trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 201 bài
  1 - 20 / 201 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
8.12.2005
Nguyễn Tài
Khúc khuỷu đường đời - Mười một năm liên tục đấu tranh để sự thật và lẽ phải được thừa nhận
(Hồi tưởng và suy nghĩ) 13 kì
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14 
 
X. Sự thật về bản Anh văn (Nghi vấn xung quanh một chuyện nghi vấn)

A. Theo Quyết định số 254 ngày 12/10/1977 của Ban Bí thư: “Đình chỉ công tác đối với đồng chí Nguyễn Tài, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, để kiểm điểm những vấn đề chưa rõ trong thời gian bị địch bắt giam giữ”.

Sau khi bị đột ngột đình chỉ công tác, tôi đã nhiều lần có thư yêu cầu Tiểu ban BVĐ cho biết những vấn đề gì “gọi là chưa rõ” cho tôi trả lời thẳng vào đó, để mau chóng kết thúc công việc.

Tuy thế, ngoài việc chỉ yêu cầu tôi viết lại “Bản kiểm điểm về toàn bộ thời gian bị địch bắt giam giữ” (mà tôi đã hoàn thành ngày 9/11/1977), thì do tôi nhiều lần thúc giục - mãi đến ngày 12/12/1977 - Tiểu ban BVĐ mới có công văn 149/BVĐ nêu 6 vấn đề gọi là chưa rõ của tôi, trong đó có 2 đoạn nêu việc như sau:

- “Chúng tôi cũng đã nghiên cứu các hồ sơ của đồng chí trong thời gian địch giam giữ mà ta đã lấy được sau ngày giải phóng Sài Gòn (các hồ sơ này, đồng chí đã tập hợp lại và có xem lúc còn ở Sài Gòn sau ngày giải phóng)” với ngụ ý là tôi đã được biết các hồ sơ có hại cho tôi và có thể tôi đã thủ tiêu chúng.

- “Ngoài ra còn một việc quan trọng đặc biệt khác nữa mà không thể không lưu ý được. Chúng tôi suy nghĩ rất nhiều về việc này, vậy xin báo thật với đồng chí là ta có phát hiện được bản tài liệu mật trong chiếc va ly của một người nước ngoài trong dịp sang Việt Nam, bản tài liệu ấy có liên quan đến đồng chí mà bọn CIA Mỹ đã toan tính trong thời gian chúng giam giữ đồng chí.

Rất mong đồng chí bình tĩnh khi được biết việc này. Đặt lợi ích của Đảng, của giai cấp lên trên sẽ giúp chúng ta vượt qua tất cả.

Mong đồng chí đủ nghị lực để chiến thắng”. Với ngụ ý nghi tôi đã nhận việc của CIA và kêu gọi tôi tự thú.

B. Phải thừa nhận, như kết luận 570 ngày 23/12/1988 của Ban Bí thư khoá VI rằng: Việc bản Anh văn (nói là lấy trong va ly người nước ngoài đến Việt Nam) đã là gốc đặt vấn đề chính trị đối với tôi từ 1976, và đình chỉ công tác tôi từ 28/10/1977 để thẩm tra.

Về việc này, Bộ Nội vụ đã có văn bản số 14/BC-BCS (D3) ngày 5/1/1981 kết luận, rằng “bản Anh văn đó là của Cục D3 Bộ Nội vụ; nói rằng của người nước ngoài là không đúng”. Vậy đến nay, tôi đã có điều kiện để kể lại diễn biến của vụ này một cách đỡ bí hiểm; như nó đã từng diễn ra từ năm từ 1976 đến 1981.

B1. Ban đầu nó chỉ là một việc làm rất đơn giản và bình thường trong cơ quan CA:

1. Tháng 6/1976, trong dịp tôi vào Sài Gòn họp hội nghị về tin học của Ngành, cán bộ Cục D3 ở Sài Gòn đã cho tôi làm kỷ niệm một bản photocopy tài liệu tìm được trong hồ sơ thu được của địch: phúc trình của ban U Phủ Đặc ủy TƯ tình báo Ngụy, nội dung nói về cuộc hỏi cung thất bại của tên Mỹ Paul Peter đối với tôi hồi tháng 4 và 5/1972. (Sau khi đã trao cho Thành ủy Sài Gòn một bản photocopy của tài liệu đó để gửi Tổ chức Đảng lưu hồ sơ về tôi; và vì bản này tôi nhận được ở Sài Gòn, nên khi trở về Hà Nội tôi đã gửi đến anh Hoàn một bản photocopy “để báo cáo”)

2. Về bài Anh văn:

a) Bản này của Cục D3 Bộ Nội vụ, họ có từ bao giờ tôi không rõ. Sau khi tôi đã làm việc với chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ đầu năm 1976, thì một lần - khoảng tháng 3/1976 - một cán bộ của Cục D3 chuyển đến cho tôi xem, xong tôi đã trả lại Cục đó để lui. Nó chỉ có 1 trang bằng chữ Anh đầu đề là “Future handling of senior NVN and VC cadre” (tạm dịch là: Cách đối đãi (hay cách giải quyết) trong tương lai với cán bộ cao cấp Bắc Việt và Việt Cộng).

b) Nhân gặp đồng chí Mười Hương tháng 6/1976 để trao bản photocopy phúc trình của ban U nói trên, tôi đã kể chuyện có bản Anh văn này. Thì đồng chí Mười Hương yêu cầu tôi gửi cho Thành ủy Sài Gòn một bản.

Khi trở về Hà Nội, giữa tháng 7/1976 tôi yêu cầu Cục D3 làm giúp photocopy bản Anh văn: một bản tôi lưu làm kỷ niệm; một bản tôi gửi cho anh Mười Hương, Thường trực Thành ủy Sài Gòn để chuyển đến Ban Tổ chức Đảng. Ở mặt sau của bản photocopy gửi Thành ủy, tự tay tôi có viết một số nhận xét đánh giá tài liệu đó. Tôi không gửi đến anh Hoàn nữa; vì coi là Cục D3 đã có trách nhiệm báo cáo rồi).

B2. Sự rắc rối bắt đầu từ chỗ:

Cùng khoảng thời gian giữa 6/1976, Cục E4 Bộ Nội vụ đưa một số tài liệu trinh sát đến Cục G3 để chụp ảnh.

Không rõ vì sao Cục E4 lại nhận được của Cục G3 trả lại - trong cùng tập ảnh chụp tài liệu trinh sát của Cục E4 - 1 tấm ảnh chụp bản Anh văn (giống hệt bản mà tôi đã chỉ yêu cầu photocopy).

Anh Lê Tẩu - cán bộ của Cục E4 - thấy bản Anh văn có tên tôi, bèn dịch ra tiếng Việt và dịch sai nghĩa từ handling là “sử dụng”. Liền đem báo cáo anh Lê Quốc Thân; tiếp đó anh Thân cũng mang ngay đi báo cáo anh Lê Đức Thọ. Anh Lê Tẩu hồi đó có khoe với một số cán bộ khác cùng trong Cục E4 rằng “phen này mình được công to”.

Từ đó, đã dẫn đến việc tôi bị gạch tên trong danh sách của TƯ giới thiệu về Hải Hưng (quê tôi) ứng cử đại biểu Đại hội IV hồi cuối 1976.

Và đến 10/1977 thì nó trở thành căn cứ gốc nghi vấn tôi là CIA, dẫn đến việc cấp tốc đình chỉ công tác tôi để thẩm tra.

C. Cuộc đấu tranh làm rõ sự thật về chuyện bản Anh văn đã phải trải qua gần 5 năm, và qua những bước đi như sau:

Nay xin chép lại theo tuần tự thời gian những dòng nhật ký của tôi qua các giai đoạn để có thể đối chiếu và thấy sự khác biệt về quan điểm và phương pháp tư duy (và cả trình độ nghề nghiệp) giữa tôi và của các đồng chí có trách nhiệm Bảo vệ Đảng hồi đó (các anh Lê Đức Thọ và Hai Văn) và những người khác trong cuộc.

Sự khác biệt này đã là trở ngại chính làm cho cuộc thẩm tra bị kéo dài (không đáng có), làm chậm việc kết luận đúng đắn, để kết thúc thẩm tra (lẽ ra có thể rất sớm).

C1. Với cách chất vấn theo kiểu “đánh đố” như ở công văn 149/BVĐ; tình cờ tôi đề cập đúng đến bản Anh văn:

1. Ngày 13/12/1977, khi gặp đồng chí Thành Vụ Bảo vệ Đảng (sau sẽ viết tắt là BVĐ), để nhận công văn 149/BVĐ, tôi đọc một lượt để biết sơ qua nội dung; và ngay lúc đó tôi đã có nhận xét sơ bộ bằng công văn 149/BVĐ dựa vào căn cứ không đúng sự thật, chẳng hạn vấn đề nói: “Tôi tự tập hợp hồ sơ của tôi”.

Và với thái độ ngay thẳng, để trả lời rằng tôi không hề tự tập hợp hồ sơ về tôi; tôi đề cập đến việc đã được đọc bản phúc trình của ban U và bản tài liệu chữ Anh này - và lưu ý đồng chí Thành về từ “handling of” trong bản tài liệu chữ Anh; theo tôi biết thì từ đó trong Anh ngữ có 2 nghĩa, với “đồ vật” thì là “sử dụng”, với con người thì là “cách đối đãi”, nếu dịch là “cách sử dụng người” thì sẽ sai hẳn nghĩa.

Ngay khi đó (12/1977) với nhận thức thông thường về chứng cứ dùng để buộc tội bất cứ ai, tôi đã chính thức yêu cầu cho giám định pháp lý việc này trước khi dùng nó để đặt vấn đề chính trị đối với tôi.

(Sau này khi mọi việc đã sáng tỏ, anh thành kể: “Hôm đó khi nghe Anh (là tôi, Tài) tình cờ đề cập bản Anh văn, tôi (anh Thành) thấy “như lửa đốt trong người”, vì đúng là Tiểu ban BVĐ dùng tài liệu này làm căn cứ gốc nghi vấn Anh về chính trị và đề nghị đình chỉ công tác Anh. Nên liền báo cáo ngay cho anh Lê Đức Thọ và phải bay ngay vào Sài Gòn để xác minh ở Thành ủy Sài Gòn; kết quả thấy có đúng như Anh trình bày”).

Tuy nhiên sự kiện bản Anh văn này đã không bao giờ được kiểm tra giám định pháp lý một cách nghiêm túc (cho đến ngày vụ việc được phơi ra ánh sáng); mà còn bị Tiểu ban BVĐ coi là một vấn đề hiện nay ta không có điều kiện làm rõ; đến nỗi trong kết luận số 908 ngày 18/8/1979 của Ban Bí thư - khi chấm dứt đình chỉ công tác tôi - vãn phải treo lại, coi như một vấn đề chưa rõ của tôi - để tiếp tục thẩm tra lâu dài.

2. Tôi cũng đã trình bầy sự thật mà tôi biết về bản Anh văn như trên: trong bản Báo cáo đề ngày 15/12/1977: Trả lời công văn 149 ngày 12/12/1977 của Tiểu ban BVĐ, và trong Thư số 02/VT/D77 đề ngày 11/1/1978: gửi Tiểu ban BVĐ, đồng gửi: Ban Bí thư, Đồng chí Lê Đức Thọ, Đồng chí Trần Quốc Hoàn. Lưu: BCSĐ/BNV.

- Tôi hy vọng là đến buổi làm việc đầu tiên để Tiểu ban BVĐ trực tiếp chất vấn tôi, thì đã có kết quả cụ thể của việc kiểm tra phương pháp công tác mà đã dẫn đến sự kiện, cũng như đã có biên bản giám định pháp lý đối với sự kiện này. Bởi vì những việc đó có thể giúp ích để đánh giá ngay từ bước đầu bản chất của sự kiện.

C2. Việc tìm được bản Anh văn của tôi gửi Thành ủy Sài Gòn đã chứng tỏ sự minh bạch của tôi.

Anh Thành nói đã tìm thấy được tờ photocopy bản Anh văn do tôi gửi đến Thường vụ Thành ủy Sài Gòn. Căn cứ vào những chú thích do tôi viết tay ở mặt sau của bản đó - mà kích thước bằng tờ pơluya - anh Thành nói “đã xác định được xuất xứ của bản phoytocopy này là của Cục D3 và trường hợp nó được gửi đến Thường vụ Thành ủy Sài Gòn đúng như tôi đã báo cáo trong văn bản 11/1/1978 của tôi”.

C3. Đã mau chóng được thừa nhận rằng hồi 1976 có việc dịch sai nghĩa nội dung bản Anh văn.

Khi gặp lại tôi để làm việc, anh Thành cho biết: Sau khi tìm được bản Anh văn ở Thành ủy Sài Gòn, đã cho người thạo tiếng Anh dịch lại đúng nghĩa là “giải quyết số cán bộ” mà trước đây có bị địch nhầm là “sử dụng”.

Tuy thế, trong Tiểu ban BVĐ có người bám lấy ý kiến: Vì nó được lấy trong số tài liệu của một gián điệp người nước ngoài nên vẫn coi đó là việcchưa rõ của tôi (không biết phân biệt yếu tố buộc tội và yếu tố ngoại phạm). Làm cho cuộc đấu tranh nội bộ đi đến làm rõ xuất xứ bản Anh văn đã phải kéo dài 5 năm, trước khi được phơi ra ánh sáng; trải qua nhiều giai đoạn quanh co, có lúc như bí hiểm.

C4. Ý kiến của anh Lê Đức Thọ về vụ bản Anh văn:

Trích bút ký cuộc gặp anh Lê Đức Thọ sáng 14/4/1978:

… “Chưa kết luận. Có nhiều vấn đề cần suy nghĩ và phải có nhiều thời gian mới kết luận được” (sự thật đã cho thấy: khi tổ chức có trách nhiệm đã không tiến hành xác minh trúng cách, mà chỉ đợi thời gian giúp trả lời, thì chẳng bao giờ có được kết luận được chính xác cả).

… Vấn đề thứ sáu là chuyện bản tài liệu trong va ly đoàn nước ngoài.

Anh Lê Đức Thọ cho biết: ta lấy được cùng nhiều tài liệu quan trọng khác, danh sách 4 người trong đó có tên tôi, do anh Trần Quốc Hoàn trực tiếp đưa cho anh (có lẽ đồng ý việc đó có thật - nhưng sau này khi việc đã lộ rõ, thì là anh Lê Quốc Thân đưa, chứ không phải do anh Trần Quốc Hoàn đưa).

Trước mặt anh Lê Đức Thọ, tôi hỏi ngay đồng chí Thành: Có phải bản tài liệu Anh văn mà tôi đã gửi đến Thành ủy Sài Gòn không? Và tôi đã có dịp nói với đồng chí Thành về việc dịch cho đúng danh từ “handling of” kẻo sai nghĩa không?

Thì đồng chí Thành trả lời “đúng”, và mở hồ sơ lấy bản tài liệu đó, nói là đã cho cán bộ Công an biết tiếng Anh, và đã dùng từ điển, để dịch lại là “giải quyết số cán bộ” mà trước đúng là có dịch nhầm là “sử dụng”.

Rồi anh Lê Đức Thọ còn cho tôi nhìn thấy ảnh chụp bản Anh văn.

Với tiền lệ đó, sau này anh Thành đã mấy lần cho tôi cùng nghiên cứu trên tập ảnh của Cục E4 - nói là tài liệu trinh sát thu được từ một đoàn nước ngoài. Qua sự nghiên cứu này, đã giúp tôi phát hiện và phân tích thêm nhiều điều vô lý của sự kiện.

Thực chất của bản tài liệu nói là phát hiện ở va ly đoàn nước ngoài.

1. Xác định tính chất và nội dung:

a. Dù được phát hiện bằng cách nào, thì đó cũng chỉ là một công văn loại giao dịch nội bộ của các cơ quan tình báo địch, bằng Anh văn soạn sau ngưng bắn đầu năm 1973, đề xuất việc trao trả 4 cán bộ ta theo danh sách tù binh dân sự (trong đó có tôi).

b. Do ban đầu bị dịch sai danh từ “handling of” làm cho đầu đề công văn đó trở thành “việc sử dụng” các cán bộ cao cấp Bắc Việt và Việt Cộng”. Và có thể hiểu được tại sao Tiểu ban BVĐ viết ở công văn 149 ngày 12/12/1977 gửi cho tôi - với cách đặt vấn đề nghi tôi là CIA; và kêu gọi tôi tự thú trước Đảng.

c. Nay được dịch đúng thì đầu đề của công văn chỉ là “giải quyết các cán bộ cao cấp Bắc Việt và Việt Cộng”.

Và nếu nó đã được dịch đúng ngay từ đầu thì rõ ràng các từ “liên quan”, “toan tính của CIA”, và sự kêu gọi tôi thú tội đều trở nên hoàn toàn vô nghĩa và không đúng chỗ. Và chắc hẳn Tiểu ban BVĐ đã không có thể có đoạn văn với ý tứ và lời lẽ như đã viết trong công văn 149/ BVĐ.

Sự vô lý của sự kiện phát hiện bản tài liệu trong va ly một người nước ngoài mà được coi như một tên gián điệp.

1. Tài liệu đó được “mang ra” khỏi Việt Nam ư?

a. Những điều xác định ở đoạn trên cho thấy nó chẳng phải là một tài liệu có ý nghĩa tình báo về tình hình Việt Nam sau ngày 30/4/1975 đến nỗi địch phải bỏ công thu thập để mang ra nước ngoài.

b. Cho rằng CIA muốn phi tang để bảo vệ cho tên đầu hàng chúng, thì tiêu hủy tài liệu là cách làm đơn giản nhất; việc gì chúng phải bỏ vào va ly để mang ra khỏi Việt Nam cho thêm khó khăn và dễ bị lộ? Lại cho rằng vì chúng muốn đảm bảo an toàn tuyệt đối thì nhiệm vụ quan trọng ấy hẳn phải giao cho một tay lão luyện và y đã không ngờ nghệch đến nỗi để tài liệu đó cùng các thư từ khác ở trong va ly, rồi bỏ lại khách sạn mà đi chơi xa” (!). Dù sao, phi tang bằng cách nào nhằm mục đích bảo vệ cơ sở đều tỏ ra vô lý, vì Cục D3 Bộ Nội vụ đã có bản tài liệu nội dung y hệt từ trước đó; cho nên bản tài liệu nằm ở va ly tên gián điệp người nước ngoài rõ ràng không phải là bản duy nhất, và chắc hẳn cũng không thể là bản gốc.

c. Nếu vẫn muốn tìm cách gán cho tôi sự “liên quan” đến hành động “mang ra” này, thì lý lẽ suy diễn cũng tỏ ra hoàn vô căn cứ, và vô nghĩa. Vì trong lúc bọn CIA cần “mang ra” tài liệu mật nhằm bảo vệ người của chúng (?), thì tại sao chính tôi lại đã gửi đến Đảng cũng chính văn bản đó, với nội dung có thể “tố giác” tôi? (khi bị dịch sai). Chưa kể là công tác trinh sát của ta ắt đã nói rõ các hoạt động của đoàn nước ngoài hồi đó ra sao rồi.

2. Tài liệu đó được “mang vào” Việt Nam ư?

a. Ít nhất nội dung bản tài liệu cũng cho ta thấy có một tên đã đầu hàng giặc (trong danh sách 4 người). Vậy CIA gửi tài liệu vào để “tố giác” người của chúng ư? Không đợi chúng làm việc ấy, thì từ trước đó, Cục D3 cũng đã có bản tài liệu y hệt (từ nội dung đến các chi tiết); và tôi đã gửi đến Đảng rồi. (Vì tôi quan niệm tài liệu đó là của cơ quan Bộ, nên chỉ gửi đến Thường vụ thành ủy Sài Gòn, mà không phải báo cáo và gửi anh Hoàn nữa).

b. Tại sao đoàn nước ngoài “mang vào”, đã đến Hà Nội và đã đi Sài Gòn rồi, mà tài liệu vẫn không được trao cho ai, vẫn còn giữ trong va ly để mang trở lại Hà Nội, và tạo cơ hội cho ta phát hiện khi họ sắp rời Việt Nam.

c. Nếu vẫn muốn gán cho tôi “liên quan” đến hành động “mang vào” này, thì việc kiểm tra đã cho thấy bản tài liệu mà tôi đã gửi Thường vụ Thành ủy Sài Gòn đúng là của Cục D3 cung cấp, mà Cục D3 thì đã có tài liệu ấy từ lâu, trước khi Cục E4 nói là phát hiện được ở đoàn nước ngoài tài liệu tương tự. Và việc tôi gửi tài liệu đó đến Thường vụ Thành ủy Sài Gòn là minh bạch, chính đáng. Riêng chi tiết đó đủ cho thấy rằng sự suy diễn về tôi không thể tồn tại.

3. Dù đến nay có thể chưa kết luận là tài liệu đó được mang vào hay mang ra khỏi Việt Nam, thì ta đều thấy rằng phương thức hoạt động quá thô kệch đến mức vô lý của tên gọi là gián điệp người nước ngoài rõ ràng trái ngược với ý nghĩa “quan trọng” của sự kiện này. Từ đó phải lập luận rằng: những sự vô lý, vô nghĩa nêu trên đây phản ánh dụng ý của bọn tình báo nước ngoài hoặc của phần tử xấu trong nội bộ. Và nếu đã có sự kiểm tra từ sớm về chế độ thủ tục công tác Công an đối với trường hợp phát hiện tài liệu này thì càng rõ thực chất của sự kiện. (Ngoài bản tài liệu đó thì trong va ly người nước ngoài còn có tài liệu tình báo nào khác nữa không? cách cất giấu các tài liệu có thể liệt vào loại tình báo thì cớ gì khác so với cách cất giấu các tài liệu không thuộc loại tình báo - mà cùng nằm trong va ly người nước ngoài đó không? Ảnh chụp ắt phải thể hiện thủ đoạn cất giấu tài liệu).

Thế mà ảnh chụp bản Anh văn của Cục E4 (nói là cùng vài bức thư khác nằm trong một phong bì thư loại gửi máy bay); trong khi các thư khác đều còn rỡ vết gấp - chứng tỏ chúng được gấp lại để bỏ vào trong phong bì, thì riêng bản Anh văn - nói là nằm cùng trong phong bì đó - các chữ đánh máy và chữ viết tay được chụp rất rõ; nhưng lại không thấy có vết hằn, nếp xếp ngang dọc gì cả(!)

4. Theo tôi hiểu một cách khách quan, thì mối nghi vấn phải đặt ở hướng khác, và người có trách nhiệm giải đáp đã không phải là tôi:

a. Hoặc đã có sơ hở trong công tác phản gián của ta, tuy bản tài liệu này không có ý nghĩa là một tài liệu tình báo.

b. Hoặc đang có âm mưu hành động địch muốn ly gián nội bộ ta.

c. Bởi các lẽ trên, nên cũng không loại trừ khả năng có phần tử xấu trong nội bộ đã gây chuyện này để gây rắc rối cho tôi, với mục đích này hay mục đích khác.

Đồng chí Lê Đức Thọ thừa nhận bản này chỉ nói việc trao trả 4 cán bộ ta trong đó có tên tôi, nhưng dù sao tài liệu đó lại ở trong va ly của đoàn nước ngoài là việc phải suy nghĩ; tôi trả lời “cũng nên đề phòng sự làm việc xô bồ, tài liệu thu được trong hồ sơ địch lúc giải phóng miền Nam, trót bỏ lầm vào đó rồi nay không dám nhận nữa. Anh Thọ nói: “Nếu vậy thì lại có thể hiểu dễ hơn”.

C5. Với việc đã dịch đúng nội dung bản Anh văn, tôi đã nhiều lần phát biểu và nhắc lại quan điểm của tôi.

1. Trong buổi làm việc ngày 14/4/1978 với anh Lê Đức Thọ, anh Thành đã thừa nhận trước đây có từ “handling of” bị dịch sai, nay đã dùng từ điển và cán bộ thạo Anh văn dịch lại cho đúng nghĩa.

Chưa cần nói xuất xứ của tài liệu đó ra sao, nhưng với nội dung như đã dịch đúng từ “handling of” thì rõ ràng không có cơ sở nào để nghi vấn tôi có vấn đề chính trị liên quan đến địch.

2. “Bởi đó là loại sự kiện hoàn toàn không thuộc hành vi tôi, và nội dung tài liệu chứng tỏ không liên quan gì đến lập trường và đạo đức của tôi; cho nên không có lý do gì mà coi đó là một vấn đề nghi tôi về chính trị liên quan đến CIA; cũng như không thể coi đó là một vấn đề chính trị chưa rõ mà tôi có trách nhiệm phải giải đáp”.

Bởi thế, và bởi tất cả những lẽ đã phân tích ở các đoạn trên; nên thực tế đã không có lý do gì để tiếp tục đặt sự kiện bản tài liệu nói là lấy ở va ly đoàn nước ngoài vào nội dung phải thẩm tra trường hợp của tôi (Việc tiếp tục điều tra những vấn đề tồn tại xung quanh sự kiện đó mà không dính dáng gì đến tôi là thuộc một lãnh vực khác biệt với công tác thẩm tra trường hợp của tôi).

Tôi cũng nhắc lại là: trong các báo cáo trả lời của tôi ngày 15/12/1977, ngày 5/1/1978 và 11/1/1978, rằng: tôi có yêu cầu Đảng cho lập Ủy ban để kiểm tra và giám định pháp lý sự kiện này - Tiếc rằng, mãi đến hôm 14/4/1978 được trực tiếp làm việc với anh Lê Đức Thọ thì theo chỉ thị của anh Lê Đức Thọ, có lẽ việc đó mới có thể được bắt đầu tiến hành...

Với tinh thần thận trọng, ngày 14/4/1978, anh Lê Đức Thọ có chỉ thị là: Tiểu ban BVĐ mời các cán bộ có liên quan đến việc phát hiện bản tài liệu đó để xác minh lại.

Tôi không rõ khi thi hành chỉ thị của anh Lê Đức Thọ ngày 14/4/1978 thì việc kiểm tra có được làm như tôi trình bầy hay không? có biên bản không? hay chỉ làm bằng miệng? Như anh Lê Đức Thọ đã nói - tôi cho rằng không thể làm việc kiểm tra này một cách đơn giản, xuê xoa được.

C6. Thế nhưng đến tháng 2/1979, anh Lê Quốc Thân vẫn trả lời rằng: qua kiểm tra lại, thì bản Anh văn đúng là tài liệu của đoàn nước ngoài. (Sau này anh Mười Hương nhận xét: Lẽ ra việc kiểm tra lại này phải giao cho người khác tiến hành chứ không thể để anh Lê Quốc Thân - là người ban đầu nêu vấn đề - được tiếp tục tự đứng ra kiểm tra lại).

Câu trả lời này của anh Lê Quốc Thân chỉ chứng tỏ, trước khi dùng nó để nghi vấn và đình chỉ công tác tôi, chưa hề có sự kiểm tra chu đáo, cẩn trọng nào cả.

Nay Tiểu ban BVĐ lại bám vào câu trả lời khẳng định này của anh Lê Quốc Thân để tiếp tục coi là vấn đề chưa rõ của tôi.

Cũng chứng tỏ:

- Tiểu ban BVĐ không hiểu thế nào là kiểm tra giám định pháp lý; dễ tin ở câu trả lời khẳng định của anh Lê Quốc Thân.

- Với tinh thần thất bại chủ nghĩa, Tiểu ban BVĐ luôn luôn coi đó là một vấn đề hiện nay ta không có điều kiện làm rõ; phải treo lại như đã ghi trong kết luận 908 của Ban Bí thư. (Sau này tôi được biết là anh Hai Văn có ký một báo cáo kết thúc thẩm tra và trả lại việc cho anh Lê Đức Thọ với những việc không thể kết luận được, phải treo lại; nên mới có việc anh Lê Đức Thọ trực tiếp gặp tôi - chứ không phải là Tiểu ban BVĐ làm việc với tôi như quy định trong QĐ 254 10/1977 của Ban Bí thư.

C9. Về kết luận số 908 QĐ-NS-TW ngày 18-8-1979 của Ban Bí thư:



2. Hiện nay đối với một số người trước đã bị địch bắt giam, trong đó có đồng chí Nguyễn Tài, Đảng chưa có điều kiện để làm rõ một vài điểm cần phải làm rõ trong tài liệu ta lấy được của địch, những điểm đó còn cần phải tiếp tục tìm hiểu tỏ thêm.

Tôi đã có thư khiếu nại ngày 1/9/1979: với lập luận rằng: trong điều kiện ta đã thắng lợi trọn vẹn - giải phóng hoàn toàn miền Nam - thì mọi việc đều có thể làm rõ. Vì thế anh Nguyễn Duy Trinh hoặc anh Lê Đức Thọ mới có ý kiến cho tiếp tục làm rõ về vụ bản Anh văn.

C8. Sau khi được thấy tận mắt ảnh chụp bản Anh văn, tôi đã phát hiện:

1. Ảnh chụp bản Anh văn của Cục E4 giống hệt bản photocopy của tôi đã gửi Thành ủy Sài Gòn;

2. Nói là được lấy ra từ một phong bì cùng nhiều thư khác, mà không thấy có vết gấp như các thư kia;

3. Vì thế tôi yêu cầu cần cho chụp thử nghiệm.

C9. Cục G3 phủ nhận việc họ giúp Cục D3 làm photocopy bản Anh văn của tôi gửi Thành ủy Sài Gòn.

Anh Mão, Trưởng phòng của Cục D3 cũng chối không biết gì về chuyện bản Anh văn.

C10. Kết quả cuộc chụp ảnh thử; làm tại Cục G3 ngày 10/5/1980:

Ngày 10/5/1980, tôi đã đến Cục G3 làm việc với Thứ trưởng Minh Tiến và cán bộ Cục G3. Diễn biến được ghi tại tóm tắt như sau:

1. Anh Trọng Bình (cán bộ Cục D3) báo cáo lại trường hợp tìm được tài liệu Anh văn ở nơi làm việc của tên trưởng khối đặc biệt Tổng nha Cảnh sát Ngụy cũ. Gồm một bản photocopy, có một bản dịch ra tiếng Việt. Đã gửi về Cục D3.

Anh Minh Tiến bổ sung kết quả đã xác minh ở tên trung uý Tài – ta đang giam - xác nhận về bản tài liệu Anh văn như anh Trọng Bình báo cáo. Tên trung uý Tài là người mà trên bản tài liệu Anh văn có những chữ viết tay, ghi là đã giao bản chánh cho y.

2. Tôi (Tài) cho biết khi được đưa đọc bản Anh văn lần đầu hồi tháng 3/1976 thì không thấy có bản dịch tiếng Việt. Bởi thế mới có việc nhờ anh Sành dịch hồi tháng 7/1976, vì tuy có biết Anh văn, nhưng tôi chưa thạo.

3. Anh Sành xác nhận hồi giữa năm 1976, có đến phòng làm việc của anh Tài, giúp dịch miệng bản tài liệu Anh văn, mà anh Tài nói là để gửi anh Mười Hương ở Thành ủy Sài Gòn.

Hồi tháng 7/1976, khi yêu cầu Cục D3 làm photocopy để gửi đi Thành ủy Sài Gòn, thì tôi (Tài) không thấy bản photocopy đã được đưa cho xem hồi tháng 3/1976. Mà chỉ nhận được 2 bản là photocơpy lại trên bản cũ: một bản tôi (Tài) chú thích gửi đi Sài Gòn, một bản giữ lưu như kỷ niệm của Cục D3 cho. Và kể vài chi tiết trong quá trình gửi đi.

Về khả năng Cục G3 đã làm photocơpy bản mà anh Tài đã gửi đi Thành ủy Sài Gòn:

1. Tháng 2/1979 anh Lê Quốc Thân nói đã kiểm tra lại, thì Cục G3 không có làm photocopy tài liệu này. Tháng 4/1979 anh Khiêm - Cục phó - cũng thông báo tương tự.

Ngày 10/5/1980, anh Tài yêu cầu cho thấy sổ ghi photocopy. Cô Trang và anh Khiêm trả lời: Không có sổ ghi làm photocopy; mà khi photocopy chỉ có phiếu yêu cầu; đến nay các phiếu yêu cầu photocopy của các Cục đều đã đốt hết, giống như việc đốt các phiếu yêu cầu chụp ảnh... Ý kiến này, về thực chất khác hẳn các thông báo khẳng định hồi 1979. Vậy đã chẳng có căn cứ gì để bác bỏ rằng Cục D3 đã có yêu cầu Cục G3 làm photocopy theo yêu cầu của anh Tài cả. Cần chú ý rằng: lời khẳng định của anh Thân và của anh Khiêm năm 1979 đã gây ấn tượng rất mạnh cho người nghe; thậm chí nghi ngờ ngay cả hành vi minh bạch của anh Tài.

2. Anh Bình, Trưởng phòng Cục G3 bổ sung: “Có trường hợp máy đang tiện hoạt động, việc gấp có Cục cho người đến yêu cầu photocopy và đợi lấy ngay, nên cũng có lúc châm chước về thủ tục giấy tờ. Trong trường hợp này, thì trong sổ giao ảnh đã in xong cho các Cục cũng không có ghi chép”.

3. Tại phòng đặt máy photocopy, trước mặt các người tham dự, anh Minh Tiến đã giao cô Trang làm thử một bản photocopy bằng giấy của Cục G3. Kết quả là máy này cho ra một bản mà dạng kỹ thuật photocopy cũng giống như mầu sắc chữ in ra, đặc điểm dấu vết để lại trên giấy cho thấy: tương tự bản photocopy mà anh Tài đã gửi đi Thành ủy Sài Gòn. Kết quả thử nghiệm này, tuy chưa là chính thức giám định nhưng cũng có ý nghĩa rất quan trọng: đối chiếu với sự khẳng định trước đây của Cục G3 rằng Cục này không làm photocơpy bản anh Tài gửi đi Sài Gòn. Và cũng cần nhắc lại rằng sự phủ nhận ấy của Cục G3 đã gây ấn tượng mạnh đến người nghe, có lẽ vì vậy mà mấy năm nay không ai thấy sự cần thiết thử nghiệm trên máy của Cục G3 để đối chiếu hiện vật.

Về khả năng nhầm lẫn, và nếu nhầm thì nhầm như thế nào?

1. Đến hiện trường nơi mở bóc thư. Không đi sâu vào kỹ thuật mở mà chỉ tìm hiểu về quy tắc làm việc.

Rõ ràng là: mỗi khi mở xong một thư để chụp ảnh, thì người mở thư có một phiếu (theo mẫu in sẵn) ghi chép số lượng thư có trong phong bì và những chi tiết cần thiết khác. Vậy thực tế là một loại biên bản.

Nếu những thư của đoàn nước ngoài, mà đến nay còn lưu được các phiếu đó thì không cần mất thì giờ xác minh; nhưng anh Bình Trưởng phòng cho biết đã không được chỉ thị lưu, cho nên sau mấy tháng thấy không cần lưu thì đã đốt.

Trước mặt anh Minh Tiến, anh Tài đã nhận xét về trách nhiệm và cách làm việc của anh Thân hồi tháng 7/1976: “một việc coi là quan trọng đến mức ấy, đã có chỉ thị cho các bộ phận bảo quản tài liệu tuyệt mật, mà đã không hề kiểm tra những điểm mấu chốt về bằng cứ, vừa đảm bảo nguyên tắc Đảng, vừa đảm bảo pháp chế”.

2. Tại thực địa, anh Khiêm thừa nhận máy photocopy và máy chụp ảnh đều đặt chung một phòng.

Đây là điều khác hẳn với báo cáo lên Ban Bí thư, cũng như thông báo của anh Khiêm, cho anh Tài hồi tháng 4/1979. Trước đây khẳng định 2 máy ở 2 phòng khác nhau; không có khả năng nhầm lẫn.

3. Tại phòng chụp ảnh, trước các anh cùng dự, cô Trang đã thử đưa vào máy chụp một bức thư.

Sau đó, anh Tài yêu cầu cho lấy một tờ giấy loại vẫn làm photocopy, xếp tư lại, và cho đưa vào máy. Trước đây anh Thân và Cục G3 báo cáo là kỹ thuật chụp ảnh hiện đại, kính áp sát, không còn vết gấp. Nhưng trước mắt mọi người, chiều 10/5/1980, bản thử do anh Tài đưa, thì sau khi kính đã áp xuống, mắt thường vẫn trong rõ vết chữ thập; như vậy chắc chắn sự thể hiện trong phim sẽ nổi rõ vết gấp.

Anh Tài đã nhắc lại đề nghị cho thử nghiệm, trong điều kiện làm việc bình thường; một phong bì gồm 2 thư pơluya và một tờ photocopy. Sự thử nghiệm này sẽ giúp đánh giá sự nhận xét thống nhất của anh Thành BVĐ và anh Tài khi nghiên cứu các tấm ảnh lưu ở Tiểu ban BVĐ rằng: ảnh chụp bản Anh văn đã không có dấu vết giống 2 thư chữ nước ngoài nói là cùng chung 1 phong bì; hơn nữa không có dấu vết gấp, mà chỉ phẳng trơn như ảnh chiếc phong bì.

Đáng tiếc là từ lâu đã không có sự thử nghiệm đúng nguyên tắc giám định pháp lý, và đối chiếu với các tấm ảnh đã có.

4. Năm 1979, cô Trang báo cáo là khi chụp ảnh có ghi chép.

Ngày 10/5/1980, anh Tài yêu cầu cho xem sổ ghi chép đó.

Thì anh Khiêm và cô Trang trả lời không có sổ đó (sau này mới lòi ra là họ đã trả lời dối trá). Mà chỉ có ghi trên phiếu, mà phiếu thì đến nay đã đốt hết rồi.

Cô Trang còn bổ sung: Tuy vậy, trên sổ giao ảnh đã in xong cho các Cục, thì đều có ghi chú rõ số bắt đầu và số cuối của từng vụ. Như vậy là trước đây Cục G3 khẳng định mọi thứ đều có sổ sách chu đáo, nhưng thực tế đến nay, chung quy chỉ có một cuốn sổ duy nhất là sổ giao kết quả ảnh đã in xong. Mà tháng 4/1979 đã phát hiện trong sổ này, đoạn ghi việc giao ảnh và phim của đoàn nước ngoài cho Cục E4 thì ghi không trung thực và không chính xác.

Anh Tài yêu cầu đưa sổ đó ra để chứng minh lời cô Trang mới trả lời. Thì một sự ngạc nhiên rất lớn khác đã xẩy cho mọi người dự lúc đó: Ngày 16/7/1976, chỗ ghi giao “tài liệu đoàn nước ngoài gồm cả phim” thì đã chẳng có bất cứ một chữ số nào tỏ ra là số bắt đầu hay số cuối cùng của các kiểu ảnh chụp tài liệu đoàn nước ngoài. Trái lại thì trước dòng chữ đó, sau dòng chữ đó, thậm chí ở tất cả các trang khác của sổ đó - đúng như cô Trang vừa báo cáo - đều có ghi số bắt đầu và số cuối cùng của các kiểu ảnh, của từng vụ việc.

Bắt buộc ta phải nêu nhận xét hoặc câu hỏi thắc mắc: Mọi thứ phiếu chứng minh đều đã đốt. Cuốn sổ duy nhất trình ra, nội dung ghi đã được thừa nhận, thì không trung thực, không chính xác. Nay lại phát hiện đoạn sổ ghi không đúng như lời báo cáo, và hoàn toàn khác hẳn một cách độc đáo so với toàn sổ. Vậy lấy gì để khẳng định kiểu ảnh chụp bản Anh văn đã đúng là của đoàn nước ngoài? Bởi vì nó là kiểu ảnh cuối cùng. Và đoạn phim đã bị cắt rời với kiểu ảnh đó ở cuối, gây ấn tượng sâu sắc cho ai, đã xem nó mà không nắm được những tình tiết kể trên.

Đây là điều rất quan trọng không thể bỏ qua.

Vậy cần tìm hiểu lại - hồi đầu, cũng như hồi tháng 4/1978 - anh Thân, anh Hàm đã báo cáo với anh Thọ như thế nào, khẳng định như thế nào, mà gây định kiến rất sâu cho anh Thọ.

C11. Từ sau khi Bộ Nội vụ đồng ý cho kiểm tra lại vụ bản Anh văn:

1. Ngày 10/6/1980, tôi có thư gửi anh Sĩ Huynh và anh Trăng Cục D3 và anh Lương Cục D4.

a. Cục G3 đang bám lấy chỗ anh Mão không nhận chuyển tài liệu cho Trọng Bình ra Hà Nội, chưa tìm được ai đã đưa photocopy, thậm chí đang thất lạc bản photocopy gốc (mặc dù Sành đã xác nhận có dịch 7/1976. Và hiển nhiên đã có bản ở Thành ủy Sài Gòn).

b. Do đó đề nghị các anh Cục D3 giúp cho xúc tiến tìm như tôi đã có thư hôm trước.

c. Nay đề nghị Cục D3 và Cục D4 cho tìm sẵn trong hồ sơ công tác khoảng từ tháng 6, 7 và 8/1976 xem những tài liệu mà Cục G3 giúp photocopy cho hai Cục - để có tài liệu so sánh với loại photocopy trên máy Cục G3. Tôi được nghe nói tài liệu TG của Cục D4 có rất nhiều loại này. Nếu Cục D3 và Cục D4 có gửi sơ tán đi Sài Gòn thì yêu cầu các anh cũng chỉ thị cho anh em tìm. Nếu có thì gửi về Cục một tập hồ sơ để làm tài liệu mẫu.

2. Ngày 7/8/1980, tôi nhận được thư của anh Huynh, Cục trưởng D3 thông báo việc đã tìm được bản Anh văn của Cục D3.

Ngày 10/8/1980, anh Quyết cho tôi biết: “Hồi 1978 anh Mão, nguyên Trưởng phòng 4 - sau làm Cục phó D3 - phủ nhận không biết gì chuyện này, viết văn bản hẳn hoi. Năm 1980, anh ta ở Campuchia không về được, lại viết cam đoan như cũ”.

Ngày 8/8/1980, tôi gửi thư cho BCSĐ/BNV, chính thức báo tin đã biết là Cục D3 đã tìm được bản Anh văn, kèm một số ý kiến tôi bổ sung bản phát biểu ngày 31/7/1980; và đề nghị kết thúc.

Nghe nói tối 12/8/1980, trước mặt BCSĐ/BNV, Cục D3 đã đưa hồ sơ ra báo cáo, thì là hồ sơ thuộc Phòng anh Mão; ngoài bản Anh văn, còn có bản dịch chữ Việt của tụi Ngụy. Bản chú thích của tôi khi gửi Thành ủy Sài Gòn đã được cháu Việt - là cán bộ trong Phòng anh Mão chép “theo chỉ thị của đồng chí thứ trưởng Nguyễn Tài, lưu ở Cục D3”.

Còn bản gửi đi Sài Gòn thì anh Sành ghi là “trả thư ký anh Tài để gửi đi”. Cháu Việt báo cáo “chép đó là theo ý kiến của anh Mão”.

3. Ngày chủ nhật 10/8/1980 anh Quyết không hẹn trước, đến nhà. Anh ấy nói đại ý: Đã thấy bản Anh văn của Cục D3 (nhưng chưa biết mọi chi tiết), và cho là nội dung không có gì buộc, nay đã rõ như thế thì không còn gì đặt ra đối với sinh mệnh chính trị tôi nữa.

Nhưng anh Quyết cũng tỏ ra tin Cục G3 làm không sai. Nói là vẫn đang tìm ai đã photocopy, chưa thấy. Từ đó cho rằng bản chụp ảnh được là của người nước ngoài.

Tôi đã trả lời miệng những ý nêu ra rời rạc. Và ngày 11/8/1980 ghi thành hệ thống, bác bỏ lập luận của Cục G3: họ định chối không photocopy nghĩa là không có cơ hội để bị nhầm; họ thuyết phục anh Quyết rằng không nhầm, để mặc nhiên phải coi bản chụp ảnh được, đúng là của người nước ngoài. Bản gửi BCSĐ/BNV, tôi chỉ nêu tình hình thực tế. Ngoài ra, có gửi anh Trần Đông một thư riêng vạch thẳng mưu mô của Cục G3.

4. Cũng nghe nói, tối 12/8/1980, BCSĐ/BNV đã nghe các Cục liên quan báo cáo.

Anh Quyết đã nói ở cuộc họp về tôi giống như đã nói với tôi; nhất là sau khi nghe cụ thể tình hình ở Cục D3.

Về việc có nhầm hay không, thì tại chỗ, Cục G3 nêu một sự phát hiện mới: bản ảnh chụp rõ mọi chi tiết; còn bản của Cục D3 thì một số chữ viết tay bị mờ; như thế thì Cục G3 đã chụp trên một bản không phải của Cục D3. Trước sự nêu vấn đề như thế, BCSĐ/BNV đã có những phản ứng khác nhau, anh em D3 ngờ có sự bố trí gì khác. Nên có ý kiến là ghi lại để sẽ làm cụ thể với tôi (dường như để thuyết phục tôi tin rằng đó là tài liệu của người nước ngoài).

Ngày 14/8/1980, anh Dư ở Vụ Tổng hợp cho tôi biết có cuộc làm như trên, không nói sâu vào nội dung, nhưng có ý kiến sẽ làm với tôi sau ngày 21/8/1980. Tôi đã có thư cho anh Dư, nêu những ý kiến của tôi về thành phần làm, về những hiện vật cần mang đến. Anh Dư nói đã sao gửi các anh trong BCSĐ/BNV.

5. Ngày 18/8/1980, làm việc với anh Thành BVĐ.

Ngày 19/8/1980, gửi bản phân tích bản Anh văn là phim thứ 43, ngoài số tài liệu của người nước ngoài.

Ngày 20/8/1980, gửi thư việc Cục G3 vi phạm đối với bằng chứng. Tối 20/8/1980, anh Quyết điện thoại thanh minh việc đó; và đề cập sự so sánh giữa bản ảnh chụp với bản của Cục D3. Tôi trả lời miệng, và ngày 21/8/1980 làm thành văn bản chính thức về việc đó. Ngoài ra có điện thoại với anh Đông xung quanh việc này, yêu cầu làm với BCSĐ/BNV để kết thúc.

6. Thư ngày 21/6/1980: gửi anh Trần Quyết và anh Trần Đông BCSĐ/BNV và anh Thành Vụ BVĐ.

1. Việc chụp ảnh thử nghiệm trên máy của Cục G3:

- Ngay từ 1978, đã có sự phát hiện tấm ảnh chụp tài liệu Anh văn không thấy có vết gấp; vậy nói rằng nó được lấy ra từ trong một phong bì của tên gián điệp người nước ngoài là không có lý.

Sau 1978, Cục G3 trình bầy rằng kỹ thuật chụp ảnh hiện đại có thể làm mất hết vết.

Do đó có lời đề nghị cho chụp thử nghiệm; bởi kinh nghiệm thông thường thì không như Cục G3 nói: ảnh chụp phải có để lại vết gấp nếu quả thực hiện vật đã được gấp lại.

- Căn cứ yêu cầu của Vụ BVĐ, để có tài liệu chính thức lưu hồ sơ BVĐ về chuyện đó; anh Tiến đã đồng ý cho tổ chức chụp thử nghiệm một cách hợp thức, có anh Thành BVĐ dự, và tôi được chứng kiến. Đã hẹn làm ngày 1/6/1980, rồi lại hoãn vì lý do cô Tranh đau răng.

Cũng cần nhắc lại là trước đó:

- Nghe nói có một cuộc chụp thử trước anh Quyết, anh Trọng và anh Tiến, trên một tờ pơluya, thì nói là không có vết gấp; nhưng chưa thấy in thành ảnh để thông báo kết quả (làm cuối 4/1980).

- Nhưng cũng trước mặt anh Tiến, có tôi dự, cùng anh Khiêm, anh Bình, chụp thử trên một tờ giấy loại photocopy, thì mọi người tham dự đều không ai phủ nhận được là vết gấp còn thấy được bằng mắt thường. (ngày 10/5/1980).

- Ngày 21/6/1980, nhân gặp anh Tiến ở trường Đảng, anh Thành và tôi đều nhắc lại, và yêu cầu cho tiếp tục chụp thử nghiệm, như đã hẹn. Thì được anh Tiến trả lời: “Chưa xác định được bản Anh văn chụp ngày 12/7/1976 là thuộc loại giấy gì, nên chưa thể chụp thử nghiệm”.

Cả anh Thành và tôi đều ngạc nhiên về sự thay đổi ý kiến đó của anh Tiến.

Riêng tôi càng ngạc nhiên vì được anh Đông nhắn cho biết là các anh lãnh đạo Bộ Nội vụ đã họp nghe báo cáo, và đồng ý cho làm những việc như trên.

Chúng tôi cũng ngạc nhiên về sự mâu thuẫn ngay trong ý kiến của anh Tiến, khi anh Tiến nói thêm rằng: “cuộc chụp thử nghiệm cuối tháng 4/1980 trước anh Quyết, anh Trọng, và anh Tiến trên tờ pơluya là đáng tin cậy”(!) Tôi xin phép nêu câu hỏi: “Chính anh Tiến từ cuộc chụp thử nghiệm ngày 10/5/1980 không thể phủ nhận vết gấp còn rõ, vậy tại sao cuộc đó không được anh Tiến coi là đáng tin cậy”?

Đảng không cho phép đảng viên cộng sản chúng ta “lươn lẹo” như vậy.

Yêu cầu tổ chức chụp thử nghiệm đúng cách:

1. Tôi đề nghị cho tiếp tục việc chụp thử nghiệm như đã định.

Và để đảm bảo khách quan, tôi kiến nghị cụ thể như sau:

- Cuộc xác minh đã cho biết bản Anh văn gồm có: bản gốc có lẽ bằng một tờ pơluya (mỏng hoặc dầy 1 chút như thường dùng ở công sở Ngụy cũ); một hoặc nhiều bản photocopy mà chắc chắn là loại giấy chuyên dụng của Mỹ (căn cứ bản tôi đã được đọc, và anh Trọng Bình đã xác nhận).

- Vậy, nên tổ chức chụp thử nghiệm chính thức và hợp thức trên cả 2 loại giấy; nếu cần thì mỗi loại có thể dùng nhiều loại tương tự xê xích chút đỉnh.

- Kết quả chụp thử nghiệm một cách khách quan đối với từng loại giấy đều được ghi rõ ở biên bản: loại nào có vết gấp, loại nào không có vết gấp.

- Do đó, xin ấn định hạn chót cho việc chụp thử nghiệm. Vì cuộc làm như thế chỉ mất khoảng một giờ là cao nhất.

2. Để làm rõ chuyện bản tài liệu Anh văn, về phía tôi đã có đóng góp bằng những ý kiến phát biểu thành văn bản để chịu trách nhiệm về lời nói của tôi, và gần đây tôi đã gửi đến các anh một bản tổng hợp đối chiếu hai loại ý kiến, căn cứ những điều đã làm với tôi.

Tôi cũng đã có đề nghị Cục G3 nên làm thành văn ý kiến mình; và để phù hợp với cách làm việc trong Đảng, tôi xin được nhận một bản đó. Nhưng đến nay vẫn chưa có.

Trong khi đó, thỉnh thoảng tôi lại được hỏi, hoặc gián tiếp cho biết một số ý kiến, mà tôi cần phát biểu như sau:

- Lần này Bộ cho xem lại chuyện bản tài liệu Anh văn. Giới hạn đã rõ như vậy. Vì rằng các chuyện khác thì có cơ quan BVĐ đã làm; và vì nó đã được thanh toán; nên Trung ương không còn ghi ở kết luận.

Tôi xin miễn kể ra đây nhiều ý kiến khác, được nêu ra mà không dính gì đến chuyện bản tài liệu Anh văn cả.

Chỉ xin đề nghị là: Giới hạn đúng việc ta định làm để làm khẩn trương và dứt điểm.

Nguồn: Tài liệu chưa xuất bản, lưu hành dưới dạng samizdat. Bản điện tử do talawas thực hiện.