trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 7412 bài
  1 - 20 / 7412 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
15.11.2005
Trần Vàng Sao
Tôi bị bắt
(Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù) 10 kì
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10 
 
Sau khi đăng 4 kì hồi kí của nhà thơ Trần Vàng Sao, chúng tôi đã xác minh được tên nguyên thủy cuả tác phẩm này. Nay xin sửa tên mà nhà nghiên cứu Lữ Phương tạm đặt (Hồi ức của một người tù không bị giam vào ngục) thành tên do tác giả đặt: Tôi bị bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù). Chân thành cáo lỗi cùng tác giả và độc giả.
talawas
Cái nhà khách mà tôi ở trong những ngày bị khảo tra thường chỉ có một mình tôi. Lâu lắm mới có một cán bộ miền Nam đến ngủ qua đêm. Chắc tôi là người đầu tiên và duy nhất ở đây lâu ngày. Một buổi chiều khoảng 3 giờ, lúc đó tôi đang ngồi đọc báo ở trên giường, một ông bước vào.

“Chào anh.’’

Ông ta trạc năm mươi tuổi, người cao gầy, hơi đen. Ông ta mặc một bộ đồng phục, áo bốn túi màu vàng đất, đội mũ phớt Liên Xô màu xám. Ông ta là người trong đoàn khảo tra tôi ở K65 và cách đây mấy hôm ông cũng có mặt trong phòng của ông Thanh nọ. Sau tiếng chào, ông ta nói liền:

“Tôi đến gặp anh và nói chuyện cho vui, không phải đến làm việc với anh đâu, anh đừng ngại. Tôi biết anh ở Huế và biết nhiều về Huế nên tôi đến hỏi anh một vài chuyện.’’

Ông ta tỏ vẻ thành thật. Nhưng đối với tôi lúc này tất cả những người thuộc loại này đều không tin. Ông ta nói ông là người Thừa Thiên, có bà con ở Huế. Chắc ông ta muốn biết tin tức người thân mà biết đâu tôi biết. Ông hỏi tôi về Huế, về cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, chợ An Cựu…, về sinh hoạt ở Huế, về mức sống của người Huế. Ông nói:

“Tôi nói thật tôi tiếc cho anh lắm, anh Đính ạ. Những người như anh, có nhiều điều kiện tiến bộ, tiếc là anh lại vấp vào những chuyện như thế.’’

Nói chuyện một hồi, ông ta đứng dậy nhìn cái phòng to dài chỉ có một mình tôi và một dãy giường trống không có chiếu. Ông nói:

“Ở đây, anh dễ tự tử lắm. Nhưng anh đừng có dại.’’

Ông bước ra ngoài:

“Tôi đến nói chuyện với anh cho vui, chứ không có ý gì hết. Khi khác sẽ gặp lại anh.’’

Ông ngập ngừng ở ngoài cửa dưới mái hiên:

“Kể ra ở đây một mình cũng buồn thật.’’

Tôi ra 11A Hoàng Hoa Thám ăn cơm. Cơm ở đây khác với các K điều dưỡng cho cán bộ miền Nam là có độn mì sợi. Lúc này tôi ăn rất nhiều và rất ngon, nhiều khi không thấy no và có vẻ thèm ăn nữa. Tôi ăn cơm một mình như mọi người khác. Ai đến trước ăn trước. Người ăn không đông, độ trên mười người, trừ những ngày có khách, nhưng khách lại không đều, trưa năm, sáu người, chiều còn một hai, hoặc không có ai, hoặc đông hơn, bất chừng. Tôi là người khách duy nhất thường trực ở đây. Có khi tôi ngồi ăn chung bàn với người gác cổng. Sau bữa ăn, thỉnh thoảng ông mời tôi ra phòng trực cũng là nhà ở của ông, uống trà hút thuốc nói chuyện.

Tôi nói với ông:

“Nếu tôi ở đây thì vui biết mấy. Có khi thèm uống trà, ở trong đó cũng chịu.’’

Khi có dịp uống nước với ông, thường bao giờ cũng vào buổi chiều, tôi ngồi ở đây cho đến sập tối. Tôi ngồi uống nước, còn ông ta thì lục đục làm một việc gì đó.

“Anh ở đây còn lâu không?’’ Ông hỏi tôi.

“Tôi cũng không biết nữa.’’

“Gần Tết rồi. Anh có đi phép không?’’

Tôi lắc đầu. Ông nói:

“Có mấy người quen ở quê ra nhắn tôi gặp nhau một bữa, nhưng chắc là sau Tết.’’

Ông ta nói giọng Nam bộ hơi pha Bắc.

“Anh năm nay bao nhiêu tuổi?’’

“Dạ, ba mươi.’’

“Tết mà ở nhà khách thì buồn chết.’’

Rồi tôi trở lại cái phòng mà người ta đã sắp xếp cho tôi ở trong một cái hẻm vắng. Một hai ba bốn năm sáu ngày hay mấy nữa tôi cũng không nhớ, một mình, không quen cũng không được, cứ ăn cơm xong tôi trở lại đó, một mình, không buồn không vui, không gì hết. Tôi cũng không nghĩ ngày mai người ta sẽ làm gì tôi nữa. Hình như những lúc này tôi không còn chán nản, mệt mỏi nữa. Tôi như một người bị liệt từ não bộ đến cơ bắp. Tôi lừ đừ, một mình, một cõi, ngày như đêm, đêm như ngày, không gặp ai, không thấy ai, không có ai nói chuyện. Chung quanh tôi, người lạ. Tôi như chết rồi. Chỉ còn một bóng dáng ám ảnh, dày vò tôi, đó là mẹ tôi. Và tôi thấy mình còn thở.

Nửa đêm thức giấc, tôi không nhớ mình đâu. Tôi tưởng tôi cứ như thường, tôi thấy mình bình yên. Tôi trở dậy, mở toang cửa ra ngồi ngoài thềm hút thuốc. Không biết mấy giờ rồi. Bây giờ mà có trăng, ánh sáng sẽ làm cho không khí bớt nặng và tôi có thể nhìn thấy mọi vật chung quanh, thấy mình bớt vắng lạnh. Nhiều đêm như thế này, tôi bật đèn, mở toang cửa ra, tôi có cảm tưởng cái ánh sáng thình lình ào ra ngoài đã làm cho đất đá và các vật ngổn ngang ngoài sân kia vụt thức dậy. Tôi đứng sửng trước cửa như trời trồng. Bây giờ tôi không còn ai nữa, ngoài đất đá và những thứ vô dụng người ta vất bỏ ngoài kia. Tôi cảm thấy chúng cần thiết và thân mật với tôi lúc này đây. Cái cảm giác trống không và không nhớ gì hết đã bắt đầu trong tôi từ đây, bây giờ. Rồi đây sẽ có những lúc tôi lang thang giữa phố, trên các đường làng, ngoài đồng, giữa chợ ở những nơi xa lạ, một mình, đầu óc trống không, không nhớ gì hết. Chỉ có cơn đau dạ dày làm tôi đặt tay lên bụng và biết rằng mình còn sống như thế này và chung quanh có người.

Tám giờ sáng hôm sau tôi lên phòng ông Thanh. Tôi ngồi vào cái ghế ở vị trí hàng ngày tôi ngồi. 10, 15 phút, hai ba ông đến, trong đó có ông Lai. Bước vào phòng họ kéo ghế ngồi liền. Ông Thanh rót nước. Họ nói qua nói lại với nhau những chuyện gì đó, coi như không có tôi. Tôi thì tôi cứ hút thuốc, uống nước. Trà ở đây bao giờ cũng ngon, không Thanh Tâm thì cũng Thanh Hương, Hồng Đào.

“Thôi, chúng ta làm việc, anh Lai nhá!’’

Ông Thanh nói.

Ông Lai xoa hai tay vào nhau:

“Trời vẫn còn lạnh, khó chịu thật.’’

Vừa nói ông ta vừa kéo dịch cái ghế ra. Mấy ông kia, ông nào cũng mở cặp, túi xách lấy sổ sách để trước mặt. Mặt mày họ lạnh tanh. Và bây giờ họ mới nhìn tôi, tất cả đều bằng những cặp mắt chằm hăm; có cặp mắt cúi xuống, ngó trợn qua phía trên gọng kính; có cặp như lim dim theo cái đầu gật lên gật xuống; có cặp mở to ngó thẳng vào hai mắt tôi; trong lúc đó hai cái dùi dưới bàn rung rung… Tôi chẳng chờ đợi cái gì cả. Tất cả mọi sự rồi cũng chẳng tốt lành gì cho tôi hết. Tôi sẽ bị cải tạo lao động ở K3, bị giam ở Hỏa Lò…

Ông Lai nói trước:

“Chúng tôi đã đọc bản kiểm điểm của anh.’’

Ông ta cầm chéo mấy tờ giấy kiểm điểm của tôi, ấn mạnh ngón tay cái ở một góc, dứ dứ trước mặt tôi, nói tiếp:

“Chúng tôi nói thẳng cho anh biết là chúng tôi vẫn chưa tin những điều anh nói ra đây đều là thành thật, nhất là những điều mà anh nhận là mình sai lầm. Những tư tưởng phản động chống Đảng của anh có hệ thống và không phải mới có đây, mà đã có từ lâu rồi; tôi chưa cần nói nguồn gốc. Chúng đã thấm sâu trong óc não máu thịt của anh, và có thể coi như đó là máu thịt của anh, cũng được. Cái nhìn của anh về miền Bắc, về chế độ xã hội chủ nghĩa, về Đảng… đâu phải giản đơn là cái nhìn của một người lạc hậu, không có trình độ nhận thức, cũng không hẳn là vì bất mãn mà xuyên tạc, nói xấu. Đó là một cách nhìn có hệ thống, có quan điểm lập trường hẳn hoi; nói rõ ra đó là quan điểm, lập trường của giai cấp tư sản, mà đã là tư sản tức là phản động, chống cộng, chống cách mạng, chống nhân dân, chống Đảng. Thế thì… không lý mới có mấy ngày mà anh lại từ bỏ những quan điểm, lập trường đó một cách dễ dàng và thú nhận chúng sai lầm và phản động. Ở đây, chúng tôi không dọa nạt, không ép buộc anh một điều gì cả. Anh cũng không bị tra tấn hoặc hành hung. Nhưng tôi biết anh sợ, anh sợ (những người chung quanh nhìn nhau gật đầu) và anh thú nhận, dù đó là cực chẳng đã. Bởi vì những điều anh thú nhận là ngược với cái lý tưởng phản động mà anh tôn thờ. Anh đã nói ra được một phần tư tưởng và suy nghĩ phản động, sai lầm của mình, nhưng anh chưa nói hết và cũng còn thiếu thành thật. Ngay từ đầu chúng tôi muốn tự anh nói ra những việc mà từ ngày ra Bắc đến nay anh đã làm. Anh đã hoạt động như thế nào, có bao nhiêu cơ sở, gồm những ai? Và… ai, ai đã giao cho anh nhiệm vụ này. Nói rõ ra CIA hay bọn ngụy Sài Gòn? Không phải chúng tôi không biết nhưng chúng tôi muốn cứu anh, muốn cứu những con người như anh. Chúng tôi muốn anh được hưởng lượng khoan hồng của Đảng.

Nhưng anh vẫn không nói, anh giấu. Vô ích, điều đó chỉ làm cho anh lún sâu vào vũng bùn nhơ của tội lỗi. Đảng rất độ lượng và sẵn sàng khoan hồng, nhưng chỉ với những người biết ăn năng và hối cải, và, và… cũng phải trải qua một quá trình giáo dục và cải tạo.

Vậy động cơ tham gia cách mạng của anh là gì? Anh không thể che mắt được quần chúng. Tập thể K65 đã cho anh một bài học. Họ căm phẫn, nhưng rất sáng suốt. Anh đã chui vào tổ chức của cách mạng để phá hoại.’’

Mấy tiếng sau ông ta nói đều đều một giọng, dằn từng tiếng một, rồi ngừng, xoay người đổi thế ngồi, vắt một tay lên thành ghế:

“Anh phải nói rõ ra ở đây những hoạt động của anh từ ngày ra Bắc.’’

Tôi không tỏ vẻ gì là bực tức, cứ cái giọng điệu đó cứ rề rà kéo dài mãi tôi đã chán. Tôi hút một hơi thuốc trả lời:

“Tôi bị thương và đau dạ dày. Tôi được cho ra Bắc chữa bệnh, rồi vào lại chiến trường.’’

Ông giật cái tay để trên thành ghế, chồm người ra phía trước:

“Chúng tôi còn nhiều việc phải làm, không thể mất thì giờ với anh như thế này được nữa.’’

Im lặng một lúc. Một ông nói:

“Anh Đính ạ, chúng tôi đã đối xử với anh rất tử tế. Cho đến lúc này, anh cũng vẫn là một cán bộ B. Anh vẫn được hưởng đầy đủ tất cả mọi chế độ, tiêu chuẩn của cán bộ B. Anh là người miền Nam. Chúng tôi đây cũng là người miền Nam. Chúng tôi có thể dễ hiểu anh hơn và trong một mức độ nào đó cũng có thể nói là có thể thông cảm với anh. Chúng tôi muốn trường hợp của anh được giải quyết trong nội bộ của chúng ta.’’

Ông này nhìn tôi, rồi tiếp:

“Nhưng anh vẫn không biết điều.’’

Một ông khác:

“Tội của anh là tội ở tù. Nhưng chúng tôi vẫn chưa đưa anh ra pháp luật là vì thế.’’

Tôi nói:

“Tôi đã nói hết với các anh rồi. Tôi không còn gì để nói nữa. Những tư tưởng và suy nghĩ của tôi đã được tôi ghi lại, còn đó, tôi có giấu gì đâu. Có thể có nhiều điều tôi không viết ra trong bản kiểm điểm, bởi vì tôi không thể nhớ hết được.’’

Ông Lai nói:

“Tôi muốn biết điều mà anh không viết ra.’’

“Có nhiều điều tôi nghĩ tôi đã ghi lại. Nhưng làm sao tôi ghi lại hết những suy nghĩ của mình. Các anh nói thế tôi cũng chịu.’’

Ông Lai dằn giọng:

“Anh thừa biết là chúng tôi muốn anh nói ra cho chúng tôi biết những gì?’’

À, những người này muốn tôi nói thế này: tôi là CIA mà mạng lưới hoạt động của tôi ở miền Bắc là thế này này. Mà thôi, mệt quá, nói qua nói lại với những người này càng thêm căng đầu căng óc. Hơn nữa tôi cũng chẳng biết nói gì với họ nữa. Suốt những buổi như thế này họ nói nhiều hơn tôi. Tôi ngồi đó, nhiều khi lơ đãng nhìn lên mấy tấm hình cắt trong báo ảnh Liên Xô dán trên tường, chấm ngón tay vào những giọt nước đổ trên bàn vẻ những vòn tròn, những mặt người mặt thú. Cuộc hỏi cung cứ rề rà kiểu này làm tôi chán và mệt. Tôi không muốn nói gì nữa. Tôi cũng chẳng lo lắng gì nữa. Họ bắt tôi nhận những điều mà tôi không có. Tôi thư thả và không cảm thấy căng thẳng.

“Thôi tùy anh. Đã thế anh đừng có trách chúng tôi sau này. Ông Lai nói. Anh sẽ còn gặp chúng tôi. Bây giờ trước mắt anh ở tạm tại nhà khách của Cục một thời gian cái đã, chưa biết lâu hay mau, chờ trên quyết định. Có gì anh cứ gặp anh Thanh đây. Nếu anh Thanh đi vắng, anh gặp các anh ở Cục. Anh có thể ra phố, nhưng tuyệt đối không được gặp một người nào cả, không được nói với bất cứ với ai về chuyện của anh. Chắc anh phải ăn Tết ở đây rồi đó. Kể cũng buồn thật.’’

Họ còn xúm nhau nói với tôi nhiều điều, nhiều chuyện nữa. Tất nhiên họ chưa buông tha giả dớm tôi đâu. Cái tình trạng này vẫn còn kéo dài mãi, mỗi lúc mỗi khác, mỗi hoàn cảnh mỗi khác vẫn còn cho đến lúc tôi viết những dòng này. Khi thì trực tiếp chạm mặt bằng thường mục hoặc bằng áo mũ công an; khi thì cho người lẩn vào trong các cuộc gặp gỡ nói chuyện giữa bạn bè; khi thì đi ngang qua đường giả đò ngó vào nhà, hay đứng bên gốc ổi, gốc khế nhà bên cạnh ngó trời ngó đất chổng tai, liếc mắt đủ cách, đủ kiểu…

Tôi lại về nằm dài trong cái phòng to rộng một mình, gối tay lên đầu ngó mái nhà. Đọc sách cũng ít thích thú, hết ra sân nhìn trời nhìn đất, lại vào ngồi lên bực cửa. Rồi không có việc gì làm, một mình, tôi để ý hết tất cả các vật chung quanh: cái cán xen gãy một nửa, mấy tấm sắt làm trạc dắt đất vất bừa bãi ở một góc, những vôi vữa còn lại nước mưa chảy xoi thành núi sông ao hồ, những đống gạch vỡ, đường nước giọt dưới mái hiên… Nhiều khi tôi loanh quanh luẩn quẩn giữa những đống vật này, đẩy cái cán xẻng gãy lún sâu vào đống vữa, dũi chân vào đống cát, ném một viên gạch xuống hồ để nghe tiếng bọt nước sủi tăm…

Lạ thật, suốt thời gian ở đây tôi không nghe tiếng chó sủa, không thấy một con gà con vịt. Bây giờ mà có một con vật gì động đậy chạy qua đây chắc là vui lắm.

Còn người?

Người đi ngoài đường kia, tôi không quen, không biết. Họ thấy tôi cũng như tôi thấy họ, như mọi vật trước mắt có trong con mắt thì thấy. Người bước vào phòng này thì bao giờ họ cũng nhìn tôi không như nhìn một con người. Mắt, miệng họ bao giờ cũng xiên lệch.

Đêm như ngày, ngày như đêm, ở trong tối hay ra ngoài sáng, tôi chỉ có mình tôi, không có ai thân thiện, bạn bè. Rồi cũng như sau này, cả ngày thường khi không nói chuyện với ai, cứ như câm như điếc. Vây chung quanh là những bộ mặt nặng nề, khinh khỉnh.

Tết đến rồi. Ở các phòng làm việc của Cục đón tiếp cán bộ B người vô ra nhiều hơn. Họ đi từ phòng này sang phòng khác, kẻ chạy, người bước mau, vội vàng hấp tấp. Họ lo Tết. Họ chia hàng, nhận tiêu chuẩn. Mặt người nào người nấy cũng vui, cũng cười. Những bàn làm việc có ghế, có giấy tờ sổ sách, có cả thuốc lá, mứt kẹo, trà đường và thịt, nhưng không có người ngồi. Tôi ra phòng khám bệnh xin một ít thuốc dạ dày. Cửa phòng khám bệnh đóng một cánh. Cô y sĩ đang ở căng-tin, bận giúp những người khác phân phối hàng. Một người đang lúi húi nhận thịt nói với tôi:

“Anh vào nhận tiêu chuẩn đi.’’ Ông nói vói vào trong phòng:

“Anh Đính ở K65, cho anh nhận tiêu chuẩn Tết.’’

Những ngày tết những người thường ăn cơm ở đây đều đi phép. Các cô phục vụ nhà ăn là người Hà Nội nên ai cũng về nhà. Tôi chưa biết ăn ở đâu. Khoảng 29 Tết, ông Thanh bảo tôi:

“Những ngày Tết anh vẫn ăn cơm ở Cục. May có mấy ông không đi phép…’’

Ông nói tiếp:

“Anh nhớ là không được tiếp xúc với ai hết. Ra Tết các anh trên sẽ có hướng giải quyết cho anh. Anh đi đâu phải báo cáo cho đồng chí trực ở Cục biết.’’

Rồi ông hỏi tôi một câu hỏi mà ông ta đã hỏi tôi nhiều lần:

“Anh có bà con ở Hà Nội không?’’

“Không.’’

“Anh nhận tiêu chuẩn Tết rồi chứ?’’

Tôi gật đầu nói rồi.

Tôi cũng chẳng còn bụng dạ nào để nghĩ đến Tết với nhứt nữa. Đây là một cái Tết chán ngắt, mệt mỏi và buồn thảm nhất trong đời tôi. Hai mươi bảy, hai mươi tám Tết rồi. Trưa, chiều ra ngoài 11A ăn cơm. Tôi nằm dài, mưa lạnh, tối câm.

Những ngày Tết trong phòng ăn chỉ có một mình tôi. Những bữa ăn tẻ ngắt và lạnh. Ông gác cổng và một vài người khác đem cơm về ăn ở phòng riêng, cô phục vụ hỏi tôi:

“Tết chắc anh nhớ nhà lắm?’’

Tôi cười.

“Anh không có bà còn bạn bè ở Hà Nội à?’’

“Không chị ạ.’’

Chiều ba mươi, tôi mang gói chè Hồng Đào ra phòng trực uống nước với ông gác cổng. Tôi nói:

“Tôi thấy Hồng Đào dễ uống hơn Thanh Hương.’’ Tôi định mở gói chè, ông xua tay:

“Hồng Đào, Thanh Hương hay Thanh Tâm gì thì cũng một vị, thế thôi, thua Thái Nguyên hết. Tôi có chè Thái Nguyên đây.’’

Chúng tôi uống trà. Ông ta nói:

“Anh thấy không, thua Thái Nguyên hết. Chè này là của một người bạn tôi tự sao lấy và gửi cho tôi đấy. Hồi anh lấy ít ấm về uống cho vui.’’

“Tôi không có ấm chén và nước sôi. Thôi, để tôi ra đây uống với Bác cũng được.’’

Đêm giao thừa, tôi nằm hút thuốc, trăn qua trở lại. Tôi không nhớ là đêm đó tôi có nghe tiếng pháo hay không nữa.

Suốt mấy ngày Tết, tôi không thấy một đứa trẻ con.

Khoảng chiều này mồng 5 mồng 6 hay mồng 7, mồng 8 gì đó, ông Thanh đến gặp tôi ở nhà khách.

“Anh chuẩn bị sáng mai đi. Sáng mai, bảy giờ, anh mang đồ đạc ra ngoài văn phòng và lấy giấy tờ.’’

Tôi cũng chẳng hỏi đi đâu nữa.

Sáng mai, tôi xách va li và đồ đạc ra ngoài Cục. Ông Thanh đưa giấy tờ cho tôi và bảo:

“Tạm thời, chúng tôi đưa anh trở lại K65. Anh đến đó phải luôn luôn tỏ ra là một kẻ biết phục thiện, biết ăn năn hối cải. Thời gian ở K65 là thời gian thử thách cho anh đó. Anh chị em K65 đều biết rõ về anh, nên đó là một môi trường cải tạo tốt đối với anh. Còn sau này anh sẽ ra sao, điều đó hoàn toàn do anh và ý kiến của tập thể K65. Còn những việc khác, các anh ở K65 sẽ hướng dẫn. Chúng tôi sẽ gặp anh sau.’’


3.

Tôi trở lại K65 tức là trở lại cái thế giới ở đó tôi không được coi là con người. Gần giờ ăn trưa, tôi đến K65. Tôi để đồ đạc bên đường. Tôi cảm ơn anh tài xế. Anh ta cười và hút với tôi một điều thuốc, rồi đưa xe vào sân khu nhà A. Tôi cứ đứng bên đường, chưa biết mình đi đâu bây giờ. Người ta đã thấy tôi. Người trong các phòng nháo nhác ngó ra đường. Những cửa sổ trên lầu nhà A, dọc hành lang lầu nhà B đầu người, thân người ló ra, hai bên hai phía, tôi ở giữa. Nhiều người đã ra đứng ngoài hành lang, ngoài sân, nghiêng vai, ghé vào tai nhau. Sau này cô Mộng, một người bạn tuổi suýt soát với tôi, kể cho tôi biết: lúc anh mới lên, người ta xì xầm rất dữ, có người nhăn mặt, có người nhổ nước miếng:

‘‘Thằng Đính!’’

‘‘Sao lại đưa hắn về đây?’’

‘‘Tưởng đã đưa hắn đi cải tạo rồi chứ.’’

‘‘Hắn!’’

Ông Hà, người Quảng Ngãi khoảng trên 60 tuổi và ông bí thư chi bộ dãy nhà B1, cũng người Quảng Ngãi, tôi không nhớ tên, ra gặp tôi. Ông Hà nói:

‘‘Anh về lại tổ 3 ở phòng cũ.’’

Hai ông đi trước tôi theo sau. Tôi để bao sách vở và một vài thứ lặt vặt trước cửa phòng trực, rồi xách va li đi vào. Ông Hà chỉ cho cái giường sát ngay cửa ra vào:

‘‘Anh nằm đây!’’

Ông Hà quay sang ông bí thư chi bộ:

‘‘Thôi đi ăn cơm đã.’’

Rồi ông nói với tôi:

‘‘Ăn cơm xong chúng tôi sẽ làm việc với anh.’’

Mọi người trong phòng cầm đũa chén đi ăn cơm. Họ coi như không có tôi. Ông già Tuyến ở phòng trong ra sau cùng. Ông nói với tôi:

‘‘Đi ăn cơm mầy… mầy thiệt…’’

Tôi đã được cho biết là cơm trưa của tôi đã báo rồi.

Nhà ăn ồn ào. Tôi bước vào. Tiếng nói, tiếng cười bớt dần rồi im hẳn, chỉ còn tiếng bát đũa va nhau và tiếng chân ghế sắt kéo trên nền xi măng. Mọi người đều nhìn tôi. Người đứng dậy, người ngểnh cổ, người chỉ liếc qua rồi cứ cúi đầu ăn. Tôi ngó quanh, rồi tìm một bàn chưa có người, kéo ghế ngồi đợi. Mấy bà, mấy cô phục vụ đứng ở cuối nhà bếp chỉ chỏ tôi nói thì thầm. Tôi loáng thoáng nghe một vài tiếng nói nhỏ chung quanh. Những người đến sau tìm một bàn trống khác ngồi đợi. Tiếng ồn chung quanh bắt đầu, nhưng không xáo động như thường ngày. Một người cầm bát đũa đến bàn tôi, ông bí thư chi bộ khu B. Một người nữa đến, ông bí thư Đảng ủy. Còn thiếu một người nữa.

‘‘A, anh Phước, lại đây.’’

Ông Phước, người Bình Định, đau gan, đang đứng giữa phòng. Ông bí thư Đảng ủy vẫy tay:

‘‘Lại đây, lại đây anh Phước.’’

Tôi ăn rất ngon. Suốt bữa ăn các ông đó có nói chuyện qua lại. Tôi ngồi lại sau cùng. Ăn xong tôi đi rửa chén đũa. Một người đang rửa ở vòi nước thấy tôi bước đến, bỏ qua vòi khác ngay. Mặc kệ, tôi cúi xuống rửa. Đến thùng nước uống, cô Mộng đang hứng nước vào bát. Cô vừa rút bát ra, tôi đưa bát vào. Đợi bát tôi đầy nước cô Mộng tắt rô bi nê. Một vài người thấy tôi đứng uống nước, lảng ra đi chỗ khác hoặc sang thùng nước bên cạnh. Chị Hoài, người cùng quê Quảng Điền với tôi, đến lấy nước uống. Chị vừa hứng nước, vừa nhìn tôi cười. Rồi chị và cô Mộng cứ đứng bên thùng nước cho đến khi tôi uống xong mới về.

Bắt đầu từ đây, ở cái K65 này, tôi sống những ngày kinh khủng nhất trong đời mình. Không ai ăn thịt ăn cá chi tôi hết, nhưng quá dễ sợ.

Tôi vừa bước vào phòng, ông Hà vào bảo tôi:

‘‘Anh sang phòng Đảng ủy làm việc.’’

Nói xong ông ta bỏ đi ngay. Tôi cất bát đũa, đốt một điếu thuốc rồi đi. Vòng trong hành lang, tôi gặp thằng Nguyễn Viết Trác vừa mới đi ăn cơm về. Hắn nhăn mặt, khấp khểnh bước, giả đò lên cơn suyễn, nhìn tôi, rồi cúi đầu lê chân bước vào phòng [1] . Hình như khi nhìn tôi hắn có lắc lắc cái đầu thì phải. Tôi sang nhà A, và phòng ông bí thư Đảng ủy khối bệnh nhân [2] . Bên cái bàn đá mài kê sát cửa sổ ngó ra ngoài sân ba bốn ông đủ bộ sậu trong ban lãnh đạo Đảng và hội đồng bệnh nhân đã ngồi sẵn đó. Họ đang uống trà và cười nói. Còn một cái ghế, ông Hà kéo ngồi. Tôi không có chỗ, tôi ngồi lên giường. Trời tạnh, giữa trưa có hơi nắng, nhưng còn lạnh. Một ông trong họ đứng dậy chế nước vào ấm. Hình như cử chỉ đó thường là để chuẩn bị và ổn định đầu óc của những người chủ trì một buổi họp. Ông Hà, Chủ tịch Hội đồng bệnh nhân nói:

‘‘Báo cáo các đồng chí, anh Đính đã đến.’’

Quay sang tôi ông tiếp:

‘‘Hôm nay chúng tôi mời anh đến đây để Đảng ủy và hội đồng bệnh nhân làm việc.’’

Rồi ông giới thiệu từng người một, mặc dầu ông ta biết là tôi đã biết và quen mặt những người này từ lâu. Chỉ có ông Phước đau gan người Bình Định, làm bí thư chi bộ khu B1 thay ông bí thư người Quảng Ngãi sắp chuyển đi nơi khác.

Ông bí thư Đảng ủy, người Quảng Nam, khoảng trên 40 tuổi, mặt tròn, trắng, nói:

‘‘Ban Thống nhất Trung ương và Cục đón tiếp cán bộ B tạm thời đưa anh về đây và giao nhiệm vụ cho chúng tôi giáo dục và theo dõi anh. Đối với anh lúc này, ý kiến của tập thể K65 là hết sức quan trọng. Anh được hưởng mọi tiêu chuẩn như mọi người, nhưng ngoài nội quy và y lệnh anh còn phải thực hành những điều sau đây.’’

Ông ta nhìn vào cuốn sổ và nói tiếp:

‘‘Anh nên nhớ là giờ đây anh không phải như anh trước kia nữa. Anh phải nhớ những điều này. Ngoài việc đi ăn cơm, vệ sinh cá nhân trong phạm vi của K65 ra, đi đâu anh phải báo cáo với anh Hà, hoặc với tổ trưởng. Anh không được ra ngoài thị xã mà không xin phép. Ngay ở trong K có tổ chức chiếu bóng vào ban đêm, anh phải xin phép các anh đó mới được đi. Anh không được nói chuyện với bất cứ một người nào, kể cả cán bộ bệnh nhân hoặc với những người ở cùng phòng. Nói rõ ra là anh không được gợi ý gặp hay nói chuyện với bất cứ một người nào. Những người khác thì có quyền nói với anh, mà nếu có hỏi, có nói với anh thì anh mới trả lời, còn không thì thôi. Anh phải tỏ ra có lễ độ với mọi người. Không phải như trước đâu, nói gì anh cũng phải thưa dạ.’’

Ông ta hớp một hớp nước rồi tiếp:

‘‘Anh không được tham dự bất cứ một cuộc họp hoặc sinh hoạt nào trong K. Nếu có một cuộc họp nào đó mà anh được cho phép dự, như sinh hoạt tổ chẳng hạn, anh chỉ được ngồi nghe, và cấm không được phát biểu.’’

Ông ta dừng lại hút thuốc. Ông phó bí thư Đảng ủy, Chủ tịch hội đồng bệnh nhân nói:

‘‘Tuyệt đối, tôi nhắc lại, tuyệt đối anh không được góp ý, phê bình bất cứ ai ở K65 này về bất cứ một việc gì.’’

Ông bí thư Đảng ủy tiếp:

‘‘Anh phải nhớ kỹ điều đó.’’

Ông ta nhìn tôi, rồi nói giọng to hơn.

‘‘Tuyệt đối anh không được nhờ bất cứ ai trong anh chị em cán bộ ở K65 làm một việc gì. Không được, tuyệt đối không được. Còn nếu ai trong anh chị em nhờ anh làm một việc gì, anh phải báo cáo cho chúng tôi biết; chúng tôi có đồng ý anh mới được làm. Còn điều này nữa, tuyệt đối anh không được gặp gỡ bất cứ một người nào, dù là bạn bè hay bà con ở nơi khác đến. Anh nghe chưa?’’

Một người khác góp ý:

‘‘Anh ăn nói với mọi người phải từ tốn, lễ phép. Tốt hơn hết, có ai nói với anh anh mới được nói.’’

Ông Chủ tịch hội đồng bệnh nhân nói:

‘‘Anh Đính ạ, anh là một người có trọng tội. Anh phải biết ăn năn hối cải. Những ngày anh ở đây là bước đầu chúng tôi đánh giá con người anh. Và việc đánh giá của chúng tôi sẽ có quan hệ đến tương lai của anh sau này. Và sau này, anh sẽ ra sao, đi đâu, làm gì là do các anh ở trên quyết định. Tạm thời trước mắt anh ở đây đã. Thế thôi các đồng chí nha.’’

Ông bí thư Đảng ủy nói:

‘‘Anh có ý kiến gì không?’’

‘‘Không.’’

‘‘Thế thôi các đồng chí. Thôi anh về đi.’’

Tôi ở căn phòng cũ, trước ở phòng trong, nay ở phòng ngoài. Dãy nhà B này có hình chữ U, phòng tôi ở tầng trệt sát phòng đấu góc khay. Giường của tôi kê ngay cửa ra vào thông với cửa hành lang ngó sang dãy nhà trệt bốn năm phòng cách một khoảng sân rộng. Một cái bàn xi măng đá rửa màu xám kê sẵn sát giường. Cái bàn này bây giờ với tôi chỉ để vali, tách chén, bát đũa. Lúc này tôi còn đọc, viết gì được nữa. Nhưng tôi mà đụng vào giấy bút, sách vở thì chỉ gây thêm cực khổ cho tôi. Người chung quanh thường dòm ngó tôi, từng cử chỉ, từng lời nói, từng bước đi. Đó không phải là nỗi khổ tâm của tôi mà là một sự kinh khủng của tôi: Không viết được, không đọc được. Dần dà về sau, tôi sang phòng đọc sách báo của K ngồi đọc, rồi mượn báo về phòng, lúc này tôi chỉ mượn báo mà không mượn sách. Ngồi ở phòng đọc sách tôi thấy mình thư thả, không bị ai dòm ngó. Nằm trong phòng người qua kẻ lại với những bộ mặt khinh khỉnh liếc trừng, tôi quá mệt. Tất cả báo chí tôi mượn về đều để trần ra giữa bàn, trên giường. Và người ta cũng biết đó đều là sách báo của Đảng và tôi mượn của K. Nhưng thường xuyên họ vẫn lò mò kiểm tra. Tôi chỉ đọc mà không ghi chép. Tôi tránh việc cầm cây bút trên tay và trước mặt là một quyển vở hay một xấp giấy trắng. Suốt thời gian này tôi không bao giờ khóa va li.

Không khí ở K65 quá căng thẳng với tôi. Tôi không đi chơi đâu được, không nói chuyện với ai. Căn phòng tôi ở cũng vẫn là những người cũ hình như có một hai người mới đến. Tất cả đều là Đảng viên. Trong số này có một anh chàng người Quảng Ngãi trên 40 tuổi, luôn luôn ăn diện, áo quần khi nào cũng thẳng nếp và đắt tiền [3] . Anh ta đang có ý định lấy vợ và ở luôn miền Bắc. Trước anh ta rất vui vẻ với tôi, nhưng bây giờ anh ta căm ghét tôi ra mặt, thậm chí anh ta còn nhổ nước bọt trước mặt tôi.

Không khi nào tôi đang đi mà có ai gọi tôi cả. Tôi có đó cũng như không. Người ta gọi tôi là “tên Đính”, “thằng Đính”. “Ê Đính, lại đây nói cái này”. Cũng có người gọi tôi bằng anh, nhưng lúc đó chỉ có tôi và người đó. Và người đó trước khi nói với tôi một điều gì đều ngó trước ngó sau, và bao giờ cũng chỉ một câu ngắn, đôi ba tiếng, rồi bỏ đi ngay, để nếu có ai thấy cũng chỉ xem như tình cờ người này đi ngang qua mặt tôi [4] .

Tôi vẫn giữ cách sinh hoạt bình thường hàng ngày của tôi. Buổi sáng, buổi trưa xách phích xuống nhà bếp lấy nước… Cũng may đó là những việc hằng ngày trước kia của tôi, không thì bây giờ người ta sẽ bảo tôi là cố phấn đấu để chuộc tội. Có điều là tôi không thức khuya được. Trước kia, tôi có sắm một cây đèn dầu hỏa. Sau chín mười giờ khi mọi người tắt điện đi ngủ, tôi thắp đèn dầu thức, đọc sách và viết.

Ở gác trên có một anh thanh niên người Quảng Ngãi lớn hơn tôi một hai tuổi, kỹ sư nông nghiệp thì phải, bị bệnh thần kinh. Anh ta hát rất hay, và thường ngồi trước hành lang đánh đàn hát to một mình. Một hôm đến giờ ăn cơm, tôi gặp anh ta cầm đũa bát từ trên gác đi xuống. Anh ta nói, vừa nói vừa cười hi hi:

‘‘Sớm quá, sớm quá, ông anh ơi! Ông làm sớm quá!’’

Anh ta cười hi hi. Anh ta không dự cuộc đấu tố tôi tại hội trường K65. Tôi chắc là anh ta không bị phê bình, dù anh ta là Đảng viên, vì người ta cho là anh ta bị thần kinh.

Lúc này tôi cũng chỉ có một mình. Tôi quanh quẩn với cái bóng của tôi, khi tôi theo nó, khi nó theo tôi; ban đêm trên vách, ban ngày trên đường. Ở đây không ai đối xử với tôi như một con người. Thà tôi bị đưa đi cải tạo lao động hoặc ở tù còn hơn. Dẫu sao ở đó những người chung quanh cùng một hoàn cảnh, dù có ganh ghét nhau, đâm chém nhau cũng còn xem nhau là con người. Còn ở đây, người ta đối xử với tôi một cách tệ hại. Người ta kinh tởm tôi, khinh bỉ tôi. Tôi như một tên hủi, một con chó ghẻ dại hôi hám mà hàng ngày người ta buộc phải chung đụng không thể tránh được. Vào một lối hẹp, hay ở một chỗ đông người, tất cả đều tránh không để cho quần áo họ vướng vào quần áo tôi, không để cho người họ đụng vào người tôi. Đến nhà ăn, những con mắt cứ ngó trừng tôi. Không ai chịu ngồi ăn với tôi. Nhiều lần, nhiều lần tôi nghĩ chắc trong người tôi có mùi cứt. Một bàn bốn phần ăn, mới chỉ có hai hoặc ba, còn thiếu một, hễ tôi kéo ghế ngồi vào là họ cầm bát đũa đứng dậy hầm hầm giận dữ bỏ đi. Cho nên túng thế nhiều khi mấy ông Đảng ủy, chi ủy buộc lòng phải ngồi với tôi. Nhưng bữa đó, họ ăn rất mau và bao giờ cũng ra khỏi bàn trước tôi. Có lần, tôi thấy một bàn ăn còn thiếu một người, tôi ngồi vào, lập tức ông Phước, Đảng ủy viên, người Bình Định, đứng dậy kéo theo một anh chàng thanh niên ngồi cạnh đi qua bàn khác ngay. Mặt ông ta có vẻ tức giận. Chàng thanh niên đó là con của ông ta, mới ra Bắc, đến thăm ông ta. Ông ta không muốn cho con mình ngồi ăn cùng bàn với một kẻ như tôi. Rất nhiều lần ngồi đợi lâu không có ai thèm đến ngồi, tôi nói với mấy bà, mấy cô nhà bếp chia cơm cho tôi ăn. Những người này đã biết tình cảnh của tôi, nên thường thấy thế họ đến và nói:

‘‘Để em chia cơm cho anh ăn.’’

Còn những người khác đến sau, gặp suất ăn cuối cùng không ngần ngại bưng những phần ăn còn lại sang bàn trống khác ngồi ăn. Còn tôi thì tôi ăn được, bao giờ cũng rất ngon và ăn nhiều.

Cô Mộng kể cho tôi nghe, nhiều lần đi lấy nước, có người cầm cái gáo đứng sau lưng tôi dứ dứ vào đầu tôi như muốn đánh. “Khi anh đi rồi em mới nói với họ là các anh làm cái gì thế. Muốn giết người ta thì cứ giết đi. Họ trợn em: Cô binh à? Em nói lại: Không binh gì hết. Các anh làm rứa tôi ngó không được. Các chi bộ ở đây hồi đó họp đều đề nghị tống cổ anh đi nơi khác cho khuất mắt. Nhưng mấy ông trên bảo cứ để anh ở đây là tốt nhất, để cho ở đây giáo dục và cải tạo anh. Mà em thấy, có giáo dục cải tạo gì đâu, họ chỉ hành hạ anh”.

Dần dần, nói thật, tôi cũng thấy quen đi cái không khí như thế. Một ngày, hai ngày, một tuần, hai tuần, một tháng hai ba tháng, một hai năm, không quen đi, không thấy như thường cũng không được.

Hơn một tháng tôi không đi ra khỏi chỗ tôi nằm, loanh quanh luẩn quẩn ăn rồi nằm, rồi ngồi, chỉ có tôi với cái bóng của mình. Rồi tôi phải đi hớt tóc, mua một vài thứ lặt vặt ngoài thị xã. Tôi xin họ, họ cho đi. Và mỗi lần như thế, bao giờ cũng có người lẽo đẽo xa gần bên tôi. Và rồi buổi chiều, cũng buồn, tôi xin đi chơi. Tôi lang thang khắp thị xã Sơn Tây, đi vòng quanh hồ, ngồi bên hồ hút thuốc, một mình không có ai nói chuyện, không có ai chơi. Rồi ghé vào mậu dịch ăn uống, ngồi ngoài lan can trên hồ uống một cốc cà phê ngó cây cối lao xao trên cù lao trước mặt. Rồi lững thững đi về, chế nước uống, rồi nằm, nghĩ vẫn vơ. Những lúc đó đầu óc tôi lùng bùng.

Những lúc đó tôi muốn viết.

Nhiều buổi chiều ăn cơm xong, tôi ngồi một mình trong phòng ngó qua cửa hành lang. Dãy nhà trệt bên kia che mất không thấy trời. Cô Mộng hay một chị nào đó đi qua liếc trước sau dúi vào góc bàn khuất sau bức tường một gói giấy, rồi ra cửa hành lang xuống dãy nhà trệt. Tôi biết đó là một vài gói thuốc hút, một cân đường hay một gói trà….

Tôi chán, tôi mệt mỏi. Tôi không còn muốn gì nữa. Tôi không còn cố gắng nghĩ xem rồi người ta sẽ làm gì tôi. Tôi không cần đề phòng gì hết. Tôi bị hành hạ và đọa đày. Họ muốn làm nhục tôi, muốn cho tôi hiểu rằng họ đã đối xử với tôi không phải như đối xử với một con người. Và tôi phải hiểu rằng họ có quyền làm như thế. Họ không coi tôi làm một tên tù, họ coi tôi là một con vật, một con chó, một con chó sống giữa một đám người không có chó để làm bạn và không sủa được [5] .

Tôi bị tách khỏi sinh hoạt của con người, được con người cực chẳng đã phải cho ăn, cho uống, cho ngủ, nhưng không được quanh quẩn đến gần con người và nói tiếng người với họ. Tôi là một tên địch. Tất cả những người trước vốn quen tôi hay nói chuyện, lui tới với tôi bây giờ đều tránh mặt tôi. Họ sợ liên lụy, họ sợ bị mất lập trường. Tôi sống lặng lẽ một thân, một mình. Rồi tôi cứ sống lang thang bằng trí nhớ của mình. Tôi ngồi im với tôi. Dãy nhà trước mặt bên kia hành lang đã che mất trời và cây cối ở xa. Suốt một hai giờ, ba bốn giờ, khi nằm khi ngồi, khi uống nước, khi hút thuốc, không có việc chi làm, không có ai nói chuyện. Người đi ra đi vào. Kệ họ. Hết sức thì họ giết mình là cùng. Cái thằng người Quảng Ngãi lúc đi qua chỗ tôi là nhổ nước miếng xun xoe mặc quần áo tốt, cột thêm cái radio bên hông để kiếm vợ, đang đứng giữa phòng xức nước hoa, soi mặt vào cái gương nhỏ. Ông già Giác ngồi xếp bàn trên giường ở trong góc hút thuốc. Tôi uống với ông một ly nước trà bồm ướp hương bưởi, rồi ra ngồi lại một mình. Ông Tuyến đi qua nói, không đi chơi hả mầy, Đính, kệ cha, đi cho đầu óc nó khỏe ra, ông cười, tôi dạ. Ông quay lại, mầy đau bao tử, hút thuốc ít đi. Căn phòng cứ vắng dần. Trời im và vẫn còn lạnh. Tôi không biết làm gì hết và cũng chẳng có việc gì để làm. Tôi nhai hai viên Ka-vét, rồi ngồi dựa đầu vào giường. Lúc này là lúc vắng và im lặng nhất. Chưa biết bao giờ mới hết chiến tranh. Ông già Giác cũng đi chơi rồi. Ở dãy nhà trước mặt có tiếng cười nói của con gái và con trai giỡn nhau. Tôi cứ hút thuốc ngó lơ đãng ra phía trước, đầu óc trống không. Có hơn 5 giờ chiều. Và tôi bỗng lặng người đi. Trên bức tường của hành lang có mấy chữ viết bằng gạch vụn, vụng về chữ lên chữ xuống, chữ to chữ nhỏ nghiêng ngả đậm lạt không đều:

Chú Đính ơi
Chú Đính

Tôi xúc động, tôi xúc động vô cùng. Tôi biết người viết rồi. Đó là một thằng bé bảy tám tuổi con của người y sĩ quê ở Thừa Thiên, nhà ở cách phòng tôi bảy tám mét bằng một khoảng sân rộng. Thằng bé không được bình thường. Học đến lớp ba, sau một trận đau nặng, nó mất trí và trở nên tàng tàng. Thằng bé là bạn duy nhất của tôi lúc này. Nó thường đến với tôi và chẳng có ai để ý, nói năng rầy rà hay phê bình gì về việc nó quan hệ với tôi hết.

Chú Đính ơi
Chú Đính

Tôi là thằng Đính, tên Đính, là nó, là hắn. Có ai gọi tôi bằng anh, bằng chú đâu. Chỉ có nó, một thằng bé bị thần kinh gọi tôi bằng chú. Thằng bé đến, có khi leo lên giường ngồi bỏ hai chân đu qua đu lại, không nói gì hết. Có khi nó ngồi xuống thềm nhà bày ra các thứ gạch đá, lá cây chơi một mình. Rồi nó nhìn tôi cười, nói những câu không có đầu không có đuôi. Nhiều khi nghe ba mẹ gọi, nó cũng không về. Tôi phải dắt nó về. Biết ý, tôi chỉ đưa nó đến cửa, rồi quay lại. Sau này tôi thấy dưới cửa sổ nhà nó cũng có mấy chữ viết bằng gạch:

Chú Đính ơi
Chú Đính

© 2005 talawas


[1]Chỗ hắn ở cách chỗ tôi một bức tường ngay góc khay của tòa nhà.
[2]Sau này rất lâu, tôi mới biết là cái ông bí thư Đảng ủy này lúc về Từ Hồ học bổ túc văn hóa bị phát hiện là mang khai lý lịch và bị tước Đảng tịch.
[3]Chắc là anh ta phải ra ngoài thị xã nhờ người quen là áo quần. Thời buổi này mà mặc quần áo là cũng là một kỳ công.
[4]Ba bốn tháng sau tôi được phân công đi mua hàng tiêu chuẩn hàng tháng thuốc lá, sữa, đường… của tổ. Chỉ có lúc đó tôi mới tiếp xúc và nói qua nói lại tự nhiên với mọi người. “Anh còn thiếu tôi năm hào”, “bác còn thừa một đồng”, “căng tin bảo tháng này không có chè loại một”, “thuốc hút chưa có đủ, nên căng tin tạm ứng mỗi người năm bao”…
[5]Cho đến sau này năm 1988, có người trên báo Công An Bình Trị Thiên, khi phê bình bài thơ “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” của tôi vẫn còn gọi tôi là một con chó, con tô, con mực gì đó