trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - / bài
  1 - / bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tủ sách talawas
Loạt bài: Sách xuất bản tại miền Nam trước 1975
 1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11   12   13   14   15   16   17   18   19   20   21   22   23   24   25   26   27   28   29   30   31   32   33   34   35   36   37   38   39   40   41   42   43   44   45   46   47   48   49   50   51   52   53   54   55   56   57   58   59   60   61   62   63   64   65   66   67   68   69   70   71   72   73   74   75   76   77   78   79   80   81   82   83   84   85   86   87   88   89   90   91   92   93   94   95 
28.12.2006
Đỗ Long Vân
Nguồn nước ẩn của Hồ Xuân Hương
 1   2   3 
 
Mới nghe cũng nghĩ rằng là thực
Sau nghĩ ra xem một tiếng bòm
(Hồ Xuân Hương)


1.

Tỷ dụ là Hồ Xuân Hương có và tất cả các tác phẩm năm cha và ba mẹ [1] người ta gán cho nàng đều của nàng thì, để bắt đầu, người ta có thể nói rằng mọi vật trong thơ nàng đều chảy nước. Quả mít chín cây cũng như những núi đá. Nước có thể nhiều. Khi thì nước tăn teo như sắp cạn. Ngần ấy nước tuy nhiên đều là nước ở trong ta. Có một dòng thông chảy giữa trong và ngoài sự vật. Lượng của nước tuỳ sự thông nhau ấy. Sự thông nhau càng lớn, nước càng to, cái vui của thi sĩ càng nhiều. Và giữa một vùng nước lộn trời thì cái vui ấy, tới cùng độ, được gọi là cực lạc:

Một vũng tang thương nước lộn trời.
Bể ải nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá?
Cực lạc là đây chín rõ mười!

Nước cực lạc ấy của nguồn ân và bể ái chứa chan, là nước rất nhiệm mầu. Khôn tát cạn và cũng như ái và ân nó ở lòng mọi vật trào ra. Hạnh phúc nó cho là của những tấm lòng son đầy và mở, khi, giữa ngoài và trong, ly gián không còn nữa, tất cả chiều sâu rào rạt lộ ra ngoài. Lẽ dĩ nhiên không phải nước nào cũng cho hạnh phúc. Có nước nhiệm mầu thì cũng có nước mỉa mai. Nó rơi lõm bõm. Nó vỗ tông tông. Ấy là nước hang nghĩa là nước rỗng của những hò đá rỗng. Khi thì nước chết. Trông nó như vẽ. Và nó trắng xoá và nó phẳng lặng tờ. Mặt phẳng kín ấy, tẻ nhạt và có mầu trắng bạc như vôi, là của một thế giới nghèo lòng đã như khoá trái. Nhưng nước nào thì nước và cả sự thiếu nước nữa cũng nhắc đến một chiều sâu. Và tất cả xảy ra như trong Hồ Xuân Hương mọi vật đều giữ một nguồn nước ẩn. Như tấm lòng son của cái bánh trôi là một kết-tinh-thể của đào nguyên.

Một tầng nước, một tầng thịt, và một tấm lòng son ở cuối. Thơ Hồ Xuân Hương mời người ta vào một thực-thể địa-tầng luận. Càng vào sâu thì thực thể càng đặc, càng chắc và càng nặng. Và tấm lòng son ấy chỉ là thực-thể ở mật độ tuyệt đối. Một khối nhỏ. Nhưng son của nó chẳng bao giờ thôi. Ở giữa lòng thực thể nó là cái nguồn không thể nào vơi của thực thể. Và nó có thì cái bánh trôi, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, mới vẫn còn là cái bánh trôi. Hay nói một cách khó nghe hơn thì căn bản của mọi vật ở lòng của chúng.

Mà đã có lòng thì chúng có vỏ. Sự phân biệt ấy có lạ gì! Thói thường coi vỏ là thứ bỏ đi và người ta vẫn nghĩ rằng chỉ những cái ở trong mới thật đáng kể. Chẳng hạn một tâm hồn đẹp có thể chuộc lại cả một đời khốn nạn, và người ta có thể làm như mọi người, xu thời, yên phận và gật đầu nhận tất cả những tàn bạo, những áp bức, những oan khổ của đời, miễn là ở trong người ta vẫn khác đời và, như người ta nói, mình lại biết mình là được. Có một cái lòng để sống như thế thật sướng biết mấy! Ấy là cách sống có lề, có lối, có gói và két ở băng của những người biết sống, một thì có gái để chơi, một thì vẫn giữ vợ ở nhà để trọng, để quý, để chiều và truyền cho đời sau gia tài và cái nòi biết sống của mình. Nhưng tiếc thay Hồ Xuân Hương không biết sống như thế! Lẽ dĩ nhiên thơ nàng cũng có sự đổi nhau giữa ngoài và trong. Ấy là thể và phần của tất cả những xuyên tạc. Sau những xuyên tạc ấy tuy nhiên, Hồ Xuân Hương tin là vẫn có, trường tồn, một cái nhân nguyên uỷ. Nhưng mộng của nàng là làm thế nào cho cái nhân ấy được giải phóng. Thơ nàng không là thơ của những cuộc đời đã tháo lui vào thế giới ở trong. Nàng không ca ngợi nội tâm, như người ta ca ngợi chữ trinh còn lại của Thuý Kiều, là cái két tự để dành của những tâm hồn chọn lọc. Mà nói đến nội tâm, trong thơ nàng, như một sự sống cũng không thể. Cái ở trong còn ở trong thì sống chỉ là sống tù, sống mượn, sống giả. Và Hồ Xuân Hương đòi người ta sống theo lòng mình nghĩa là sống tự do, sống mở và sống cho cũng như, để có cái biết thực trong thâm tình của mọi vật, nàng đòi người ta xé vỏ chúng. Thơ nàng không ngừng tố giác những xuyên tạc của ngoại thể và đạo lý của nàng không là cái đạo lý khôn ngoan của những người mượn cái tốt ở trong để minh oan cho cái xấu ở ngoài. Mà nàng cũng không so cái tốt ở ngoài và cái xấu ở trong để, một lần nữa, như tất cả mọi người, nguyền rủa những đồ rẻ cùi nhưng đẹp mã. Xấu và tốt, những thứ loại của cái đạo lý xã hội, đã mất nghĩa. Chỉ có một cái xấu. Là cái hoạ của những đời không thực, khi, trong và ngoài gián đoạn, người ta, chẳng biết lòng mình đâu và chỗ nào là lòng mọi vật, đành sống điêu trên một thế giới xa nguồn.


2.

Cái bánh trôi thì trái lại vẫn giữ tấm lòng son của nó. Mà nó không giấu, mà nó vẫn khoe, và thế nghĩa là, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, nó và lòng của nó vẫn là một. Hạnh phúc của nó là không có bí mật và được lội và nổichìm trong nước ngọt và nhiều. Chìm và nổi lẽ dĩ nhiên chỉ là những kiểu nói trái. Và ai cũng biết rằng cuộc trầm luân ấy của cái bánh trôi là một cuộc tắm mình giữa một dòng cực lạc mà ngay nó lại là nguồn.

Có một Hồ Xuân Hương trèo thì cũng có một Hồ Xuân Hương bơi. Nhưng trèo là đi ngược chiều đá nổi sóng mà bơi là để mình xuôi theo một dòng lành. Ấy là một chuyến thuỷ-du nhiệm-màu. Lâng-lâng êm-ái và rất nhẹ nhàng, không cần một cố gắng nào, tự nhiên người ta thấy mình ở giữa vùng cực lạc. Cực lạc không tìm cũng gặp. Tại nó chỉ là cực lạc của lòng mình. Mình lại trùng với mình. Nhưng mình trùng với mình ở giữa lòng thế giới. Tại thế giới đầy và giầu nên lòng người ta giầu và đầy. Và ngược lại thế giới đến người ta nhiều như chim đến vườn đào là tại như vườn đào lòng người ta nhiều và mở. Lòng người ta là ái thì lòng thế giới là ân. Người ta đã ngọt ngào thả mình xuống thì ngọt ngào thế giới đón và chở và mang. Thế giới và người ta là một cũng như bơi là sống một lòng với nước. Cái bánh trôi và nước quanh nó đồng tâm, và tấm lòng son ấy là cái nguồn chung của tất cả. Tất cả đều thông nhau, tất cả đề cùng một chất, và thịt cái bánh trôi, rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn, vẫn không ngớt nở làm thịt hoa. Nó nở trắngtròn.

Tròn là sung mãn. Là thận, là thuần và gọi vuốt ve cũng như mầu trắng ấy người ta biết của một xác thịt tự do nghĩa là ngọt và dẻo và rất nõn nà. Nhưng tròn cũng có nghĩa là chu toàn nữa. Thực thể tròn là thực thể không tan trong thực thể. Như cái bánh trôi chìm trong nước những vẫn giữ tấm lòng son và, chan hoà ở giữa lòng thế giới, người ta lại gặp lòng người ta thực hiện. Cái nguồn cực lạc, vẫn trào ra nhưng không thể cạn, cũng là cái nhân của một sự trường tồn. Vừa là lưu thuỷ nó vừa là kết tinh. Nó xoè khắp mênh mông và cả mênh mông lại trở về nó tụ hội. Nghĩa là có nó làm trung tâm, mênh mông là một mênh mông tròn. Hình tròn ấy không có vẽ một giới hạn, nhưng, giữa mênh mông và trung tâm của nó, nó là cái nhịp ba động – không ngừng chuyển trong ra ngoài và, cùng một lúc, ngược lại, chuyển ngoài vào trong - của cái phận tròn của cái bánh trôi ngay ở tấm lòng son của nó đã gặp cả mênh mông và, giữa mênh mông, vẫn giữ nguyên tấm lòng son của nó. Như một thống nhất điểm.

Ấy là một điểm mênh mông. Nhưng mênh mông không là chỗ người ta thất lạc nữa. Cả mênh mông có mặt trong một điểm. Mọi quãng cách đều mất. Cuộc đời không tìm mà gặp. Thì sống là biết, biết là ái ân, tự do và thực thể tương kết, người và vật đồng tâm mà vẫn giữ lòng riêng. Người ta vẫn là người ta, thế giới vẫn là thế giới, và cực lạc, như một cuộc tương biến giữa trung tâm điểm và mênh mông, giữ nguyên sự kín đáo ấy ngay trong sự chan hoà. Như tấm lòng son của cái bánh trôi, vừa là đá đang hoá nước vừa là nước đang hoá đá, là nơi tất cả, thả mình trong một cái nguồn chung, lại tự thu tròn một sự sung mãn riêng. Tất cả đều thuận nhau, tại tất cả đều cùng một gốc. Và có gốc thì tất cả đều thực. Tròn là tròn, trắng là trắng, son là son. Ấy là những chứ sáng và đầy và mịn và sâu. Và chúng cũng thuận nhau như những gì chúng gọi tên để gọi tên cho đúng trong một ngôn ngữ nhịp nhàng. Không những chúng vẽ ra những thể rất ngọt ngào mà sự ngọt ngào chúng cho người ta thấy còn là của một chất. Ngôn ngữ lên từ lòng thế giới, ở chỗ người ta và thế giới trùng nhau, để dẫn người ta vào thâm tình của thế giới. Hay nói đúng hơn thì tất cả thâm tình của thế giới đã sáng trên mặt chữ. Và trên mặt cuộc đời.

Hạnh phúc ấy tuy nhiên trong Hồ Xuân Hương chẳng mấy lần được gặp. Mà nó ở giai đoạn nào trong thơ nàng? Không ai biết? Nhưng có lẽ người ta đã biết rằng nó là cái nàng vẫn tin là có và vẫn chờ. Nàng chờ nó ở sự xuất hiện của cái lòng của mọi vật. Nhưng mọi vật chỉ cho người ta thấy cái vỏ của chúng. Lòng thế giới đóng nguồn nước ẩn, và thơ Hồ Xuân Hương chạy theo dấu của một đào nguyên đã lánh trần. Như nước của cái giếng thanh tân lẫn cuối một ngõ xa thăm thẳm.


3.

A! Cái giếng thanh tân mà Hồ Xuân Hương gọi là một cái giếng lạ lùng! Nàng vừa mong được thấy nó vừa ngạc nhiên trước một khám phá không ngờ. Ấy là sự không ngờ của những lần gặp đầu tiên. Và lẽ dĩ nhiên sự không ngờ ấy chỉ có một nửa. Không ngờ thì làm sao khám phá? Ít nhất thì Hồ Xuân Hương cũng đã ngờ rằng tất cả thế giới không có mặt ở cái trật tự ngoại tại của nó và có ngờ nghĩa là có đã sống cái trật tự ấy như sự thiếu một cái gì căn bản thì nàng mới tìm cách đi vào trong để khám phá rằng cái trật tự ấy chỉ là một cái vỏ và, sau nó, có sự ngọt ngào của một giếng mới, người ta đang chờ mà người ta không biết là người ta đang chờ, vẫn đang chờ người ta.

Giếng thì đẹp. Và nước trong. Nhưng nước trong giếng là nước đã vào khuôn. Cái dòng thông của nó không thông tuyệt đối. Mà người ta cũng chỉ là kẻ đứng trên bờ. Để ngó, để thèm. Thấy giếng thanh tân ai là chẳng? Nhưng lẻn trong sự thèm ấy có một phần e ngại:

Đố ai dám thả nạ rồng rồng?

Hoá ra sự cám dỗ của nước cũng là một thách đố. Như cái thú thung thăng lội giữa dòng là một thú cấm. Nước của cái giếng ấy không phải là nước chảy giữa đường, đại lượng, và ai cũng có thể đi vào. Nó của riêng và, như một tự hữu, người qua đường không có quyền xâm phạm. Mà chẳng ai có quyền. Nước thanh tân đâu có để người dùng. Chủ nhân nó cũng chỉ là người có trách nhiệm giữ nó thanh tân. Sự thanh tân của nó là của nước thiêng cũng như nó là nước thiêng của lòng đất. Vượt cái ngõ sâu thăm thẳm dẫn đến dòng nước thiêng cũng như nó là nước thiêng của lòng đất. Vượt cái ngõ sâu thăm thẳm dẫn đến dòng nước ấy vừa là vượt một tầng ly gián vừa là vượt một vòng giới nghiêm. Ấy là một sự gây hấn, một cuộc tấn công, một cử chỉ xâm đoạt. Khám phá của Hồ Xuân Hương có tất cả những tính cách của bạo động. Và nàng cũng khám phá rằng có tính bạo động thì người ta mới khám phá và thấy được lòng mọi vật. Khám phá nghĩa như là khám phá. Lòng mọi vật đang bị tù. Nó chờ được giải phóng. Và ở giữa nó và người ta vẫn chặn một cái vỏ xù xì.

Cái vỏ ấy có thể, như cái cửa ngõ chặn đường tới giếng chẳng hạn, là một trật tự do xã hội xếp đặt. Nhưng xã hội chỉ xếp đặt – và ấy là sự thiếu căn bản của tất cả những trật tự - một cái vỏ vốn có của mọi vật làm sẵn như để giữ mình. Mà để nói thật thì cái vỏ ấy ở đâu lại Hồ Xuân Hương cũng chẳng để ý. Quan trọng là nó có. Nó chặt đôi thực thể. Một nửa thì nó cấm ở ngoài. Và nó cầm ở trong một nửa. Trong là đề lao thì ngoài là ngục thất. Cuộc sống ở đằng nào cũng bị nhốt. Ngoài, quân tử dùng dằng đi chẳng rứt thì trong, một lạch đào nguyên suối chửa thông. Hai cảnh ngộ nhưng của cùng một sự bế tắc. Cái lòng của mọi vật đã khoá lại thì kẻ qua đường cũng quẩn lối về. Sự dùng dằng của cùng người quân tử là của một tự do đã mắc cạm. Ấy là cái cạm của ngoại thể. Như người “thiếu nữ ngủ ngày”, là cái máy dử người ta vào thế bí. Cách loã trang của nàng cám dỗ người ta lại. Nhưng người ta lại thì nàng lại trốn vào một giấc ngủ thờ ơ. Vừa thờ ơ cảnh cám dỗ. Cũng như thơ nàng, trong thơ Hồ Xuân Hương cảnh thường lưỡng ý. Ý cảnh ngược nhau như ý nào cũng chỉ có nửa chừng nghĩa là chưa có đã có cái ý khác chặn đường để, kết luận, người ta chẳng biết ý nào là thực. Nói một đằng cảnh chằng một nẻo. Vừa gọi người ta nó vừa đào tẩu. Sự ỡm ờ ấy làm cái điêu trác của ngoại thể. Nửa nạc nửa mỡ, nửa hở nửa kín, ngoại thể lừa người ta và người ta lạc trong một trò hú tim không thể giải quyết. Hay nói đúng hơn thì chỉ có một cách giải quyết cho cảnh úp mở ấy. Là sự tỉnh giấc của cái nguồn đang ngủ. Nhưng cái nguồn vẫn ngủ và người quân tử, không biết đâu mà lần, đi thì cũng dở, ở không xong. Những mâu thuẫn của ngoại thể chuyền tay nhau giữ hắn và giằng co. Hắn gỡ ra không nổi. Như một người sờ mít nhựa ra tay.

Cảnh nhầy nhụa ấy là một cảnh sa lầy nữa. Vẫn một cái hoạ của cuộc đời bị tống ra ngoài vỏ! Ngoài là chỗ tự do, chỉ tựu thành khi cùng lòng mọi vật tương kết, như còn chửa biết mình. Nó không dám tự xưng. Và nếu ngoại thể còn làm nó sa lầy thì cũng tại nó còn sa lầy ngay trong nó. Nhựa ra tay người ta tại người ta vẫn dùng dằng chưa quyết. Lẽ dĩ nhiên nhựa ở lòng quả mít ra. Của lòng mít và của lòng đất (nghĩa là của lòng thế giới như trong Hồ Xuân Hương, lòng của vật nào cũng là trung tâm của tất cả). Nhưng nước lòng ấy không trong và thoải mái. Mà đâu nó còn thật là nước? Nó là nhựa nghĩa là một thứ nước thiếu thật thà, nhầy nhụa và phản trắc đã lỡ mó vào là trở tay không kịp nữa. Như chính tay người ta đang chảy nhựa. Không cứng như đá trong một thể nhất định nhựa cũng không lỏng như nước sẵn sàng mượn nghìn thể khác nhau nghĩa là như một tự do tuyệt đối, ở thể nào cũng thuận và có sức chan hoà có thể cưới được cả mênh mông. Nó là một chất nhựa thành chất, nửa muốn chan hoà, nửa muốn keo lại, và dở dang như chính người quân tử, chẳng biết mình muốn gì, tự giam vào những cử chỉ thậm thụt, khả nghi và gian lận. Thì làm sao hắn giải phóng được gì? Khi ngay hắn còn chưa thể tự giải phóng! Và cảnh nhựa ra tay làm chứng cho một sự khó ở trong mọi vật cũng như ở lòng người. Nửa như muốn, nửa như không, người ta mân mó, ngó ngoáy, châm chọc. Những cử chỉ thậm thụt ấy như tìm cách đánh thức cái nguồn đang ngủ. Và đôi khi cái nguồn ấy cũng tự nhiên chợt tỉnh giấc. Quả mít chảy nhựa. Ong non ngứa nọc, Dê cỏn buồn sừng. Như cả một chiều sâu ngọ nguậy đang cố sức ngoi ra ngoài. Nhưng sức không đủ, vỏ không chịu vỡ và người ta chỉ có những thể nhỡ nhang. Của cỏ gà lún phún, của siêu hương lấp ló, của nước mó lam nham. Những tính tự vô phúc ấy chỉ nhắc lại, một lần nữa, sự vô phúc của vẫn một cảnh úp mở và ỡm ờ.

Ấy cũng là sự vô phúc của cảm giác. Không những cảm giác như một cái biết qua ngũ quan, nhốt người ta vào những mâu thuẫn của ngoại thể mà ngoại thể, như một cái xù xì và nhầy nhụa, chỉ cho người ta những cảm giác khốn nạn nhất. Mà thật thế. Sướng gì khi sờ thấy lún phún, nhòm thì thấy lấp ló, thì thấy lam nham. Ngần ấy cảm giác nhưng vẫn chỉ một cái biết ngắn, nghèo, nông và thiếu. Cái biết ngoài da ấy là một cái hoạ. Nhưng sự sung mãn của một vùng nước chan hoà vẫn chờ người ta ở giữa lòng thực thể. Và cái lòng ấy vẫn chờ được giải phóng. Hoá ra sự ỡm ờ của mọi vẫn chỉ là một cách gọi bạo động! Cũng như bao động là cách độc nhất để phá sự ỡm ờ của mọi vật và bắt chúng tự xưng. Con ốc nhồi chờ được bóc yếm. Quả mít chín chờ được cắm cọc. Tất cả đều chờ người ta xé vỏ chúng. Vừa là một giải phóng tri thức vừa là một cưỡng dâm.


4.

Nhưng không phải ngẫu nhiên mà trong Hồ Xuân Hương người ta gặp những thể bạo động ấy của nhục tình trong cuộc truy tầm cái biết thực. Thiên đường của cái biết thực, như một sự chan hoà trong lòng thực thể, có khác gì cực lạc của nhục tình, khi lòng thực thể chan hoà những người yêu? Ấy chỉ là những kiểu khác nhau của thực thể để đạt tới lòng mình. Nhưng để thành công chúng đòi làm nổ tung lên những gì đang chặt đôi thực thể. Và trong Hồ Xuân Hương có một cái thú của sự công phá. Núi của nàng đâm toạc chân mâydang tay và. Xoạc và toạc là những chữ nổ và xé, như cắm cọc và bóc yếm, nặng nghĩa của nhục tình. Nhưng có lẽ người ta đã biết rằng Hồ Xuân Hương không săn trong nhục tình những mồi ngon cho ngũ giác cũng như nghệ thuật tả cảnh của nàng, như người ta sẽ thấy, không tả nhưng để phá cảnh. Cảnh càng ngoạn mục thì nàng càng ngó mắt nhòm. Hẳn cái nhòm ấy không thể thưởng lãm. Nhòm là một cái nhìn soi móc và tọc mạch như, sốt ruột trước những gì trông thấy được, Hồ Xuân Hương muốn đâm thủng cái vỏ vui mắt ấy để, lột truồng mọi vật, trả lại cảnh nhục tính của nó. Không phải ngẫu nhiên mà cái cảnh cực-lạc-độc-nhất trong thơ nàng là một vũng tang thương! Có tang thương nghĩa là trời có long, đất có lở, thế giới có vỡ vỏ thì lòng thế giới mới ồ ra làm cho nước lộn trời. Sự sụp đổ của những trật tự, trong những cuộc đổi đời, là chừng ấy dịp may cho thực thể trở thành. Và Hồ Xuân Hương ghét những trật tự như nàng ghét những gì người ta gọi là ngoạn mục. Lòng người thi sĩ ấy tưng bừng reo như rào rạt nguồn thơ đúng lúc, thế giới chỉ còn là một vùng nước thuần nhất và mênh mông, nàng không có gì để ngắm và tả nữa cho đẹp mắt người đời. Mộng của nàng là một ngày hồng thủy và tất cả những công phá thơ nàng náo nức gọi là để cướp lại một sự êm ái không ngờ. Nghĩa là nàng không gọi chúng để làm đau xác thịt. Thú bạo động trong thơ nàng không là thú ác dâm. Nhưng của một sức mạnh tưng bừng, thủ tiêu tất cả những giới hạn. Cũng như khi sức mạnh ấy chưa thức dậy thì chỉ có một sự thụ động vừa giữ người quân tử dùng dằng vửa đóng cửa đào nguyên, từ giờ, sức mạnh ấy vừa ở lòng mọi vật vọt ra vừa ở ngoài xông vào, cũng chỉ có một. Ấy là sức mạnh của cả thực thể đang vùng lên để thực hiện. Núi chợt cao vút và theo cùng một nhịp, người ta thấy Hồ Xuân Hương ráng sức trèo.


5.

Trèo là một bước đi chinh phục. Sự dùng dằng xưa đã hết. Người ta mở cuộc tấn công và, ôm lấy núi, nhất quyết vật được quả núi cao để cướp cho bằng được cái lòng đất núi đang giữ. Nhưng một đằng khác thì có núi tại lòng đất đã nổi sóng. Và sự quật khởi ấy làm thông trời. Thông là sự vọt lên. Và liễu mềm, liễu rủ, liễu tuôn như một sự trào ra và người ta không ngạc nhiên thấy, trên những dòng lá xanh của liễu, có sương chảy đầm đìa. Như cả lòng đất, trước những nỗ lực để giải phóng nó, cũng nỗ lực vùng lên tiếp ứng. Và Hồ Xuân Hương, để tiếp ứng cho sự vùng lên ấy, lại càng nỗ lực trèo. Càng trèo thì, lạ thay! Núi lại càng cao. Núi này trèo chưa hết thì đã thấy núi khác đứng chờ. Hay nói đúng hơn thì vẫn một núi ấy. Khi người ta tưởng nó sắp thua thì nó đã chạy thoát và đúng trước mặt người ta trêu ngươi và riễu cợt để, cứ thế mãi, một đèo, một đèo, lại một đèo, không bao giờ người ta bắt được nó… Trò hú tim lại tiếp tục. Ai trèo thì cứ tha hồ trèo. Và có trèo đến mỏi gối, chồn chân, vẫn muốn trèo. Sự thoả mãn không thể có. Cái thèm vẫn không hết. Vẫn không hết khát, không gặp được nguồn cực lạc và, khoe sức là vẫn muốn trèo, Hồ Xuân Hương chỉ thú nhận một thất bại không cùng. Thoạt tiên thì người ta nghĩ rằng lòng đất vùng lên để trả lời sự tấn công của người ta. Nhưng sự vùng lên ấy đã chết đứng. Thông là gỗ. Núi là đá. Tất cả xảy ra như lòng đất đã mất và cái gì chờ người ta không phải là sự sung mãn trong thực thể nhưng là sự chóng mặt trước chân không. Như càng trèo thì ngưới ta càng thiếu chỗ đứng và không những người ta mất lòng đất mà cả mặt đất và tấ cả những gì người ta vẫn dựa vào để sống cũng như mất dần dưới gót chân người ta và rốt cuộc, sau khi đã vượt tất cà, hết chỗ bám, người ta thấy mình lửng giữa trời ở cuối một cảnh cheo leo.

Ấy là một cảnh đá tạc. Tạc cũng như đẽo là bạo động. Người ta lấy những khí giới bén để chém vào cảnh. Nhưng sự phá cảnh ấy chỉ tạc cảnh nghĩa là đổi cảnh ra những thể cứng, đặc và cằn. Cảnh đâm trơ ra như bị vạc mất vỏ. Nhưng cái lòng còn lại của nó chỉ là một mặt đá già không có tuổi. Thì còn đào nguyên nào nữa để chan hoà. Sự xuất hiện của cảnh đá tạc trong Hồ Xuân Hương có nghĩa là bạo động đã thua. Nhưng thua thì thua, cố níu lấy con! Hồ Xuân Hương chưa thoả. Nàng chưa tuyệt vọng. Nàng vẫn muốn trèo. Và trên đèo ba dội, thông và liễu và nhiều mầu khác nữa, át sự đe doạ của đá, làm người ta tưởng thế giới vẫn rồi rào. Nhưng đá vẫn có và, dưới ánh sặc sỡ, thế giới đã cứng lại. Thì sặc sỡ thế là điêu. Ai tuy nhiên thế sẽ bảo rằng thế là lần thứ nhất với Hồ Xuân Hương người ta thấy trong và ngoài chửi nhau! Múi mít dầy chửi cái vỏ xù xì của mít. Thì ngược lại giờ tảng đá xấu xí làm thất ước cả một vùng khoe sắc tới. Vẫn một mâu thuẫn ấy! Nhưng thế giới của Hồ Xuân Hương bị đảo lộn trong căn bản. Xưa nó tại nội thì giờ nó tại ngoại. Hình như tất cả chiều sâu của nó đã bị trục xuất lên mặt. Nhưng lên mặt rồi thì còn là chiều sâu nữa? Và người ta có một thế giới ngoài thì sặc sỡ nhưng trong đã cạn rồi. Hoá ra Hồ Xuân Hương ép được lòng thế giới xuất hiện để lại mất nó ngay. Nó đã hoá ra ngoại thể. Sự xuất hiện ấy của nó là một sa đoạ. Và thế giới tại ngoại của Hồ Xuân Hương không là thế giới trong nguyên tính của nó mà môt thế giới lại càng giả tạo, lại mất gốc trong thực thể, lại càng vô phúc, tại nó giam con người ta trong cái hoạ của cảm giác, lại càng tuyệt vọng, tại không còn nguồn cực lạc nào ước hẹn nữa trên đời. Kết luận là bạo động không trả cho Hồ Xuân Hương sự sung mãn nàng chờ. Nó làm cho thế giới thêm đốn. Xưa thì nguồn ẩn. Giờ thì nguồn tuyệt tăm. Cuộc sống thực hình như không thể nào có. Và đi tìm cuộc sống thực trong thâm tình của thế giới Hồ Xuân Hương khám phá ra rằng thế giới chỉ có để từ chối người ta. Sự ly gián giữa thế giới và người ta trở nên tuyệt đối. Người ta và thế giới trở nên đối nghịch nhau. Không đối nghịch nhau sao được khi người ta đã chọn bạo động để cướp lòng thế giới? Lòng thế giới có cướp được chăng nữa thì, xuất hiện trong cảnh đối nghịch ấy, xa trước mặt người ta, nó cũng không còn là cái lòng để người ta sống đẹp và chan hoà. Nó đã hoá ra ngoại thể. Và thế giới trở nên sặc sỡ để nghèo đi, ngay trong khi, gây cảnh đối nghịch nhau giữa người ta và thế giới, bạo động của ngưới ta làm thế giới cứng lại. Thế giới đã hoá đá. Thì lòng đá ở đâu? Nó đã bị lột truồng. Nhưng nó lại càng kín. Và nó nhốt người ta ra ngoài, cheo leo, trên một vực thẳm.

Vực không chỉ ở ngoài. Trong còn một vực nữa. Ấy là những khi đá nứt bầy ra một lỗ hỏm hòm hom. Những cái hang ấy dẫn người ta vào trong đá. Cái người ta vào tuy nhiên chỉ là một vùng vô ngạn tối om om. Ai biết đâu lòng đá chẳng ở giữa cái đêm mênh mông ấy! Và để tới trung tâm nhiệm màu của nó, có lẽ người ta phải tin ở đêm và, như một con thuyền vô trạo, thả mình cho đêm lôi đi khắp mênh mông. Có lẽ phải thất lạc trong mênh mông, người ta mới có thể gặp lòng đêm để, thu mênh mông vào một điểm, ở lòng đêm lại gặp lòng mình. Nhưng Hồ Xuân Hương không đi theo những cám dỗ của đêm. Ấy chỉ là đêm của đá. Và đá là thế giới khi người ta và thế giới đối nghịch nhau. Thì làm sao trong đêm của đá Hồ Xuân Hương có thể thả mình xuống chan hoà? Mà không thể chan hoà là vẫn bị tù trong cái biết khốn nạn của cảm giác. Người ta lại sờ, lại mó, lại nhòm. Sự mở lòng của đá, trước cái nhòm soi mói ấy, chỉ là một sự hớ hênh. Và cái lòng của đá người ta chỉ biết trong một cái nhòm là một cái lòng có cũng hơn không có. Nó không còn là nơi của cực lạc. Và người ta hiểu tại sao chưa vào trong đá Hồ Xuân Hương đã nhạo là trong đá chẳng có gì. Cái lỗ hỏm hòm hom ấy mới thấy đã kêu to là nó rỗng. Như cái cảnh tối om om mà nó dẫn người ta vào. Hoá ra bạo động làm thế giới hoá đá giờ cũng làm Hồ Xuân Hương, giữa lòng đá, chỉ thấy có chân không. Cái nguồn cực lạc thật đã mất tích. Và có giọt nước hữu tình nào rơi thì, trên một mặt nước tù và lạnh như đã hoá khoáng, nó cũng chỉ rơi lõm bõm. Như gió vỗ phập phồng trong những hốc đá. Những chữ tượng thanh ấy cũng như những chữ khác tương tự, lẽ dĩ nhiên Hồ Xuân Hương không chỉ dùng tại chúng khó có vần và lạ, nhưng để lấy chúng nhại cái chân không đang doạ nàng. Nàng nhại bóng tối, nàng chế chiều sâu, nàng cười lòng đá. Lòng đá bị nhạo báng. Nghĩa là nó hết thiêng. Và người ta khám phá rằng những bí mật của nó toàn là ảo tưởng. Nó chẳng giấu một nguồn nước nhiệm mầu nào và, ngoài đêm, người ta chỉ gặp một khoảng trống vô cùng. Thế là mộng đào nguyên vỡ và tiếng Hồ Xuân Hương cười riễu cợt xé tan giấc mộng ấy, lôi người ta về sự nông cạn của cuộc sống thường ngày. Quanh người ta, những vách đá lại trơ toen toẻn, lại mó lam nham; lại sờ rậm rạp. Như để nhắc người ta rằng trong đá ngưới ta vẫn ở ngoài đá. Sự ly gián giữa ngoài và trong không thể vượt. Và Hồ Xuân Hương đành chịu cấm cố ở ngoài. Nhưng nàng đã hết ảo tưởng. Và những mặt đá trụi của nàng vừa tố giác, trong sự khéo tạc cứng và khôi hài của nó, cái điêu trác của ngoại thể vừa làm chứng cho một thế giới đã toi nguồn.

Tuy nhiên người ta có thể nghe rằng đã trụi thì đá là một chất thật thà. Ấy là cái thật thà của một sự trơ ra đó. Và đá như chỉ tự xưng để khỏi phải trả lời. Khi nó trụi là khi nó kín. Khi nó đầy là khi nó đặc. Sự đặc ấy là nghịch hoạ của sự sung mãn. Vừa đặc đá vừa rỗng. Nó đặc tại nó không ngừng từ chối người ta. Nó trống tại người ta không thấy gì trong nó. Tất cả xảy ra như không có gì. Nhưng nó có. Và tịch mịch và trêu ngươi, nó tóm tắt, trong sự có mặt câm của nó, cái bí mật của cái của sự có mặt cuả thế giới. Hơn một lần người ta thấy Hồ Xuân Hương tra vấn đá! Mộng của nàng là giải quyết cái bí mật của đá trong một ngày nước lộn trời. Nhung nước nào có thể làm đá chảy đến những chân trời xa nhất để, trời và đá làm một, thạch liên thiên trong một vùng nước chan hoà, đá lại về quê hương cũ của mình? A!

Thiên thạch nguyên lai bản thậm huyền
Nhất triều thiên vũ thạch liên thiên [2]

Người ta kể rằng trong con người của những câu thơ ấy Hồ Xuân Hương đã thấy một tâm hồn tri kỷ. Giờ thì người ta hiểu tại sao. Nhưng thế giới đã cạn, đào nguyên đã mất, thì có đâm toạc chân mây cũng không làm sa một giọt nước! Và cái nhịp vùng lên ấy rốt cuộc, chỉ để rớt lại, đá mấy hòn trơ ra như tang chứng của một sa đoạ không thể vãn hồi. Nó không còn là đá ở lòng đất lên nữa. Người ta bảo nó ở khoảng trống trên trời xuống. Ấy là một cách khác để nói rằng nó ở chân không ra. Và thế giới chỉ là một câu hỏi đặc và không có trả lời.

Mà trả lời gì một tảng đá vô tri giác? Người ta không thể nào hiểu nó. Nó là sự có mặt rất bướng đầu. Nhưng sự có mặt ấy ở chân không ra chỉ là một chút chân không sa đoạ, một sự có mặt không có thực, một hiện thể không có nguyên nhân và tuy rất bướng, rất đặc, rất lầm lì, cũng không có hơn là một ảo ảnh. Cho nên đi tìm nguồn, tìm gốc, tìm rễ của nó người ta chỉ gặp những khoảng trống lớn. Hay nói tóm lại thì sự có mặt cũng chỉ có như một vực thẳm. Và vực kia là vực của chân không. Cheo leo giữa hai vực ấy tuy là cả hai chỉ là một con người trên thế giới là một kẻ sẽ đi qua. Nhưng ảo ảnh của thế giới sẽ còn mãi. Tại thế giới là đá và đá, cũng như thể tròn của cái bánh trôi chỉ là sự sung mãn của một chất, và một chất chỉ là thể. Nghĩa là làm gì nó người ta cũng chỉ có những thể. Càng làm thì thể càng khéo tạc. Mà càng khéo tạc thì thể càng điêu trác. A! khen ai đẽo đá tài xuyên tạc! Ai thì ai không cần biết. Chỉ biết rằng những thể của đá là của ai khác đẽo chứ không của đá tự nhiên thành. Và những tác động của người ta, lấy thể này thay thể khác, không thể nào chuyển được lòng thế giới và làm đá kkhông còn là đá. Thể chỉ là trò chơi mà đá nếu là ảo ảnh thì cũng là sự trường tồn. Lẽ dĩ nhiên đá sẵn sàng nhận tất cả những thể người ta khéo tạc cho nó. Nhưng thế lại càng tỏ rằng giữa đá và những thể người ta tạc cho nó không có một tương quan nào thiết yếu. Thể nào cũng điêu như thể nào. Cái khéo của thể ghẹo đá, nhưng đá thản nhiên ghẹo cái khéo ấy và tất cả những công-cốc của người.



[1]Sự kiện ấy tuy nhiên chẳng có gì đáng ngại. Người ta có thể quan niệm, như dân một xứ nào của nhà đại văn hào Á-căn-đình, J. Luis Borges, đã tưởng tượng, rằng tất cả những tác phẩm trên đời đều của cùng một tác giả. Và như thế thì lấy những sách thật khác nhau, như Đạo đức kinhHamlet chẳng hạn, để nghiên cứu tác giả chung của chúng là một chuyện không thật trái lý.
[2]Theo Ô. Thuần Phong (Hồ Xuân Hương Thi tập, tr. 6, Đoàn Văn x.b. Sài Gòn 1958) thì hai câu ấy của anh em Ông Phủ Vĩnh Tường làm, theo cái đề “Thạch liên thiên” Hồ Xuân Hương ra, khi họ đến cầu hôn. Lẽ dĩ nhiên ấy chỉ là một tục truyền. Nhưng tất cả xảy ra như người ta chỉ có những tục truyền giống người ta.
Nguồn: Nxb Trình Bầy. Ban chủ trương: Diễm Châu, Trịnh Viết Đức, Lê Văn Hảo, Nguyễn Ngọc Lan, Nguyễn Khắc Ngữ, Thế Nguyên, Trần Tuấn Nhậm, Nguyễn Văn Trung, Thảo Trường, Đỗ Long Vân. Thư từ và tác phẩm xin gửi cho: Ô. Thế Nguyên, 80/80 Trần Quang Diệu, Sài Gòn. Phát hành tại: Quán sách số 34 (Trước cửa Pharmacie Diệu Tâm), 117, Lê Lợi, Sài Gòn. In xong ngày 15-12-1966 tại nhà in riêng của Nxb Trình Bầy. Giấy phép xuất bản số: 3839/BTTCH/BC3/XB ngày 7-12-1966. Copyright by Đỗ Long Vân, 1966. Bản điện tử do talawas thực hiện.