ở Nhật Bản, một trong những quốc gia tiền phong trong việc tiếp cận triết học, là nơi có thể nói loại sách này nhiều nhất Á châu hiện nay, trong đó có những công trình dịch thuật rất hay và nghiêm túc (và lại buộc phải có thể nói thêm cho chắc: bên cạnh vô số những rá úp vào nồi…). Dẫn chứng những điều này, tôi chỉ muốn nói: công việc tiếp cận với cái gọi là triết học của các nước phương Đông nói chung vốn là một con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu, trượt lên trượt xuống, chứ không phải chỉ đơn giản đọc một câu thần chú “Metapha!”, là cánh cửa sẽ tự động mở ra thênh thang. Trên con đường mòn này, những người đi trước mở đường để lại những dấu vết cho những người đi sau lần mò theo đó mà đi, và chính họ cũng để lại không ít hoa tàn cỏ dại, làm lạc lối những người đi sau…

Bởi vì sợ bị lạc đường, nên tôi phải đánh dấu cho rõ ràng tại những vị trí chính yếu, để từ đó có thể định hướng mà đi, tức là: cần một sự minh xác rõ ràng minh bạch một số khái niệm cơ bản thường được sử dụng một cách khái quát nhất trong lớp phân loại cơ sở:

1d. Luận – 論 – Logic: nói về. Khi “nói về” bất kỳ một đối tượng nào, của bất kỳ dạng thức nào, cũng luôn luôn nội hàm trong đó một cấu trúc luận lý, một cái khung trong suốt để xác chứng cho ý nghĩa của những gì đang nói về. Tuy nhiên, không nhất thiết cấu trúc luận lý này phải được thiết lập thành một hệ thống nghiêm nhặt: người ta có thể luận một cách có hệ thống, hay luận một cách không có hệ thống, tức là luận khơi khơi. Người ta có thể luận về bất kỳ cái gì trên đời: vũ trụ luận, khoa học luận, văn hóa luận, Luận ngữ, luận về trâu hay bò, mưa hay nắng… Luận chỉ là luận về một chủ đề (subject), trong đó nội hàm những đối tượng và những thuộc tính thuộc về chủ đề đó, và cách luận như thế có thể là đúng hay sai, nghĩa là nó luôn luôn bao hàm hai khả năng: 1. Luận và 2. Phản luận.

1e. Thuyết – 說 – hypothesis: giả thuyết. Một giả thuyết (khoa học, hay bất kỳ dạng giả định điều kiện cách-conditional nào trong cách nói thông thường) luôn luôn bao hàm những khả năng:

–      Khả nghiệm: có thể kiểm chứng trên thực tế, hay trên thực nghiệm.

–      Khả chứng: có thể chứng minh được bằng luận lý, hay bằng chứng cứ cụ thể. Như thế, thì một giả thuyết cũng nội hàm một khả năng đối lập của nó:

–      Khả năng phản chứng: chứng minh ngược lại. Bất kỳ một giả thuyết khoa học, dù chính xác hay không chính xác, cũng luôn luôn bao hàm một khả năng song hành với giả thuyết đó: là “khả năng phản thuyết” (trường phái triết học Vienne).

Giả thuyết khoa học chỉ có giá trị tương đối trong một quá trình nhiều giai đoạn lặp đi lặp lại: 1. đặt giả thiết, 2. kiểm chứng trên thực nghiệm, 3. chứng minh, 4. phản thuyết, 5. tái kiểm chứng bằng thực nghiệm… và cứ như thế (theo John Dewey). Giá trị của một giả thuyết khoa học được xác chứng là “đúng” trong một quá trình lặp đi lặp lại như thế, cho đến khi nào có một giả thuyết khác chứng minh một điều ngược lại.

1f. Học – 學 – Logy-Science: Dù là Luận hay Thuyết, một khi đã được thiết lập thành một hệ thống có tính hữu cơ, với những yếu tố cơ bản và những thành phần kết hợp trong một tương quan thống nhất, với cái này bổ sung cho cái kia, thì gọi là Học-Science. Với những tính cách khác nhau như đã đề cập ở 1a, 1b, và 1c, cần và thiết yếu phải phân định rõ ràng giữa:

–      Khoa học-Scienes: như là một Thuyết, phải được xác chứng bởi những điều kiện như ở 1e.

–      Triết học: bản thân nó cũng là một khoa học-science, nhưng là một khoa học tiên quyết cho tất cả những ngành khoa học khác, như đã xác định ở 1c. Đó là một cái học tiên quyết đặt ra những nền tảng phán đoán chuẩn xác, và thống nhất tất cả những điều kiện tri thức của con người. Mọi ngành khoa học khác đều phải dựa trên những thành tựu triết học, để có thể xác định và tiến hành cho mình một phương pháp luận riêng biệt, trên cơ sở phán đoán chuẩn xác mà triết học đã đề ra. Nói cách khác: triết học là phương pháp luận nền tảng cho tất cả mọi phương pháp luận khác, tự nó là “một thực thể bất động làm nguyên nhân cho những cái động khác” (Aristote).

Triết hc nhm mc đích vào s minh bch lun lý ca tư tưng. Triết hc không phi là mt h thng lý thuyết, mà là mt nguyên đng. Mt tác phm triết hc bao hàm nhng gii minh căn đ.” (Luận khảo luận lý triết học“, 4.112, Wittgenstein).

Bản thân khoa học không thể đứng ngoài triết học, cái làm nền tảng căn để của nó, nếu nó muốn có một cơ sở đúng đắn để tiến hành phương thức thăm dò đặc thù của nó. Nếu không thì đó chỉ là Luận, một cách khơi khơi không có cơ sở nào, không có gì bảo đảm cho nó khỏi luận lòng vòng. Người ta có thể luận về con bò như là một con trâu, và ngược lại. Cũng như người ta có quyền luận lòng vòng về Khổng Tử hơn suốt hai ngàn năm nay mà chưa chắc hiểu Khổng Tử muốn nói gì. Hai ngàn năm lùi lũi theo sau đuôi một con trâu do chính mình vẽ ra, mà cứ nghĩ nó là con bò. (Chú thích cần thiết: Tôi không nhập cùng một duộc giữa Khổng Tử và trâu, tôi chỉ phân loại theo đúng tiêu chuẩn phân loại những cách luận giải dai dẳng về trâu và bò, mà không hề quan thiết đến cái gì là “bò”, mà cái gì là “trâu”, trâu bò lẫn lộn…). Điều này không những chỉ trong Nho học, mà cả Đạo học, Dịch học, cũng điều như thế, những luận giải cái này xen lẫn với cái kia, rồi cái kia xen lẫn với cái nọ… (chẳng hạn: với Kinh Dịch, chỉ riêng tên gọi của một quẻ “Ký Tế” (既濟) đã có ít nhất 12 ý nghĩa khác nhau để Vương Bật, Trịnh Huyền, Hồ Viện, Du Diễm, Chu Hi, Trình Di… là những học giả hàng đầu của Trung Quốc trong mỗi thời đại, mỗi người giải một “ý nghĩa” khác nhau, trên cơ sở đó luận giải khác nhau, ông này gọi là “trâu” và luận giải theo cách trâu, ông kia gọi là “bò” và luận giải theo cách bò, không ai có thể thẩm định được là bò đúng hay trâu đúng…).

Không có triết hc thì tư tưng, như nó vn như thế, là cái gi m mt và bt minh: Nhim v ca triết hc là làm cho nó tr nên minh bch và vch cho nó nhng đưng biên rõ nét.” (Sđd., 4.112)

Triết hc đt ra gii hn cho bu không khí quá nhiu tranh cãi ca khoa hc t nhiên.” (Sđd., 4.113).

Như thế, từ chính điểm xuất phát đã được minh định rõ ràng và khúc chiết bởi Aristote, triết học vẫn cứ tiếp tục khẳng định chính nó một cách hiển nhiên (như là một mệnh đề toán học, mà không như là một mệnh đề toán học). Tự nó tự minh (sefl-evident), mà không cần đến sự trợ giúp của một khoa học nào (nó là cha, chứ không phải là con, như ý nghĩa xác định ở c). Như vậy, phương pháp luận đặc thù của triết học không phải là phương pháp luận khoa học (khả nghiệm, khả chứng, khả phản chứng). Khả tính và phương pháp luận duy nhất của triết học là: Khả tính phản tỉnh triết học (Posibility of philosophical insights). Khả tính này nội hàm hai khả năng:

1f1. Triết học, với tư cách là một cái học tiên quyết (First Science), có khả năng phản tỉnh từ tất cả mọi tri thức khoa học, tức là, tất cả mọi tri thức con người ta có thể có được về thế giới, trong đó con người tồn tại. Nó đề xuất những tiền đề có tính nền tảng và nguyên lý cho bất kỳ một nguyên tắc khoa học nào và cũng chính nó thống nhất lại tất cả những tri thức trong mọi ngành khoa học lại. Nó xác định ý nghĩa đầu tiên và cơ bản nhất cho việc thành lập những ý nghĩa khác: cái gì “con trâu”, cái gì “con bò”. Việc tiếp theo của các ngành khoa học là xác định: như thế nào là bò, và như thế nào là trâu, thịt bò bít-tếch khác với thịt trâu nấu phở như thế nào.

1f2. Triết học, với tư cách là một thực thể đầu tiên (“First Substance“, Aristote), tự nó có khả tính phản tỉnh chính nó. Chỉ có triết học mới có thể phản tỉnh được triết học và phản tỉnh của nó là phản tỉnh có tính cách biện chứng (dialectic). Như thế, một mệnh đề triết học chỉ có thể giải quyết, phát triển, kế thừa hay bị thanh toán gọn gàng bởi một mệnh đề triết học khác. Chỉ có một mệnh đề triết học mới có khả năng và thẩm quyền phản tỉnh lại một mệnh đề triết học. Các mệnh đề khoa học không với được tới đó, để có thể xầm xì gì được. Bò và trâu không có khả năng định đoạt về cái chuồng của chúng.

Đến đây, có lẽ công việc dọn dẹp đã tạm đủ, chúng ta đã có thể đi thẳng vào vấn đề chính: về công việc dịch thuật một văn bản triết học.

2. Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học

Thiết định một tra vấn triết học (philosophical problem) là thiết định một cái gì đụng tới toàn thể cấu trúc của triết học, nó không liên can đến việc tra vấn “nhiều” hay “ít”, bất kỳ một tra vấn triết học nào, cũng đều chạm tới nền tảng của nó, tức là chạm đến toàn bộ cấu trúc triết học từ điểm xuất phát cho đến thời điểm của tra vấn đó. Người ta muốn sửa một chữ trong triết học trong khi tra vấn, thì có nghĩa là, trong câu trả lời của mình, phải sửa lại toàn bộ những chữ khác đã được thiết lập trong triết học.

“Mnh đ ch có th xác đnh mt v trí trong không gian lun lý: tuy nhiên, toàn th không gian lun lý đã phi đưc thiết đnh bi nó.” (Sđd. 3.42)

Lý do: đó là cái gì ở cấp độ nền tảng (cái nằm ở sâu nhất) và là cái gì thống nhất tất cả những cái khác (cái ở tầm cao nhất) trong trong toàn bộ động tác tri thức của con người. Một mệnh đề triết học không đồng đẳng với mệnh đề của khoa học tự nhiên.

“Triết hc nhm mc đích vào s minh bch lun lý ca tư tưng. Triết hc không phi là mt h thng lý thuyết, mà là mt nguyên đng. Mt tác phm triết hc bao hàm nhng gii minh căn đ.” (Sđd., 4.112)

“Triết hc không phi là mt trong nhng khoa hc t nhiên. (Thut ng “triết hc” phi có nghĩa là mt cái gì hoc trên, hoc i, ch không đng đng vi các khoa hc t nhiên.)” (Sđd. 4.111)

Tính bất đồng đẳng giữa triết học và các khoa học đem lại sự bất đồng đẳng giữa những thuật ngữ triết học và những thuật ngữ của khoa học tự nhiên, mặc dù rằng:

2a. Trên bình diện ngôn ngữ có thể đó là hai khái niệm có vẻ giống nhau về phương diện ngữ nghĩa, nhưng hoàn toàn khác nhau trong cấu trúc luận lý của toàn bộ hệ thống. Ý nghĩa không nằm trong hình thức của khái niệm, mà nó được định lập bởi cấu trúc luận lý của hệ thống. Ví dụ: như trường hợp đã dẫn ở phần 1c, sự khác nhau giữa thuật ngữ triết học “a priori” và thuật ngữ “bẩm sinh” của sinh vật học. Một cái nói về tính tiên quyết (có trước – Protera, Priora) nội hàm trong lý tính, còn cái kia nói về cái sinh ra vốn có của mỗi cá thể sinh vật. Hai cái khác nhau này, thuộc về hai cấu trúc luận lý hoàn toàn khác nhau về cấp độ cũng như về tính cách: “A priori”, như là căn cứ phán đoán lý tính, nó định ra những phạm trù tiên quyết của lý tính đối với kinh nghiệm, qua đó Kant giải minh về một khả tính của nhận thức. Cái mà Kant thiết lập định ra một cơ sở phán đoán trong nhận thức luận khoa học (episthemology) cận đại, nó cũng chính là cơ sở phán đoán cho tất cả mọi ngành thuộc mọi lĩnh vực khoa học, cận đại cũng như hiện đại. “Bẩm sinh” chỉ là một khái niệm đơn lập trên bình diện sinh vật học và trong cách nói thông thường, và ý nghĩa của nó được hạn định trong phạm vi cá thể. Hai khái niệm này thuộc về hai hệ thống luận lý hoàn toàn khác nhau về cấp độ, và thuộc về hai thế giới hoàn toàn khác nhau về tính cách.

Cũng như thế đối với “mind” và “tâm” (心 – citta). Chữ “mind” đã được chuẩn bị bởi cả một hệ thống bản thể luận (ontology) của Aristote và một truyền thống lý tính của văn hóa Tây phương hơn hai ngàn năm. Chữ “tâm” đã được Đạo học, tâm học và Phật học của Ấn Độ và Trung Hoa súc tích cho nó cả một thế giới vô hạn, và vô số những diễn giải về nó hơn suốt hai ngàn năm. Người ta không thể đếm hết được vô số những ý nghĩa phụ thuộc của hai khái niệm này. Không thể chỉ vì mở tự điển ra tra một ý nghĩa gần giống mà có thể vội vàng úp chúng vào nhau như úp cái rá lên cái nồi được.

Những cái “trông có vẻ giống nhau” hay “từa tựa như nhau”, hay nói rộng hơn một chút “những cái mài mại giữa cái này và cái kia”, tức là cái mà Platon gọi là “cái bất xác – doxa”, nghĩa là cái trung gian (tometaxy) giữa cái (to on) và cái không có (to me on), ngay từ buổi sơ khai, nó đã được xác định rõ ràng và đã bị loại ra khỏi cuộc chơi triết học rồi.

2b. Hai khái niệm đều xuất phát từ một gốc và ý nghĩa giống nhau, nhưng lại sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau. Ví dụ: “Dynamis”, một từ Hy Lạp cổ với nguyên nghĩa là “năng lực” (power) được Aristote triển khai thành khái niệm về “Khả tính” (Posibilty), đồng thời nó cũng được sử dụng mà Platon đề cập trong Quốc gia luận (Politica 587D) như là một thuật ngữ toán học “a x a x a”, tức là a3, cái mà ngày nay gọi là “lũy thừa”. Mặc dù được viết giống nhau và hiểu theo nghĩa thông dụng như nhau, nhưng một cái nói về một khả tính trong triết học và một cái nói về một khả tính trong toán học. Điều này cũng giống như “Doxa” của Platon và “Dosa” của Ấn Độ (như đã dẫn ở 1c).

Đ có th chp nhn mt hình tưng bi kí hiu ca nó, chúng ta phi quan sát cái cách kí hiu đưc s dng như thế nào vi ý nghĩa.” (Sđd. 3.326)

Mt mnh đ xác đnh mt ch trong không gian lun lý. S tn ti trong không gian lun lý này đưc xác chng duy ch bi chính s tn ti ca nhng yếu t cu thành bi s tn ti ca mnh đ có ý nghĩa đó.” (Sđd., 3.4)

Mnh đ phi thông tri mt ý nghĩa mi thông qua cách biu trưng cũ. Mt mnh đ thông báo cho chúng ta mt trng hung, và như thế, nó phi gn kết mt cách thiết yếu vi trng hung y. S gn kết đó, mt cách chun xác, là hình tưng lun lý. Mt mnh đ minh th mt cái gì đó, ch trong chng mc nó là mt hình tưng.” (Sđd. 4.03)

Khi chuyn dch mt ngôn ng sang mt ngôn ng khác, chúng ta không tiến hành bng cách dch thut mi mnh đ ca ngôn ng này sang mnh đ ca ngôn ng khác, mà ch bng cách chuyn dch nhng yếu t cu thành ca mnh đ.” (Sđd. 4.025)

v.v…

Trên đây là những giải minh của Wittgenstein về ngôn ngữ nói chung. Chúng ta ta có thể tiến hành cách miêu tả trình thuật một sự vật, hay chuyển dịch một ngôn ngữ sang một ngôn ngữ khác, trên bình diện ngôn ngữ. “Trên bình diện ngôn ngữ”, nghĩa là chúng ta có thể sử dụng những nguyên tắc nền tảng trên đây để nói hay viết hay suy nghĩ, hay dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác (như dịch một văn bản thuộc các thể loại văn học…), thông qua công cụ duy nhất là ngôn ngữ, và cũng là cái hạn định thế giới chúng ta. Tuy nhiên, những mệnh đề này của Wittgenstein chưa hề đề cập đến việc chuyển dịch chính chúng sang một ngôn ngữ khác, tức là chuyển dịch một mệnh đề triết học sang một hệ thống ngôn ngữ khác. Nó lại càng không đơn giản như lùa đàn bò vào chuồng trâu, bởi vì: cái chuồng này là chính “triết học”.

2c. Thiết định một câu hỏi: Làm thế nào để chuyển dịch một văn bản triết học, từ một hệ thống ngôn ngữ này sang một hệ thống ngôn ngữ khác? Câu hỏi này, tự nó cũng là một tra vấn triết học, hay là một tra vấn có tính cách triết học. Việc chuyển dịch này không còn nằm trong bình diện của ngôn ngữ học, ý nghĩa luận (semantic) hay các khoa học tương quan, những thứ này đã bị loại ra khỏi sân chơi triết học. Chẳng những nó đòi hỏi chúng ta phải nâng cấp ngôn ngữ đến một cấp độ khác (cao hơn hay sâu hơn), mà một cách tất nhiên, nó đòi hỏi đến cái mà chúng ta đã đề cập ở 1d2, đó là: Khả tính phản tỉnh triết học (Posility of Philosophical Insights). Một mệnh đề triết học chỉ có ý nghĩa trong phương pháp luận đặc thù của triết học.

Đương nhiên, khi nói về hay chuyển dịch một mệnh đề triết học, thì ý nghĩa của việc nói về và chuyển dịch ấy, chân xác hay không chân xác, chỉ được xác chứng chỉ duy nhất bởi chính phản tỉnh triết học. “Chỉ duy nhất”, bởi vì chúng ta không còn có thể lập luận dựa vào bất kỳ một khoa học nào (vốn đẳng cấp thấp hơn nó, hay chỉ nằm hời hợt bề mặt phía trên nó, bị nó quyết định). Ngay từ trong định nghĩa đầu tiên (1c), nó đã được liệt vào đẳng cấp tuyệt đối, cái thứ nhất, cái tiên quyết, vậy thì chẳng có cái nào khác có thể lay động được nó, chỉ có nó tự quyết về bản thân nó mà thôi. “Ý nghĩa” của văn bản triết học không thuộc về ngôn ngữ bình thường hay ngôn ngữ thông dụng của các ngành khoa học nữa (chúng ta có thể thấy rải rác trong Luận khảo, Wittgenstein thường nhắc đến nhóm từ “cả trong ngôn ngữ thông thường” như ở 4.011… Điều này cho thấy rõ ràng ông đã tách nó ra khỏi lĩnh vực của một mệnh đề triết học).

Như thế, người ta không thể tiến hành dịch thuật một văn bản triết học mà không có chút phản tỉnh nào về nó. Bởi vì: nếu thế, thì đơn giản sẽ không xác định được cái mình dịch ra là đúng hay sai, và cái gì mơ hồ giữa đúng và sai (không thể tồn tại trong một văn bản triết học. Điều này không thể lầm lẫn với văn học, cái mà tính phong phú được được đặt trên cơ sở của những mơ hồ bất xác này). Chân xác, hay không chân xác, trong một cách nhất định, biểu lộ qua những tính chất của thuật ngữ:

2d. Thuật ngữ triết học

Một văn bản triết học, nó đòi hỏi tính minh bạch (clara) và tính biện biệt khúc chiết (distincta). Đây là truyền thống khởi xuất từ cốt lõi căn để của nó. Trong Luận khảo chúng ta thấy trong phong cách viết rõ ràng và đôi khi rất bình dị của Wittgentein. Ông nhiều lần phải sử dụng đến những dụng ngữ La-tinh, chỉ có cách này mới khiến ông tách riêng được ý nghĩa đang nói về khỏi những ý nghĩa thông thường, có thể đem lại ngộ nhận, như ở 4.123, ông đã sử dụng thuật ngữ “eo ipso” (tự nó), mà không dùng “itself”, để tránh những ngộ nhận có thể xảy ra với “thing itself” (sự vật tự nó) của triết học cận đại. Ông đứng ngoài lập trường của triết học cận đại, và không muốn dính dáng đến nó. Thật tình không thể mời một con trâu-tự nó hay một con bò-tự nó vào mâm cơm chén rượu, để hàn huyên tri kỉ tri bỉ dưới trăng được.

Một văn bản triết học đòi hỏi tính tự minh (self-evident), cũng xuất phát từ cốt lõi căn để của nó. Tự minh, là tự nó làm sáng tỏ chính nó, mà không cần đến một luận giải khoa học nào khác, lại càng không thể chấp nhận một cách luận giải “trương tam lý tứ” thông tục nào. Nếu như người ta có thể phản tỉnh được một văn bản triết học đến mức độ mà người ta không còn cần đến những thuật ngữ triết học nữa (“Nghĩa là ngưi y đã vt đi cái thang, sau khi đã lên bên trên nó“, Luận khảo, 6.54), thì người ta có thể nói về nó bằng một ngôn ngữ nguyên sơ, thoạt giống như một ngôn ngữ “thông thường”, nhưng phải bảo đảm là những cái mà người ta nói ra một cách có vẻ “thông thường” ấy, phải bao hàm tất cả những ý nghĩa nội hàm trong văn bản triết học, việc này cũng chính là một phản tỉnh có tính cách triết học. Người ta cũng có thể làm một bài thơ thoạt xem có vẻ ngớ ngẩn, như Bùi Giáng đã làm, nhưng đọc bài thơ có vẻ ngớ ngẩn thơ dại ấy, sao lại cứ bàng bạc cái vóc dáng khổng lồ của Wittgenstein, thì đó là điều mà Wittgenstein đã nhấn mạnh ở Khai từ và cuối cùng ở Luận khảo, đó chính là điều ông muốn nói. Như thế, không ai có thể trách móc được điều gì, cả trên bình diện triết học (Philosophia) và thi học (Poetica), kể cả người đó là Aristote. Nhưng người ta không thể dịch thuật một văn bản triết học bằng một ngôn ngữ thông tục phàm phu thùng bất chi thình, con cà con cuống. Lý do: đơn giản chỉ là vì cái đó đã bị loại ra khỏi triết học hơn hai ngàn năm trước rồi (1f), ngọn bút của Platon đã không chừa một chỗ nào cho các sophists lẻn vào để ăn nói mơ hồ được.

Làm cách nào để cho một thuật ngữ triết học được: 1. Minh bạch, 2 Khúc chiết biện biệt, 3. Tự minh? Câu trả lời duy nhất: Chẳng có một cách nào cả. Chẳng có một phương pháp luận nào khác, ngoại trừ chính cái cách mà triết học tự thể hiện mình ra: Khả tính phản tỉnh triết học (Posibility of Philosophical Insight). Những gì đọc được từ một văn bản triết học, nếu người ta phản tỉnh càng sâu, hay càng cao, thì mỗi chữ viết ra cũng có chiều sâu và chiều cao như thế. Mỗi chữ cũng đều có tính cách tự minh của nó, không cần gì đến những luận giải dài dòng mà nó được cao hơn hay sâu hơn. Có ngồi nhâm nhi dưa cà hành hẹ dưới trăng thì cũng không thể nào nhồi nhét ánh trăng vào hành hẹ dưa cà được. Ánh trăng là ánh trăng, dưa cà hành hẹ là hành hẹ dưa cà.

Người ta có thể nói về hành hẹ dưa cà suốt năm này qua tháng nọ, nhưng mà người ta không thể nói được về ánh trăng, cái chờn vờn ở trên cao nhất và ở khắp mọi nơi, cái soi sáng cho tất cả mọi ý nghĩa của tất cả mọi thứ trên đời, cái xác định ý nghĩa căn để cho tất cả mọi ý nghĩa khác, cũng chính là khả tính phản tỉnh triết học, cái đã được giải minh hơn hai ngàn trước: “Thực thể đầu tiên” (First Substance), “Cái không thể định nghĩa được” “Cái bất động làm nguyên nhân cho những cái động” (Metaphysica, Aristote) và hơn hai ngàn năm sau, lại được giải minh khúc chiết một lần nữa như là một trong những “cái không thể tư tưởng được“, “cái không thể nói được” (Tractatus, Wittgenstein). Đến đây, đã là “đường biên giới hạn của tư tưởng” rồi, vượt qua nó thì chỉ còn là những “cái vô nghĩa“. Thôi, thì quay lại đi thôi.

Chiều chiều ra đứng ơ, Tây ơ lầu ờ Tây, Tây lầu ờ  Tây ơ…

(Dân ca Nam bộ)

Thôi, thì đành phải quay trở lại thôi, hãy cùng nhau nói những điều bình thường của nhân sinh, “cái có thể nói được” – tôi và bác, đôi đũa chén cơm, dĩa mắm cọng hành, hãy cùng nhau nói chuyện tâm tình một nắng hai sương, bờ ruộng bờ ao chân lấm tay bùn, con cá rô cá diếc:

2f. Dịch thuật nói chung, là một thăm dò về một đối tuợng, tính cách của nó không khác với tính cách của một khoa học thực thụ nào: tiếp cận với đối tượng mà nó thăm dò. Khoa học chỉ được thiết lập trên cơ sở của một giả thuyết với những giả thiết, kiểm chứng, chứng minh, phản chứng, tái kiểm chứng (như đã viết ở 1e). Đó là một quá trình lặp đi lặp lại, càng lặp đi lặp lại, càng tiến được gần hơn đối tượng ấy. Cũng như thế đối với cách viết nói chung, càng viết càng tẩy xóa, càng viết lại, lại càng tẩy xóa, người ta càng hiểu rõ hơn, cái mình viết ra. Dịch thuật không phải là công việc đơn giản như vào một nhà hàng ngoắc tay gọi bít-tếch một cái, tức thì có ngay người chạy mang đĩa bít-tếch ra tận bàn cho. Mà nếu đó là dịch thuật một văn bản triết học, thì người ta lại phải tra vấn đến tận nơi nữa kia: đĩa bít-tếch đó thịt trâu, hay thịt bò? Triết học, nó không bao giờ bỏ qua những cái thuộc về nền tảng và cơ sở, nó rượt cho đến kỳ cùng, đến chỗ nào không còn chạy được mới chịu thôi: Rủi như ăn nhằm một món bít-tếch không có mùi vị thịt bò, mà là thịt trâu, cũng như, nếu đó không phải là nhà hàng nhà bếp, mà là một giảng đường đại học, thì thật là nhiêu khê: sinh viên cưỡi bò (mind) vào lớp để nghe giảng về Wittgenstein, một chặp sau lại cỡi trâu (tâm) đi ra, như Lão Tử phiêu bồng. Các triết gia phương Tây và các bà nội trợ không mang tạp dề phương Đông, lại phải một phen trố mắt kinh ngạc: con em của các bà các mợ các thím ba dì bảy, cho đi thụ giáo triết học, bỗng nhiên râu tóc bạc phơ, khẩu khí phiêu phiêu, chừng như sắp sửa thành tiên, như Trang như Lão, ngờ mình là bươm bướm, chực bay vào cõi mộng, lại chừng như loạng choạng, sắp sửa té xuống hầm, đất dưới chân không còn là đất thó, trên đầu mưa gió dửng dưng, buổi sáng đi buổi tối về hờ hững… Thôi, thì thà ở nhà mở mồm nói chuyện trâu, chuyện bò, con gà, con vịt gần gũi xóm giềng, còn hơn. Rá cơm, chén rượu, đĩa xôi, cái giếng, cái gàu, con đê, bờ cỏ, lũy tre, con nước… vẫn còn nhiều điều vô hạn đang mong chờ người ta nói đến…

Thấy cô ơ tang tình mà gánh nước ơ..

Cô đang tưới cây ngô đồng ờ ơ…”

3. Humour triết học

Nói về triết học, người ta không thể không nói về humour triết học. Cũng như nói về một thảo nguyên mênh mông, nguời ta không thể không nhắc đến một cơn gió thoảng.

Humour triết học không phải là trào lộng, trào phúng, hí lộng, tự trào, châm biếm, hài hước, hóm hỉnh, dí dỏm, bỡn cợt, black jokes… hay một cái gì đại loại như thế. Lý do: đối tượng của triết học không phải là những đối tượng cá biệt. “Humour” triết học chỉ có trong triết học hay những gì có tính cách triết học, tức là không thể biến nó thành một khái niệm thông thường, không thể dịch được. Người Nhật gọi nó là “Yumua”, người Trung Hoa gọi nó là “U-mặc” (幽默), tức chỉ phiên âm chứ không dịch nghĩa. Người Việt, một học giả Hán văn uyên bác, từng nhận giải thưởng về biên khảo ở Sài Gòn trước 1975, khi tìm thấy từ này trong các văn bản Hán văn ở Hồng Kông, ông rất thích và thường xuyên sử dụng nó trong Cái dũng của thánh nhân với ý nghĩa từ ngữ “U mặc” (幽默) = “im lặng sâu xa”, để nói về các vị thánh nhân như Lão Tử, Trang Tử, Khổng Mạnh… Ông không ngờ đó chỉ là một từ phiên âm, với một ý nghĩa hoàn toàn khác, xa tít tận trời Tây. Điều này cũng thật là “u-mặc”: các vị mà con người ta lúc nào cũng muốn nâng cấp (update) lên hàng “thánh nhân” nọ tha hồ hóa bướm, hóa rồng. Mà không biết tự chính những vị “bị” cho là “thánh nhân” ấy, có hề muốn mình biến thành bướm, thành rồng, thành hạc, thành rùa gì đó không?

Humour triết học là cơn gió thoảng của lý tính thổi vờn qua tất cả mọi cái trên đời, mà không dừng lại ở một cái gì cả.

Ngay cả khi Platon kính cẩn viết về Socrates, vị ân sư đã chết một cách bi tráng và tuyệt đẹp của mình, với một thái độ tôn kính vô hạn, thì ngọn bút của Platon không nhằm vào bản thân Socrates, một đối tượng cá biệt với những thuộc tính ngẫu nhiên (dù là những thuộc tính đáng kính nhất của một nhân cách trác tuyệt nhất), nói theo cách giản đơn của  Aristote: đó chỉ là một “thực thể thứ nhất”, “không thể định nghĩa được“, cũng tức là, một trong những “cái không thể nói được” mà Wittgenstein nói đến. Platon chỉ nêu ra một chân lý sừng sững lồng lộng giữa trời xanh, mà cái biểu tượng, cũng tức là cái kí hiệu biểu thị “Socrates” đó, chỉ là một cái cớ, một điểm tựa có chất điểm hay không có chất điểm, để mà ông biểu trưng ý nghĩa về cái chân lý lồng lộng ấy, một thực tại lồng lộng gió thoảng (“IDEA”).

Cùng một cách như thế, ngọn bút của Platon lần đầu tiên thổi vào văn hóa phương Tây một cơn gió thoảng nhẹ nhàng, “một cơn gió lạnh đối với ai cảm thấy lạnh, không lạnh đối với ai không cảm thấy lạnh” (Platon), tưởng chừng như nó chỉ chợt đến chợt đi, thoảng qua như chỉ là một ngọn gió thoảng qua tình cờ, ấy vậy mà nó nhè nhẹ đằm đằm thổi luồn qua tất cả mọi thứ (không chừa thứ gì) trong nền văn hóa phương Tây suốt hơn hai ngàn năm qua, không chịu dừng lại. Bởi vỉ: đó là cơn gió lý tính, trong đó không tồn tại cái ngẫu nhiên. Đó là một cái hé môi mỉm cừời của Chân lý, một Chân lý không có điểm dừng. Một cái mỉm môi cười bất tận và “bất động” của nàng Mona Lisa Trí tuệ, cả bầu trời rung rinh trong đôi mắt.

Ngay từ buổi đầu tiên của triết học người ta đã được học cách “yêu thương tri thức” cùng với một cách mỉm cười long lanh, Platon cười sảng khoái mà đối sầu vô hạn, Aristote mỉm cười kín đáo mà ánh sáng của trí tuệ rung rinh trong từng mỗi chữ ông viết. Bẵng đi một hồi lâu từ La Mã đến suốt thời Trung cổ, con người ta không còn cười được nữa. Đến các triết gia cận đại thì họ lại còn nghiêm trang hơn, luận tới, luận lui, về sự vật và sự vật-tự nó. Mãi đến đến sau Đệ nhất Thế chiến, sau khi đã hít thở đầy phổi khói lửa bom đạn, người ta lại giật thót mình, bắt đầu nhìn lại chính mình để hỏi “Ồ, tại sao?”, thì lại gặp được cái humour triết học ở Wittgenstein, một nụ cười Hy Lạp chính cống, chẳng thua gì người Hy Lạp cổ đại, một nụ cười ở giữa cách cười của Aristote và Platon:

Phương pháp luận đúng đắn trong triết học, có lẽ thực sự theo cách thức sau: Không nói cái gì ngoài cái có thể nói được, tức là, những mệnh đề của khoa học tự nhiên, tức là, cái mà không có gì để làm với triết học cả, và rồi, khi nào có ai đó chăng, muốn nói điều gì có tính cách siêu hình, thì chỉ rõ cho hắn ta thấy rằng: hắn đã thất bại trong việc đề xuất những kí hiệu nhất định cho mệnh đề của hắn. Mặc dù, có lẽ sẽ không thỏa mãn được cho người khác – người không cảm thấy rằng chúng ta đang dạy dỗ cho anh ta triết học – thì phương pháp này có lẽ là phương pháp duy nhất nghiêm mật đúng đắn.” (Luận khảo luận lý triết học, 6.53).

Wittgenstein đã nói thế, thì trên đời này, AI (không miễn trừ tôi, người đang viết bài này, còn chưa dứt hết chữ), lại còn dám bạo gan liều mạng đưa ra một đề nghị về “phương pháp dịch thuật một văn bản triết học”, mà về cái triết học ấy, “hắn đã thất bại trong việc đề xuất những kí hiệu nhất định cho mệnh đề của hắn“. Tất cả nội dung của bài viết này, không phải là để đề xuất ra một cái gì vớ vẩn (nếu không gọi là vớ vẩn thượng hạng) như thế, mà chỉ là cố gắng nói ra điều có thể nói được, trong phạm vi của những gì mà một con người bình phàm có thể nói được. Đó là: 1. Không thể lùa đàn bò vào chuồng trâu, rồi bảo chúng là trâu; và 2. Dưa cà hành hẹ thì không phải là “triết học”.

Bởi vì:

Những gì không thể nói được sẽ được minh định bởi sự biểu thị rõ ràng khúc chiết những gì có thể nói được.” (Luận khảo luận lý triết học, 4.115, Wittgenstein)

Kết luận

Toàn bộ bài viết này, từ chữ đầu của cái tiêu đề, cho đến chữ cuối cùng tôi sắp viết xong, tức là toàn bộ nội dung bài viết, tự chính nó cũng chỉ là một cố gắng tập tành “humour”. Cứ tưởng rằng mình có thể bắt chước kiểu Wittgenstein, “humour” một chút chơi cũng chẳng hề gì, ấy vậy mà “humour” triết học nó “lạnh” hơn tôi tưởng: nó thổi luồn vào trong dọc theo xương sống, làm thắt lại cả ruột gan, chừng như muốn chảy cả nước mắt ra nữa kia …

7/31/2010

© 2010 Cao Dao

© 2010 talawas

Phản hồi

37 phản hồi (bài “Cao Dao – Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học”)

  1. Trương Đức says:

    “Hai ngàn năm trước, Aristote đã xác minh một cách giản khiết một điều tương tự: “Protera, Priora“,- cái có trước (chỉ đơn giản là có trước, cái tiên quyết), chính là cơ sở của “A priori”. Vậy mà hơn hai ngàn năm sau vẫn cứ có người nhầm tưởng trâu là bò.“(Cao Dao)

    Mấy tuần nay, tôi được một trận “cười (lăn cười) bò”, bởi “cảm nhận” được hết “u-mặc con” này đến “u-mặc con” khác. Đầu tiên là cái “triết lý con trâu – con bò” của bác Cao Dao, rồi “triết lý con vẹt” của các bác Trần Hoàng Lan, Trần Quốc ViệtHoàng Trường Sa, và “nóng hổi” nhất là “triết lý con cừu” của “bác” Ngô Bảo Châu. Đấy là chưa kể “triết lý chó chăn cừu kelpie” của bác Hà Minh, hay “triết lý con chuột lớn giơ hai chân trước lên mà đi, cười sằng sặc trước khi lẫn vào tro bụi” của bác Phùng Tường Vân,…

    Và sau đây, tôi xin “thử đề nghị một cách tổng kết” các “triết lý u-mặc con vật” như thế này, xin chia sẻ với các bác:

    1. Nếu nói về cái “có trước”, thì không thể biết được “triết lý u-mặc” của “con vật” nào “có trước”, nhưng có lẽ “triết lý u-mặc con người tự do” ở Việt Nam ta là sẽ có sau cùng, hay ít ra là sau “thế giới tự do”.

    2. Đến bây giờ, năm 2010, mà ở Việt Nam ta vẫn cứ có rất nhiều người lầm tưởng “con cừu”, “con vẹt (quốc doanh),… là “con người tự do”!

  2. Lề Trái says:

    Lấy thí dụ móm omelet của Tây

    Robespierre: Không đập quả trứng thì sao làm được món omelet

    John Gray: Có đập cả triệu trái trứng cũng chưa chắc làm được món omelet

    Jean-Paul Sartre thử làm món Denver Omelet
    http://profron.net/fun/SartreCookbook.html

    Và đây dành cho những ai theo đuổi món omelet như là chân lý cuối cùng
    http://www.gourmet.com/magazine/2000s/2008/03/omelet?currentPage=1

  3. trieu hoang says:

    @ CTBL và các triết hữu talawasiens

    Xin kính mời CTBL (ông tiên ông khởi đầu mọi chuyện) và các triết hữu PHV vào link sau xem video thư giãn mang tựa đề “Triết lý cái bánh (xe, bò, tiêu, bèo,.., vẽ)” do triết nhân Philu post lên Youtube.
    http://www.youtube.com/watch?v=7dKXfUWimvU

    Tui sắp tẩu vì chủ nhân thớt này sắp claim property right. Chạy trước chắc ăn! Khỏi sanh sự sự… sanh.

  4. hoang says:

    @ Cao Dao
    Phản hồi này thâm còn hơn dưa muối nước lạ! Nhắm nháp coi chừng không áp huyết cũng ung thư. Tui nhảy…ra trước.

  5. hoang says:

    @ Bác Đức
    …“tư duy tất cả mọi người đều “đi thẳng” đến “chân lý”…
    * Lắm lúc “tư duy” cũng bị cái lực Newton của ngôn ngữ ‘dưa cà’ hấp dẫn làm cho cong queo. Thí dụ: cô ta hơi “bị” đẹp; các bài thơ Bút Tre…

  6. Cao Dao says:

    Chào các bác, các cụ, các mợ, các dì,

    Hôm nay rãnh rỗi, tôi xin luận một chút về dưa cà mắm muối, nói chung gọi là “dưa muối”.
    1. Luận về cách làm dưa muối: ở Á đông điển hình với Trung quốc, Đại hàn, Nhật bản và Việt nam.
    a. Dưa muối Tứ xuyên: cho cải tươi vào bình sứ, ướp muối và thêm một lượng ớt đáng kể, đủ để hít hà. Sau đó đậy nắp và hàn lại. Dưa muối Tứ xuyên nổi tiếng vì cái màu trong trong như ngọc bích của cải chua, (dưới tác dụng của vi sinh vật, được đặt trong một môi trường rất thoáng mát và một độ ẩm nhất định của một địa danh trong Tứ xuyên) và bởi cái vị cay và hơi mặn đặc biệt trong khẩu vị của người Tứ xuyên. Cả món “tàu hủ Tứ xuyên” nổi tiếng cũng có vị cay như thế, màu đỏ của ớt thật kích thích và quyến rũ cho cái dạ dày.
    b. Dưa muối Đại hàn, hay đúng hơn là “Kim chi”: món này thì lừng lẫy khắp thế giới rồi. Cải bách thảo được phơi một nắng hay để tươi, ướp muối với tỏi và ớt xay cùng một số khá nhiều gia vị đặc biệt với một liều lượng nhất định theo bí quyết của người Hàn (không dễ gì bắt chước). Có thể dùng bất kỳ bình được chât liệu nào, sau một hai ngày, tác dụng của vi sinh làm nên một món mà ai nếm một lần thì nhớ đời, và phải xúc miệng thật kỹ trước khi nói chuyện với phụ nữ. Một số các công ty Nhật muốn đưa ra một sản phẩm vượt qua Kim chi Đại hàn, họ còn ướp thêm trà và trái mơ (umai) để có thêm một vị “tao nhã” hơn mùi tỏi, nhưng còn xa lắm mới được là đối thủ của kim chi. Kết quả: kim chi có mùi trà và mơ tao nhã không bán được bằng kim chi có mùi tỏi.
    c. Dưa muối Nhật bản: Cho bất kỳ thứ rau củ nào (cải, cà rốt, cà tím…để nguyên củ) vào trong một cái thạp với môi thể là cám và muối âm ẩm ướt (đôi khi có thêm một chút bánh mì khô vò nát, để vi sinh hoạt động tốt hơn trong mùa đông lạnh). Sau một hai ngày, với ra, rửa sạch cám (nếu không thì còn mùi cám gạo), xắt lát và nếu thích có thể thêm gia vị. Nếu cho ớt, tỏi vào thì sẽ có ngay một món “kim chi” cà rốt, cà tím… Cách làm này hiện nay sắp mai một vì kỹ nghệ “ướp muối” công nghiệp, nhanh, sạch, đẹp, rẻ… Nhưng củ dưa cải trắng tinh của công nghiệp không thể ngon bằng củ dưa cải vàng vàng thủ công, hẳn vậy rồi (màu vàng vàng ấy là do cám gạo, giàu vitamin B1).
    d. Dưa muối Việt nam: cách làm đơn giản mà ai cũng biết, vơi nước và muối. Nhưng cái đơn giản này có một ưu điểm đặc biệt mà các cách phức tạp trên không có: dưa chua Việt nam có cái vị nguyên của rau cải, cái này ngon và quyến rũ hơn bất kỳ gia vị phức tạp nào. Cắn một trái cà pháo làm dưa chua: Ôi trời đất thiên địa ơi, cả cõi lòng con người ta run lên theo cái cảm giác rôm rốp của đầu lưỡi, nó dòn như môi ai mới nếm được lần đầu, không có vị gì mà thấm thía thật sâu.
    Cái đơn giản không cầu kỳ phức tạp này, cũng như cái nét phát màu rêu thơ dại trên đồ gốm cổ Việt nam, trong nhiều thời đại và cả bây giờ, đã từng làm điêu đứng nhiều thế hệ nghệ nhân gốm sứ Nhật bản (những người vốn rất tự hào với nghệ thuật của họ). Những nét vẽ có vẻ vụng về trên mặt gốm lam nhẹ, (ở miền quê Việt nam người ta thường vứt bỏ để mua tô chén nhựa với hoa văn màu mè tinh xảo) được người Nhật xem như là quốc bảo của họ. Bởi vì: đó là cả một thế giới quan mộc mạc thanh thoát, mà cả tư tưởng Thiền tông Trung hoa và Nhật bản mơ ước, mà chưa đạt tới.

    Ấy là luận về dưa cà mắm muối, cũng không đơn giản, nếu người ta muốn luận về nó một cách thỏa đáng. Để có thể luận cái nào ra cái đó, thì cũng cần đến một phương pháp luận riêng biệt cho mỗi cái, không thể hòa lẫn được. Cả hai đều yêu cầu đến căn cứ chuẩn xác và tính hệ thống đề có thể thiết lập nên một tri thức có giá trị và có thể truyền đạt. Không thể “luận khơi khơi”, không căn cứ đâu vào đâu, mà cho là nó “đúng” được, đơn giản chỉ vì đó là “cái vô nghĩa”, không có một chuẩn cứ nào trong thực tại. Không thể nhập nhòa một tri thức nửa vời này với một tri thức nửa vời khác, mà có thể gọi là “luận”, hay nói, hay dịch được.
    Bởi vì đơn giản: đó không phải là một động tác tri thức có ý nghĩa, bởi một chủ thể tư duy tích cực; mà đó chỉ là những xung động của bản năng nhiều hơn là lý tính. Trong trường hợp này cũng thế, đem một cách luận giải hay dịch thuật triết học một cách mơ hồ ra so sánh với dưa cà mắm muối, e rằng dưa cà mắm muối nó tủi thân. Tôi xin được nghiêng mình tạ lỗi trước các em dưa cà, các bà mắm muối và các mợ các thím, các dì hai, chị bảy, vì đã động chạm đến lĩnh vực thiêng liêng và kinh nghiệm kín đáo của các thím và các mợ nói chung. Đó không phải là chỗ để có thể đem triết học ra mà bàn hay so sánh, chỉ nên nói thầm thì cho vửa đủ tai nghe thôi, không ai nghe thì càng tốt.

    Cũng như thế đối với những cách luận giải “Huyền chi hựu huyền” kiểu Lão tử: chỉ có cái không có gì của bánh xe mới là điều quan trọng (“Ba mươi tay hoa cùng qui vào một cái bầu, nhưng chính nhờ khoảng trống không trong cái bẩu mà xe mới dùng được”-Tam thập phức cộng nhật cốc, đương kì vô hữu xa chi dụng_Đạo Đức kinh, phần Vô Dụng, theo bản dịch rất nghiêm túc của cố học giả NGUYỄN HIẾN LÊ, tôi viết hoa để tỏ lòng tôn kính đối với một con người suốt đời cầu học, khi những người khác nhảy đầm, bia rượu và luận ba hoa chích chòe, thì ông cúi đầu học từng chữ Hán, để dịch tác phẩm này. Tối chưa từng thấy một câu nào ông dịch hay luận mà không có căn cứ). Và cứ cưỡi bò mà “luận khơi khơi” về Lão tử thì hai ngàn năm sau nữa, vẫn cứ cưỡi bò mà tiếp tục “luận”. Cả người và bò đều ung dung tự tại, bò thì cứ đi, người thì cứ “luận”. Thật là đề huề sâu sắc như nhau. Riêng tôi, thì tôi cho con bò có phần sâu sắc và tế nhị hơn nhiều: nó không nói cái nó “không thể nói được”-cái mà nó chưa biết là gì, nó hiểu nhiều về triết học hơn người ngồi “luận” ngồi trên nó. Trong trường hợp này so sánh giữa người và bò, e rằng con bò nó sẽ bất bình lắm đấy.

    3. Cái gì khác nhau giữa “triết học” và dưa muối?
    Bài viết “Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học” ở trên, được viết ra sau khi tôi tình cờ đọc được bản dịch của “Tractatus Logico-Philosophicus” của Wittgenstein (dịch giả Nguyễn Quỳnh), được đăng tải trên trang Web Tiền Vệ. Tôi đã bắt đầu gởi đến Talawas bản dịch khác (ngày 20/07) và bài viết nói trên (31/07), kèm với cả bản dịch Siêu hình học 5 (31/07) của Aristote, cốt chỉ muốn minh định cho rõ ràng lại nội dung tác phẩm này (27/07). Theo lịch trình của Talawas (mà tôi được thông báo) thì hai bản dịch “Tractatus” sẽ được đăng tải vào giữa hay cuối tháng 9 này, tiếc là không có cùng một lúc đề các bác xem ngay được, mời các bác đón xem. Tất cả nội dung tôi viết trong bài “Thử đề nghị một cách dịch thuật văn bản triết học” và nội dung của nó, chỉ giới hạn trong bối cảnh như tôi vừa viết: cốt chỉ để minh định lại những ý nghĩa nội hàm trong tác phẩm này của Wittgenstein.

    Tôi xin cảm ơn các bác và các cụ, những người đã quan tâm và góp ý nghiêm túc, và nhân tiện một lần nữa xin được tạ lỗi trước loài bò thiêng liêng của Ấn độ và loài bò, nói chung , và cũng xin được tạ lỗi trước các thím, các mợ, các dì vì đã đi hơi sâu vào lĩnh vực riêng của các bà, cũng nói chung.

    Cao Dao

  7. @ bác Trương Đức
    Cha Nguyên nói là cái bánh xe tròn, đúng nhưng mà không đúng vì giữa cái tròn nó phải có cái trục thật thẳng và cứng thì mới đỡ hao…xăng. Đúng là rối rắm của metaphysica linéaire! U mặc chút chơi thôi! Chả cần hoành hay tung tráng gì hết!

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả