10. O’Brien nói về cái chết của Chị Cả.
Trong khi Đảng Ngoại vi ăn mừng quyền tang lễ ở quán cà phê Cây dẻ thì những đơn vị đặc nhiệm của Cảnh sát Tư tưởng tiến hành bao vây tổng hành dinh của Chị Cả. Ban đầu chúng tôi cho rằng có thể không phải đổ máu - chiến dịch có tên là “Bình an – 85”. Đáng tiếc là bà già ấy đã kháng cự và sau đó định chạy trốn bằng cách nhảy khỏi cửa sổ tầng bốn. Các bác sĩ đã tìm mọi cách cấp cứu để sau này đưa bà ấy ra tòa nhưng mười lăm phút sau thì Chị Cả bị chết vì vết thương quá nặng.
Trong lúc đó cánh lãnh đạo ôn hòa của Đảng hạ lệnh cho bộ đội chiếm giữ các tòa nhà chính phủ. Chỉ có đài phát thanh kháng cự, nhân viên của đài này ủng hộ phái Nhôm. Bộ đội buộc lòng phải hạ sát tại chỗ 35 người và bắt giữ 150 người khác. Bộ đội làm chuyện này không được hoàn hảo lắm, Cảnh sát Tư tưởng chắc chắn khéo hơn nhiều. Nhưng kết quả là có thể đưa lên sóng phát thanh thông tin về sự kiện này, cũng như tiếp tục chương trình thể dục trên màn Ti vi.
Xác Chị Cả được hỏa thiêu vào sáng sớm, tro được thả xuống sông Thames. Không còn gì ngăn trở phái Mẩu chiếm lấy quyền lực nữa.
11. Julia. Cũng về chuyện đó.
Rượu Gin Chiến thắng chưa đã! Chúng tôi cảm thấy đây là một sự kiện đặc biệt, trong đời chỉ xảy ra có một lần mà thôi. Rời quán cà phê Cây dẻ, chúng tôi đi tới nhà Syme, trên tầng thượng chung cư Chiến thắng. Syme kiếm được trên thị trường chợ đen rượu Whisky Hongkong và kẹo chocolate sản xuất ở Brazzaville.
Để chào mừng, Syme treo hai bức tranh khổ lớn lên tường. Trên một bức tường là bản sao chân dung của Shakespeare được vẽ từ thế kỉ trước, bức tường kia là tờ quảng cáo hình một phụ nữ mặc tất nylon miệng phì phèo thuốc lá có từ những năm 50. Ba tháng trước thì chỉ cần mấy bức tranh này đủ bị bỏ tù rồi.
Có cả hoa nữa, tôi không hiểu Syme kiếm ở đâu ra những thứ này. Mấy bông hoa cẩm chướng đỏ rực là gây ấn tượng hơn cả. Ngay các kho bí mật nhất của Đảng Nội bộ cũng không có loại hoa này.
Chúng tôi cứ mường tượng lại mãi cuộc thảo luận vừa rồi, không ai tin được là chuyện đó có thể xảy ra. Chúng tôi nhắc đi nhắc lại những tư tưởng táo bạo một cách bất ngờ, chúng tôi chế diễu sự ngu xuẩn của kẻ thù và tỏ ra vô cùng thán phục sự khôn ngoan và thận trọng của chính mình.
Gần sáng tôi cùng Syme xuống phố để đi tản bộ. Đấy là thời khắc không thể quên đối với cả hai chúng tôi, dù sau đó một thời gian chúng tôi đã đoạn giao với nhau. Chúng tôi đứng, tay trong tay, trên bờ sông Thames. Phía đông xa xa, bình minh của một ngày xuân mới đang ló rạng. Dưới chân chúng tôi băng đang tan dần. (
Những người ủng hộ Phong trào cải cách ở Oceania thường ví vụ chuyển giao một phần quyền lực cho họ với “tan băng”. Tác giả cũng sử dụng khái niệm này, nhưng có vẻ như đây chỉ là một ẩn dụ vì theo các số liệu về thời tiết thì tháng 3 năm 1985 sông Thames vẫn còn một lớp tuyết rất dày - ghi chú của người chép sử)
12. Hai bản thông cáo.
- Chiều qua một nhóm những kẻ phản loạn do nữ tốc kí viên Patricia Talor cầm đầu (Patricia Talor nguyên là nữ tốc kí viên, sau này là thư kí và từ năm 1972 thì là vợ của Anh Cả - ghi chú của người chép sử) đã có những hành động nhằm cướp chính quyền. Cuộc đảo chính đã bị lực lượng an ninh khống chế. Những kẻ phản loạn đã bị đưa ra tòa án binh, bản án đã được thực hiện ngay tại chỗ. Hòa bình và trật tự đã được tái lập. Đã phát hiện được rằng nữ tốc kí viên Patricia Talor đã chui sâu vào nội bộ những người thân cận với Anh Cả và lừa dối mọi người rằng y thị là vợ và sau này là vợ góa của Lãnh tụ đã quá cố của chúng ta. Lợi dụng tình trạng sức khỏe của Anh Cả, y thị đã ra lệnh bắt và bỏ tù nhiều người lương thiện, trong đó có cả những đảng viên trung kiên. Bằng cách đó y thị đã gây ra cho ngành khai khóang, ngành ăn uống công cộng, ngành dệt và lĩnh vực nghệ thuật những thiệt hại nghiêm trọng. Y thị còn định liên kết cả với tên phản bội đầu sỏ là Emmanuel Goldstein nữa (Điều khẳng định này không phù hợp với thực tế vì Emmanuel Goldstein bị lưu đầy ở Eastasia và từ năm 1969 thì mất tích hẳn – ghi chú của người chép sử). May mắn là Lãnh tụ kính yêu của chúng ta đã sớm ra đi và điều đó đã ngăn chặn được kế hoạch mưu sát Anh Cả của y thị. Y thị đã đẩy Oceania vào những cuộc chiến tranh vô nghĩa và bằng những hành động phá hoại đầy tội lỗi của mình y thị đã gây ra những tổn thất nặng nề cho lực lượng phòng không của đất nước.
- Những nguyên tắc pháp lí mới:
- Người vô tội thì không thể bị khởi tố.
- Người không bị khởi tố là người vô tội. (Nguyên tắc này trái ngược hoàn toàn với cái gọi là Nguyên tắc an ninh đúp vẫn có hiệu lực cho đến lúc đó. Nguyên tắc an ninh đúp như sau: 1. Tất cả những kẻ có tội đều bị khởi tố. 2. Tất cả những kẻ bị khởi tố đều là có tội – ghi chú của người chép sử).
13. Vợ góa người tiều phu [1]
David Ampleforth
(
Bài thơ của David Ampleforth được đăng trong tờ PCV ngày 15 tháng 3 dưới tiêu đề “Góp phần bảo vệ thiên nhiên” – ghi chú của người chép sử)
Vợ góa tiều phu* bị kết án
Vì tội phá rừng**
Mụ tự rèn lấy búa***
Thằng chồng vô can sao?
Vợ góa tiều phu đã bị kết án
Đáng đời,
Ba cây sồi**** tốt nhất bị đốn rồi!
Thằng chồng không biết gì sao?
Vợ góa tiều phu bị kết án
Rừng ơi còn mọc được không
Cây non có nảy được không
Khi thằng chồng chưa bị kết án?
Vợ góa tiều phu bị kết án
Sự thật sẽ phục hồi
Sự thật tuyệt vời, sự thật vẹn nguyên
Tự do đời đời rừng Oceania của ta ơi!
(Ghi chú của người chép sử:
* Theo tiểu sử chính thức (London 1977) thì Anh Cả khi còn là tiều phu “đã liên lạc với phong trào cách mạng”.
** Ở Oceania chỉ được chặt cây cho mục đích quân sự.
*** Chơi chữ: “búa” tiếng lóng chỉ nhân viên cảnh sát mật, “rèn búa” ai nghĩa là vu khống với cảnh sát mật về người đó.
**** Ý nói Jones, Aaroson và Rutherford, ba nhà cách mạng lão thành bị xử tử hình sau những vụ án chính trị công khai)
14. O’Brien nói về tình hình chính trị sau khi Chị Cả chết.
Tôi có thể ví tình hình sau khi loại bỏ Chị Cả với một con dao hai lưỡi. Sau cuộc thảo luận về tang lễ, Cảnh sát Tư tưởng ngả theo hướng chấm dứt trò này đi và bắt Smith và các cộng sự. Nhưng kết quả của cuộc phản đảo chính, nghĩa là vụ âm mưu của chúng tôi, thì khắc hẳn với tính toán ban đầu. Phe Nhôm có yếu đi thật, nhưng cánh ôn hòa lại không dám làm đến cùng. Họ dọa các đồ đệ của Chị Cả hiện vẫn nằm trong ban lãnh đạo là sẽ công khai “con số”, ý nói số người đã bị thủ tiêu trong thời gian Anh Cả còn tại vị. Tại thời điểm đó thì đây có thể là việc nguy hiểm nhất. Kết quả là đã hình thành một sự cân bằng mới trong phân bố lực lượng: Phái Nhôm và phái Mẩu buộc lòng phải hợp tác với nhau, họ kiểm soát các bộ và quân đội, còn chúng tôi thì kiểm soát báo chí và lực lượng an ninh. Họ được bộ máy Đảng và tầng lớp sĩ quan ủng hộ, còn Cảnh sát Tư tưởng và Đảng Ngoại vi lại trung thành với chúng tôi. Thế là cảnh sát mật buộc lòng phải đứng ra làm người bảo vệ tự do tư tưởng. Dĩ nhiên là người của chúng tôi khó lòng chấp nhận chuyện đó, bất bình ngày một gia tăng.
Chúng tôi đã thực hiện một số biện pháp không cho Đảng sử dụng “con số” để chống lại chúng tôi. Trong tháng ba và tháng tư có năm trăm ngàn người được đưa ra khỏi nhà tù và trại cải tạo, sau đó lại thả thêm tám trăm ngàn nữa. Chúng tôi buộc họ phải kí cam đoan không tiết lộ mặc dù biết rằng chuyện này là bất khả thi. Họ được bảo cho biết rằng chính nhờ chúng tôi mà họ được tự do và tương lai của họ phụ thuộc vào quan hệ với chúng tôi. Họ đã làm tốt vai trò của mình: chỉ sau mấy tuần những lời đồn thổi không phải không có căn cứ về hệ thống trại tù đã lan ra khắp cả nước, Anh Cả càng ngày càng trở thành đề tài trung tâm của những câu chuyện hãi hùng đó.
Các nhà cách mạng tiền bối cũng bắt đầu xuất hiện. Trong số này có đồng chí Pollit, mặc dù đã 102 tuổi và phải ngồi tù hàng chục năm nhưng trông vẫn còn khỏe. Các vị tiền bối gửi kiến nghị cho lãnh đạo, đòi phải xét lại lịch sử Đảng ngay lập tức. Ngoài ra họ đòi phải công bố công khai (phù hợp với thực tế) là Anh Cả chỉ mới vào Đảng vào năm 1947 chứ không phải từ năm 1929 như vẫn nói lâu nay. Dĩ nhiên là họ muốn được đền bù về vật chất mà cụ thể là nhà ở và tiền hưu bổng. Lãnh đạo Đảng vì muốn ngăn chặn việc đào xới lại lịch sử nên đã quyết định đáp ứng các đòi hỏi vật chất của họ. Từ nay mỗi tháng các vị lão thành cách mạng được mua một lần thực phẩm trong các cửa hàng dành riêng cho Đảng Nội bộ. Hành động hào phóng này mang lại kết quả nhãn tiền: đa số các cụ không còn thắc mắc gì nữa. Các ông lớn trong Đảng Nội bộ đã hiểu rằng chống lại Cảnh sát Tư tưởng là việc làm thiếu khôn ngoan.
Nhưng các lãnh tụ phản loạn của Đảng Ngoại vi không còn kiểm soát được tình hình nữa. Ngựa đã xổng chuồng rồi.
15. Julia nói về các buổi hội họp trong Câu lạc bộ Thứ hai
Các độc giả trẻ thân mến! Một lần nữa xin các bạn chú ý bởi vì có nhiều khả năng là bạn chưa từng nghe nói đến những buổi chiều nổi tiếng trong Câu lạc bộ Thứ hai. Đối với tôi thì đây là trường học chính trị quan trọng nhất. Ngay cả giờ đây cứ mỗi lần tưởng tượng lại không khí những ngày ấy là nước mắt tôi lại trào ra.
Một tuần sau cái hôm thảo luận về tang lễ ấy, cũng là thứ hai, tôi cùng với Smith và Whiters ngồi trong quán cà phê Cây dẻ. Chúng tôi uống rượu Gin Chiến thắng, theo chỉ thị của chính phủ thì người ta đã cho thêm dầu hồi vào, chất lượng vì vậy có khá lên. Lúc đó quán đông lắm, đủ mọi loại người: họa sĩ, nhà văn, sinh viên, viên chức, đủ cả. Whiters, một người mập mạp, quảng giao, trước khi bị bắt vào năm 1983 từng là giám đốc một xí nghiệp của Đảng, vừa mới trình bày cho chúng tôi nghe lí thuyết kinh tế của anh.
“Thực phẩm ít không phải là vì chúng ta lười”, anh nói, “mà chúng ta lười là vì đói ăn”.
Càng ngày chúng tôi càng tập trung chú ý lắng nghe hơn đến nỗi không biết rằng đã có một đám đông vây quanh. Cuộc nói chuyện bỗng trở thành một buổi thuyết trình lúc nào không hay. Người ta đặt Whiters lên quầy bar để mọi người cùng nhìn thấy và nghe rõ. Kịp đến khi quán đóng cửa thì tất cả chúng tôi đều hiểu rằng có một cái gì đó hoàn toàn mới vừa ra đời và chúng tôi phải gặp lại nhau ở đúng chỗ này vào đúng giờ này thứ hai tuần sau. Câu lạc bộ Thứ hai ra đời như thế đấy.
Câu lạc bộ này là gì đối với chúng tôi? Là tất cả. Nó là phòng chính trị, là nơi phản tỉnh công cộng, là chỗ hẹn hò yêu đương, là nơi giới thiệu thời trang nữa. Tất nhiên những vấn đề được đem ra thảo luận, thí dụ như tình hình kinh tế hay vai trò của báo chí trong xã hội cũng thu hút nhiều người đến nghe. Nhưng nội việc có mặt ở đó cũng đã thú vị lắm rồi. Người ta tụ tập là vì đây là lần đầu tiên họ được thảo luận một cách tự nhiên, không bị gò bó. Có thể tranh luận, ngắt lời nhau, có thể đối đáp, cười cợt, mừng vui hoặc ngủ gật cũng không sao. Khiếm khuyết duy nhất là tất cả những người tham gia thảo luận đều có cùng quan điểm. Nhưng dù thế nào đi nữa thì tôi cũng chưa bao giờ được nghe nhiều ý kiến đặc sắc đến như thế!
Phải công nhận rằng những ngày đó để lại trong tôi không chỉ toàn niềm vui. Câu lạc bộ Thứ hai đã góp phần bào mòn tình cảm gắn bó giữa tôi và Smith. Là người tổ chức và chủ nhiệm câu lạc bộ, anh ta rất được lòng quần chúng và thế là anh ta tìm mọi cách lợi dụng uy tín của mình. Các báo cáo viên không chỉ được những mụ nạ dòng ở Bộ Ấm no thán phục mà còn được các em tuổi mới đôi mươi thuộc Hiệp hội Thanh niên Chống Tình dục, mà đa số có thể là do Cảnh sát Tư tưởng cài vào, chết mê chết mệt nữa. Con người mới dễ sa ngã làm sao! Smith không đứng vững được trước sức cám dỗ. Thứ hai nào anh ta cũng lôi về nhà một cô gái mới, người ta còn đồn rằng có rất nhiều cô xếp hàng đợi đến lượt mình nữa kia. Dù nhà cách mạng nhiệt thành này không còn trẻ, dù anh ta bị viêm do loét tĩnh mạch, dù anh ta đã có vợ, ít ra là về mặt chính thức…các em cho qua hết.
Tôi cảm thấy đau khổ khi phải viết ra chuyện này bởi vì đáng tiếc là nó đã trở thành một phần lịch sử của Smith, có thể nói rằng một phần lịch sử của chúng ta. Những mối quan hệ bất chính đó đã đẩy anh ta lao vào tìm kiếm uy tín giả tạo, nghĩa là đưa con người đầy tài năng và quan trọng này sang phía kẻ thù của cách mạng.
Có những tin đồn về quan hệ tình cảm của tôi với các cộng sự của tờ PCV như Whiters, Syme, Ampleforth; tôi hoàn toàn không muốn đả động đến đề tài tầm thường này. Ampleforth là bạn của tôi, một người bạn gần gũi nữa kia. Tôi có tình cảm bảo bọc, gần như là tình mẫu tử đối với anh ta. Anh ta gắn bó với tôi không khác gì một người con với mẹ, còn tôi cũng yêu anh ta không khác gì mẹ yêu con, xét về tuổi tác thì có thể nói tôi yêu anh ta như chị yêu em trai vậy.
16. Smith. Cũng nói về chuyện đó.
Trong những cuộc tụ họp ở Câu lạc bộ Thứ hai thì người nổi tiếng nhất là nhà tu từ học và triết học Syme. Anh ta đem hệ thống thuật ngữ gọi là Ngômo của Đảng và hệ tư tưởng gọi là nước đôi của chế độ ra chế giễu công khai. Anh được mọi người công nhận là chuyên gia về hai lĩnh vực cấu thành thế giới quan đó của Oceania. Khi nghe những lời giễu cợt của anh ta đôi khi chúng tôi quên mất là cách đây chưa lâu anh từng bảo vệ hệ thống thuật ngữ và triết lí đó của Đảng cũng với lòng nhiệt tình như thế, cũng với sự thích thú như thế. Với đầu óc như thế thì hệ thống của Anh Cả cũng như Phong trào cải cách đều chỉ là cái cớ để cho anh ta thể hiện những khả năng trí tuệ tuyệt vời của mình mà thôi. Là người có khả năng ứng tác nhanh, những khi không tìm được trích dẫn phù hợp từ các tác giả kinh điển của Chuanh cho một tư tưởng nào đó của mình thì anh ta tự sáng tác lấy. Anh ta là một kho vô tận các sự kiện, các ví dụ và tình tiết không cách nào kiểm chứng được. Khi phát biểu anh ta thường cầm kính múa may. Mỗi khi người ta phát hiện được sự lầm lẫn của anh ta thì anh ta đeo kính vào và nói dỗi:
"Vâng, tôi đã lầm. Vỗ tay đi. Đã từ lâu các bạn chỉ được nghe những lời phát biểu đúng đắn rồi mà".
Để chống lại thói hoạnh họe sơ đẳng của nước đôi, anh ta nghĩ ra hệ thống triết lí gọi là "Hệ thống các quan điểm sai lầm". Trong bài nói rất hay dưới tiêu đề: "Chúng ta có thể nói về Hệ thống của các Anh Cả được hay không?" anh ta đã trình bày tiền đề của chủ nghĩa hoài nghi cho thời đại lịch sử mới mà sau này trở nên rất nổi tiếng: "Tôi sai lầm nghĩa là tôi tồn tại".
Parsons, một vận động viên có hạng, sau khi vào tù thì sa sút hẳn. Anh ta cũng nói rất hay. Cầm tờ giấy trong tay, hút hết điếu này đến điếu khác, anh ta vừa ho vừa khạc, thế mà thính giả vẫn say sưa lắng nghe. Thật khó mà tin rằng một người với bộ mặt công chức vô cảm như thế lại có hiểu biết sâu sắc quá khứ đến thế, có khả năng phân tích tuyệt vời và tạo được ấn tượng với thính giả đến như vậy. Thí dụ khi anh nói về cuộc chiến tranh giữa Hoa Hồng Đỏ và Hoa Hồng Trắng thì tất cả nhớ ngay đến cuộc nội chiến khủng khiếp hồi những năm 60 ở Oceania mà hầu hết mọi người có mặt đều đã trải qua lúc còn thơ ấu. Còn khi anh lên án chế độ chuyên chế khát máu của Charles I
[2] thì không thể không liên hệ đến giai đoạn lịch sử gần đây hơn. Thính giả say sưa chìm vào quá khứ, kể cả những giai đoạn khủng khiếp nhất của nó, có vẻ như họ cảm thấy mình thuộc về thời trung cổ của nước Anh hơn là thời hiện tại. Có người đã gọi những bài nói chuyện này là "Những cuộc du ngoạn về quá khứ", một cái tên rất phù hợp, chỉ hiềm một nỗi nó gợi lòng căm thù "những cuộc du ngoạn" do Đảng tiến hành.
Nhà kinh tế học Whiters cũng có những buổi nói chuyện rất hay. Anh không phải là diễn giả tuyệt vời như Syme cũng không có đầu óc phân tích sâu sắc như Parsons. Ưu điểm chính của anh là sự hiền lành. Khi phân tích quan điểm kinh tế của Adam Smith
[3] anh thường lạc đề và kể đủ thứ chuyện vui: nào là dưới thời Anh Cả thị trường chợ đen phát triển ra sao, nào là khi anh cung cấp cho sĩ quan các Pháo đài nổi thuốc lá thì họ thanh toán bằng hàng lậu mua được của kẻ thù ra sao. Những câu chuyện này hấp dẫn không chỉ thính giả mà cả diễn giả nữa, phải khó khăn lắm anh mới quay lại được chủ đề chính. Lí thuyết về giá trị thì ít người hiểu, nhưng những câu chuyện của Whiters thì hàng chục năm sau vẫn được còn kể.
Hôm nay, khi đã có tuổi, tôi vẫn phải nhận rằng các buổi tối thứ hai đó còn một điểm hấp dẫn nữa. Tối nào tôi cũng ra về với các cô gái trẻ, thành viên tích cực của Phong trào cải cách vừa mới ra đời. Quan hệ của chúng tôi không bao giờ đi quá xa, nhưng nó đã cho tôi nhiều niềm vui. Tôi không phải là người duy nhất lợi dụng được thành quả đó. Cả chàng còng Syme lẫn anh chàng chân bẹt Whiters đều không đứng vững được trước sức tấn công của các em gái trẻ. Chúng tôi cho rằng sau hàng chục năm thiếu thốn về tình cảm và gò bó về quan hệ nam nữ, chúng tôi xứng đáng được hưởng những thành quả khiêm tốn đó. Chúng tôi cho rằng chuyện này quan trọng cả về mặt chính trị nữa vì nó làm cho chúng tôi trở nên gần gũi với quần chúng hơn. Ngoài ra nó còn chứng tỏ rằng từ nay người ta có quyền có cuộc sống riêng tư. Theo một nghĩa nào đó thì chúng tôi đã tạo ra kiểu mẫu hành vi mới. Thí dụ khi âu yếm một cô bạn gái nào đó thì tôi hôn vào tai trái cô ta ngay trước mắt mọi người. Từ hôm tôi sử dụng cách chào thân mật như thế với S. T. (
S. T. là Sesilia Tomson, thượng tá Cảnh sát Tư tưởng, biệt danh trong Đảng là Sili. Lịch sử Đảng Oceania khẳng định rằng "trong thời kì chuẩn bị cuộc phản cách mạng đẫm máu, bằng cách thâm nhập vào hàng ngũ đối lập và sử dụng các biện pháp nghiệp vụ đặc biệt, bà đã có những đóng góp vô giá đối với Đảng" - ghi chú của người chép sử), mốt hôn vào tai đã lan truyền trong Đảng Ngoại vi ở London với tốc độ nhanh không khác gì dịch hạch và theo tin đồn thì còn cũng rất được ưa chuộng trong các buổi nhậu nhẹt bí mật của Cảnh sát Tư tưởng và Đảng Nội bộ nữa.
Sau này tôi rất ngạc nhiên khi biết rằng Julia đã tỏ ra giận dữ khi thấy chúng tôi có những quan hệ như thế. Lúc đó tôi cho là chúng tôi nên xa nhau một thời gian và thực sự lấy làm mừng khi nghe nói cô đã tìm được niềm vui mới, đấy là nhà thơ Ampleforth. Phải công nhận là cô có óc thẩm Mỹ. Hơi gầy, cân đối, trông không khác gì một đứa trẻ, David là "con cưng" của tất cả chúng tôi.
17. Thư gửi J. M.
[4]
David Ampleforth.
(
Đây là bài thơ của David Ampleforth đăng trong PCV ra ngày 14 tháng tư năm 1985. Dù lối sô nê không bị Đảng cấm nhưng loại thơ đó vẫn bị coi là đồi truỵ. Vì vậy bài thơ của Ampleforth được độc giả coi là dấu hiệu phục sinh của nền thi ca Anh. Lúc đó nhiều người cho rằng Julia Miller là nguồn cảm hứng cho bài thơ, nhưng những nghiên cứu mới nhất gần đây lại chứng tỏ Ampleforth viết tặng cho chàng phi công trẻ tên là Jone Mibold. Ampleforth viết tắt tên anh ta để che dấu tình cảm đồng tính ái của mình với anh ta - ghi chú của người chép sử)
Không giấu Đảng tình cảm cháy bỏng
Tội lỗi này làm sao xóa được
Bởi vì nàng đâu phải vị hôn phu của tôi
Vật vã trong cô đơn
Ngày đêm trong mơ tôi thấy nàng
Tôi muốn xiết chặt nàng trong vòng tay
Nhưng vừa tỉnh giấc thì mọi thứ liền tiêu tan
Chúng ta cứ kéo lê mãi những ngày dài
Cháy khô đi giữa những đám đông vô hồn
Đã bao lần đi ngang qua nhau
Em ơi hãy lại, hãy cho anh tình yêu
Luật khắt khe* đã chết rồi
Hãy cởi váy ra
Trên bờ sông vắng chỉ còn hai ta**
(Ghi chú của người chép sử:
*Trong bản thảo là từ "vô nhân" nhưng ban biên tập đã thay bằng từ mềm hơn. Xem thêm bài xã luận trên tờ Times ngày 3 tháng 4 năm 1984: Đảng có thể nghiêm khắc nhưng không vô nhân.
** Lúc đó thanh niên London thường hò hẹn trên một khu đất hoang, cây cối rậm rạp trên bờ sông Thames. Ít nhất là cho đến tháng 2 năm 1985 chính quyền không cấm những vi phạm loại này.)
18. O'Brien nói về việc chuẩn bị nghị định cho phép li hôn.
Quyền được buồn không chưa đủ, quần chúng đòi hỏi quyền được vui nữa. Sẽ là sai nếu nghĩ rằng chuyện này chỉ liên quan đến các đảng viên trẻ. Các đảng viên Đảng Nội bộ và ngay cả Cảnh sát Tư tưởng cũng bắt đầu tỏ ý bất mãn. "Thử nghĩ mà xem, khách trong quán cà phê Cây dẻ được phép công khai làm những thứ mà cán bộ phải làm lén lút. Công bằng ở chỗ nào?" - các cảnh sát viên trẻ trung, sôi nổi hỏi chúng tôi như thế đấy. Bọn trẻ thật khó mà quen được với cách sống khắc kỉ, dù là chỉ là về mặt hình thức.
Trong một cuộc họp giao ban vào giữa tháng Tư của Cảnh sát Tư tưởng London, người ta đã tuyên bố rằng từ nay đảng viên Đảng Ngoại vi được tự do hơn trong lĩnh vực tình ái. Đồng thời thủ trưởng cũng nói rằng việc này không liên quan đến thành phần ưu tú của xã hội.
"Những người nắm quyền", ông nói, "cả nhà nước phụ thuộc vào họ, không thể nào lại là những người say rượu và hủ hóa được".
Là người độc thân, được tương đối tự do, nhưng tôi cũng cho rằng qui định mới về luyến ái là không công bằng. Nhân danh người lãnh đạo Cảnh sát Tư tưởng Nội ô London tôi đã phát biểu chống lại qui định mới này.
"Nếu chính sách mới cho phép các thành phần cư dân ít trách nhiệm hơn được quyền giao hợp bất cứ khi nào họ muốn thì tại sao nó lại tước quyền đó của những người trung thành và đáng tin cậy nhất?", tôi nói.
Phát biểu ý kiến kiểu đó không phải là không nguy hiểm. May là có một sĩ quan cảnh sát đã già, rất được mọi người tôn trọng, đứng lên bênh vực tôi. Ông trưởng phòng Phẫu thuật móng tay (
Phòng phẫu thuật móng tay, viết tắt là PTM, là tên gọi đùa một đơn vị cảnh sát làm nhiệm vụ điều tra ban đầu (thu thập thông tin về các đối tượng sắp bị bắt…) - ghi chú của người chép sử) đó nói như sau:
"Thưa các đồng chí, các đồng chí phải hiểu rằng nhân viên Cảnh sát Tư tưởng cũng là người. Ngoài vợ mình ra, thỉnh thoảng anh ta cũng muốn ngủ với ai đó chứ. Người ta nói rằng cho tự do luyến ái là để động viên tinh thần của quần chúng đấy. Dĩ nhiên là tôi còn nhớ trước đây không lâu muốn giữ yên quần chúng thì biện pháp tốt nhất là xây thêm nhà tù. Vâng, thời đó qua rồi. Nhưng chả lẽ lại bó tay hay sao? "Giao hợp đi!" - thưa các đồng chí, đấy chính là khẩu hiệu của ngày hôm nay".
Như vậy là ngay trong Cảnh sát Tư tưởng chính sách mới về quan hệ nam nữ cũng đã giành được thắng lợi. Chỉ còn một bước quyết định nữa là con đập sẽ vỡ hẳn. Luật về li hôn đã được lãnh đạo Đảng đặt lên bàn nghị sự từ cuối tháng ba, nhưng cần phải chuẩn bị dư luận quần chúng trước đã.
May quá, đúng lúc đó thì một tay Văn Hội nào đó (
O'Brien nhầm, Văn Hội không phải là người mà là Hội Văn Học, trong những năm 70 từng nổi tiếng với những tác phẩm ca ngợi chế độ của Anh Cả (trong đó có tác phẩm: Từ bóng tối ra ánh sáng. Bước đường vinh quang của Chuanh.) Theo các nhà nghiên cứu thì tất cả các tác phẩm do Văn Hội xuất bản đều được cái máy tính cổ lỗ sĩ, vẫn dùng để chế ra các tạp chí khiêu dâm cho bọn cu li, viết - ghi chú của người chép sử) cho đăng trên tờ PCV một chuyện ngắn rất được dư luận quan tâm.
19. Thật khó chia tay. Truyện ngắn.
Văn HộI
(
Sau khi cách mạnh 1985 bị đàn áp, Văn Hội bị khởi tố vì tội phổ biến sách báo khiêu dâm và phá hoại gia đình. Các hội viên Văn Hội sau đó được trắng án và trở thành tác giả bộ phim truyền hình nhiều tập: Gia đình trắng, rất nổi tiếng trong những năm 90 - ghi chú của người chép sử). Leslie Blake là một đồng chí tốt. Chị công tác trong một bộ và theo đánh giá của các cấp lãnh đạo thì là một người rất có ý thức về chính trị. Chồng chị công tác trong một bộ khác (
Lúc đó vì lí do an ninh không được mô tả nơi công tác và cư trú của các nhân vật văn học - ghi chú của người chép sử). Con họ, hai cháu Charlie, bảy tuổi và Karola, chín tuổi, là những đội viên Tình báo tích cực.
Dường như trong gia đình họ mọi việc đều yên ổn và tốt đẹp như mọi gia đình hạnh phúc khác của Oceania. Cả hai đều sinh ra sau cách mạng và vì vậy mà không ai phải chứng kiến cảnh áp bức và bóc lột trước kia.
Nhưng quan hệ giữa Leslie Blake và chồng chị ngày một xấu đi. Ngày nào họ cũng cãi nhau, ngày nào cũng có những màn ghen tuông. Không có một lí do nào để bất hòa cả. Leslie yêu say đắm một đồng nghiệp, một người lao động tiên tiến cũng thuộc bộ đó. Còn chồng chị thì càng ngày càng gắn bó thêm với li rượu Gin Chiến thắng.
Là những người có nhận thức chính trị đúng đắn và có trách nhiệm, họ đã đến gặp một đồng chí lãnh đạo của Đảng và đề nghị ông xin các cơ quan cấp trên cho họ được li hôn. Đồng chí lãnh đạo đó hiểu rằng trước mặt họ là những người trung thực, ngoài ra hạnh phúc cá nhân của họ còn giúp tăng năng suất lao động nữa. Vì vậy ông ủng hộ yêu cầu li hôn của Leslie.
Nhưng chuyện này xảy ra vào đúng thời kì Chị Cả tung ra các mưu ma chước quỉ. Bà ta đâu có thèm quan tâm đến việc tạo điều kiện cho các công dân của chúng ta được sống và lao động một cách hài hòa. Chính bà ta cấm họ li hôn. Leslie nằm cùng chồng trên chiếc giường trong căn hộ hiện đại trong chung cư Chiến thắng. Họ cứ nằm như thế, không biết làm gì. Họ buồn bã ngắm những đưa con đang chơi trò chiến tranh trong một căn phòng khác.
"Trời ơi! (
Một nhân viên Cảnh sát Tư tưởng, anh này chắc là quá mẫn cán, đòi phải bắt ngay tác giả câu này vì đã "tuyên truyền mê tín dị đoan". Nhưng ông Tổng chưởng lí cho rằng "Trời ơi" trong trường hợp này chỉ là câu nói cửa miệng chứ không mang ý nghĩa tư tưởng. Nhưng 15 năm sau, khi tác phẩm này được đưa vào hợp tuyển văn học "Các tác phẩm kinh điển về tình yêu Oceania" (London 1999) các tác giả đã cẩn thận sửa lại chỗ này. Nó được viết lại như sau: "Vâng, vâng, Leslie thở dài nói… - ghi chú của người chép sử), Leslie vừa thở dài vừa nói, tay chỉ những đứa trẻ: "Có thể chúng sẽ được hạnh phúc hơn chúng ta chăng; chúng ta chẳng đã hạnh phúc hơn cha mẹ mình là gì". (
Lưu truyền phiên bản rằng vợ chồng Blake cho con đi chơi rồi cả hai cùng tự vẫn. Các tác giả kịch liệt phản đối phiên bản này, coi đấy là "sự vu khống bản tính yêu đời của công dân Oceania". Thực ra những trường hợp tự vẫn đúp như vậy vẫn thường xảy ra ở Oceania - ghi chú của người chép sử)
20. Tuyên bố chính thức về nguyên lí cơ bản của đời sống cá nhân.
Nhằm mục đích tăng cường sự hài hòa của đời sống xã hội phù hợp với các nguyên tắc của Chuanh, Đảng cho phép các đôi vợ chồng không còn hòa hợp và không tạo được không khí hòa thuận trong gia đình được thuận tình li hôn. Trong thời gian tới sẽ thành lập ngay các phòng chuyên trách việc li hôn, các cặp vợ chồng có thể đến đó để yêu cầu được li hôn trước hai nhân chứng.
Trong tất cả các lĩnh vực khác, Đảng không có ý định can thiệp vào quan hệ riêng tư của các công dân nếu các quan hệ đó không ảnh hưởng đến an ninh và đạo đức của xã hội. Các đảng viên nam được phép có quan hệ tình dục tiền hôn nhân với mục đích học hỏi để giúp tăng tỉ lệ phát triển dân số. Ngoài ra, tùy thuộc vào năng suất lao động mà đảng viên nam còn có quyền có quan hệ ngoài hôn nhân đến hai lần một tháng với các đảng viên nữ (
Sau này, sau khi đã xem xét năng suất lao động của đàn ông trong những năm bị gò bó quá mức, lãnh đạo Oceania đã quyết định cho tăng quan hệ ngoài hôn nhân lên tám lần một tháng – ghi chú của người chép sử). Đời sống riêng tư của các nữ đảng viên cần phải phù hợp với qui định hiện hành (
Điều này có nghĩa là nghị định mới không tính đến các quyền lợi có tính đặc thù của phụ nữ. Nó cũng không nói đến quan hệ của các cặp đồng tính luyến ái. Việc đó có ảnh hưởng đến quyền lợi của khá nhiều người. Theo những số liệu mà ta được biết sau này thì thí dụ năm 1988 ở Oceania có 18% đàn ông và cứ 10 phụ nữ thì có 4,5 người từng ít nhất có một lần có quan hệ đồng tính ái (xem “Quan hệ tình dục ở Oceania. Đàn ông và đàn bà” Tập 15. Hongkong, 1988). Việc sửa sai đã được thực hiện một phần vào tháng 8 năm 1985 trong nghị định bí mật cho phép đồng tính ái trong quân đội với điều kiện đấy là những người đồng cấp và được bác sĩ quân y giám sát – ghi chú của người chép sử).
Chúng tôi tin tưởng rằng qui định mới này về đời sống cá nhân sẽ góp phần nâng cao hơn nữa nhiệt tình lao động của các đảng viên Oceania.
21. Thư của Katherine Smith gửi Winston Smith.
Thưa công dân Smith! (
từ công dân chỉ được dùng để gọi các bị cáo trong những phiên tòa xử tội phạm chính trị, nó chứng tỏ rằng người đó đã không còn là “đồng chí” nữa – ghi chú của người chép sử).
Nhà nước ta đã tỏ lòng khoan dung đại độ khi cho phép các công dân được tự do lấy và bỏ nhau. Nhưng tôi có những quan niệm bảo thủ, một trong những “Mamút” (
Mamút, nhện độc, tê giác...là tên mà những người cải cách dùng để gọi cánh bảo thủ trong Đảng, trong khi cánh bảo thủ lại gọi những người cải cách là: chuột cống, vẹt, nhặng... – ghi chú của người chép sử), như ông vẫn gọi, vì vậy tôi phản đối việc li hôn và mọi biểu hiện phi đạo đức khác. Tôi nghĩ rằng nếu Anh Cả còn sống thì Anh sẽ đồng ý với tôi mặc dù tôi biết rằng ông không quan tâm đến chuyện này. Nhưng bây giờ tôi đề nghị ông đi với tôi đến văn phòng li hôn. Tôi có lí do để làm như thế.
Ông, một người tự nhận là người bảo vệ và cổ vũ cho thời đại mới “tiến bộ” hơn, phải biết rằng con người ta vốn là nô lệ của những thành kiến. Thí dụ mọi người đều biết tôi là vợ của Winston Smith nổi tiếng. Vì vậy mọi người cho rằng tôi, một người phụ nữ được giáo dục theo tinh thần của Chuanh, sẽ luôn ủng hộ chồng mình trong mọi lĩnh vực. Khi Winston Smith bôi bẩn quá khứ của Đảng trong quán cà phê Cây dẻ thì tất nhiên mọi người cũng cho rằng tôi chia sẻ những quan điểm “tiến bộ” đó. Khi Winston Smith kích động bạo loạn chống lại chế độ của Anh Cả, mặc dù đáng lẽ hắn ta phải tỏ lòng cảm ơn vì chế độ đó đã làm cho hắn trở thành một con người, thì người ta nghĩ rằng tôi cũng đã tham gia vào đám người phản loạn đó. Còn khi mà Winston Smith ngày nào cũng ngủ với một “đồng chí” mới thì người ta có thể ngây thơ cho rằng tôi, Katherine, chỉ là một con chó cái dâm loàn. Đấy là lí do vì sao tôi quyết định tiến hành cái thủ tục li hôn bỉ ổi này, mặc dù tôi biết rằng cái trật tự ngu ngốc hiện nay là kết quả công việc tuyên truyền hiểm độc của chính ông.
Ngoài ra, điều duy nhất tôi có thể tha thứ cho thái độ của ông, đấy là ông luôn luôn chỉ là một con tốt đen mà thôi. Những kẻ phản bội thật sự nằm ngay trong lãnh đạo Đảng và Cảnh sát Tư tưởng. Chúng là những tên gián điệp ăn lương của Cảnh sát Tư tưởng Eurasia. Nhưng chúng sẽ phải đền tội! Tinh thần Anh Cả sống mãi! Dù có xảy ra chuyện gì đi nữa thì Anh cũng sẽ hồi sinh ngay trên đống tro tàn của nhà nước này, của Đảng này!
Katherine.
22. Smith nói về công việc của ban biên tập PCV.
Những số đầu tiên PCV ra có 5000 bản. Chẳng có ý nghĩa gì đối với dân số hơn một trăm triệu người! Thực ra thì cu li không biết đọc (
Trong trường hợp này vấn đề không phải là biết đọc biết viết mà là không có thói quen đọc sách vì việc lạm dụng vô tuyến truyền hình vốn là phương tiện thông tin chủ yếu, đa số cu li biết đọc biết viết, bằng chứng là họ thường xuyên mua truyện tranh khiêu dâm và ít nhất cũng phải đọc được những chú thích ghi bên dưới – ghi chú của người chép sử), thế mà chỉ riêng London thứ sáu nào cũng có cả nửa triệu người hỏi mua báo mới. Đã xin O’Brien cho tăng gấp đôi nhưng không được.
“Chân lí không phải là hàng chợ”, anh ta nói như vậy khi tôi đến gặp để thảo luận về tờ báo. “Hàng xa xỉ phẩm không thể bán vô giới hạn được”.
Mặc dù PCV là phụ trương của tờ Times ra hàng triệu bản mỗi ngày chúng tôi hiếm khi giữ lại được báo biếu cho tác giả và nhân viên tòa soạn. Nhưng O’Brien cũng phải nhượng bộ một ít. Chúng tôi đã có thể trả nhuận bút cho một số tác giả, trước hết là thi sĩ và nhạc sĩ. Tiền nhuận bút một bài thơ hoặc một bức tranh có thể đủ mua một thỏi chocolate hay chai bia trong cửa hàng dành cho Đảng Nội bộ.
Việc xuất bản một cách thủ công như vậy cũng có tính hấp dẫn của nó. Sự thật đã dần thắng thế. Mỗi một đề tài mới, dù đấy là sự hoang phế của phố xá London hay vấn đề giáo dục giới tính hoặc trục trặc trong việc cung cấp lương thực thực phẩm, đều đồng thời có nghĩa là tự do đã được mở rộng thêm. Dĩ nhiên là chúng tôi phải tránh một số đề tài (ví dụ như không được mô tả một cách cụ thể thất bại quân sự thảm hại vừa rồi hay không được viết về quá trình hoạt động cách mạng của Anh Cả), nhưng rõ ràng có khác biệt to lớn giữa thái độ thận trọng này và sự cứng nhắc trong những năm vừa qua đấy chứ! Vâng, PCV không thể viết về mọi vấn đề, nhưng chính chúng tôi là người quyết định có thể viết gì. Chúng tôi đã giành được cái mà trước đây có mơ cũng không dám nghĩ tới, chúng tôi trở thành những người kiểm duyệt trong chính tờ báo của mình. Tính đúng đắn của chúng tôi còn thể hiện ở chỗ ông Vụ trưởng vụ kiểm duyệt của Bộ Sự thật, chiều thứ tư nào tôi cũng phải trình cho ông ta bản sao tất cả các bài sẽ đi vào thứ sáu, gần như không bao giờ sửa bài của chúng tôi và còn tuyên bố rằng PCV thú vị hơn Times nhiều vì bao giờ ông cũng phải sửa lỗi in ấn làm sai lệch cả ý tứ của tờ Times .
Ban biên tập thường họp vào thứ ba. Hôm đó quán cà phê Cây dẻ đóng cửa cho nên chúng tôi lấy hẳn phòng bi-a làm chỗ sắp xếp bài vở. Lúc đầu trong mười cột báo chúng tôi chỉ được hai, sau này tăng lên bốn rồi cuối cùng lên lên sáu cột. Những cột khác, cũng như tất cả báo chí của Oceania, là các thông báo chính thức và đăng lại của Times. Tất nhiên là độc giả bao giờ cũng đọc những cột “của chúng tôi” trước.
Julia đóng vai trò quyết định trong việc tạo lập bộ mặt cho tờ báo. Thực ra thì Julia không có chân trong ban biên tập, nhưng cô ấy luôn luôn đóng góp những ý kiến xây dựng có giá trị. Thí dụ chính cô đã nghĩ ra biện pháp tự kiểm duyệt theo hai hướng “mềm” và “căng”. Khi tác giả viết quá thận trọng thì chúng tôi đặt lại vấn đề theo hướng “căng” thêm. Nhưng nếu chúng tôi thấy rằng tác giả đã vượt ngưỡng cho phép thì chúng tôi làm cho giọng văn “mềm” lại chút ít. Whiters, một người có thiên hướng thỏa hiệp, được giao nhiệm vụ làm “căng”, còn tôi, một người có quan điểm cấp tiến, được giao nhiệm vụ làm “mềm”.
Một lần ban biên tập buộc phải bóc hẳn một bài. Đấy là bài của tôi, nhan đề: “Vài nét về đạo đức những năm 30”. Khoảng giữa tháng tư tôi gặp ngoài phố một người công nhân già mà tôi đã quen cách đó một năm ở một quán bia trong khu cu li. Tôi dẫn ông ta vào phòng bi-a của quán cà phê Cây dẻ và mời ông ta uống Gin Chiến thắng rồi hỏi về cuộc sống trước cách mạng. Rượu vào lời ra, ông ta kể đã thuê mũ để đi cưới vợ như thế nào, đã uống bia và chơi bài vào buổi tối ra làm sao. Ông ta bảo rằng ngày đó chiều nào trên phố cũng có bán cam và chuối và kể rất kĩ buổi dạ hội từ thiện ở Soho. Lúc đó ông không thèm nghe chuyện bãi công hay đấu tranh giai cấp gì hết.
Tôi chưa bao giờ tự coi mình là một nhà báo khả dĩ, nhưng bài này là một thành công của tôi. Nhưng ban biên tập không chấp nhận. Julia cũng phản đối.
"Thực chất", cô tức giận nói, "bài báo cho rằng một ngày bình thường nhất trong những năm 30 còn vui gấp vạn lần giai đoạn sau cách mạng!".
Syme nhận xét rằng có lẽ là đúng như thế, nhưng chính vì vậy mà kiểm duyệt sẽ không cho qua đâu.
"Đợi thêm một vài tháng nữa", anh ta khuyên tôi. "Tương lai sẽ ủng hộ quá khứ".
Whiters đề nghị cho ông già ít nhất cũng nói một câu về hiện tượng áp bức và bóc lột thời đó, nếu không sẽ được coi là "hoàn toàn bịa đặt". Parsons không nói gì, cứ có chuyện gì căng thẳng là bao giờ anh ta cũng ho vật vã. Cuối cùng tôi quyết định không đăng bài báo.
Quan hệ của tôi với Julia bắt đầu xấu đi. Đôi khi tôi cũng có chuyện yêu đương này nọ. Còn Julia, sau khi chia tay với David thì chuyển sang Whiters và sau nữa là với Syme. Còn một nguyên nhân nữa khiến Julia xa lánh PCV và "Câu lạc bộ Thứ hai". Chả là lúc đó cô đang giành hết tâm huyết cho việc dàn dựng vở Hamlet.
Đóng góp lớn cuối cùng của Julia là chiến dịch chống lại việc tập thể dục bắt buộc trên truyền hình. Cô đã lôi kéo được một chàng ngốc tên là Tillotson nào đó ở Bộ Sự thật cùng tham gia. Anh ta đồng ý kí tên dưới bài báo, mặc dù Whiters phải viết toàn bộ.
23. “Lại bàn về chương trình thể dục trên truyền hình”
Con người sẽ cảm thấy vô cùng tuyệt vời khi mỗi buổi sớm mai, vừa bước chân khỏi giường anh ta đã được khởi động các bộ phận cơ thể rã rời của mình. Một-hai, trái-phải, các lệnh này phù hợp với nhịp đập của tim. Cơ thể cũng như tâm hồn của chúng ta cần những động tác như vậy. Tự nhiên đòi hỏi như thế.
Chính vì vậy mà Đảng đã yêu cầu mọi đảng viên phải tập thể dục buổi sáng. Vô tuyến truyền hình, một thành tựu nổi bật trong thời đại chúng ta, đã giúp làm cho toàn dân thực hiện các động tác hữu ích ấy trong cùng một lúc trở thành hiện thực.
Đáng tiếc là cái ý tưởng thực chất là tốt đẹp đó cũng như nhiều ý tưởng khác đã bị méo mó khi đưa vào thực tiễn. (
Ở chỗ này, để cho "căng", Syme đề nghị cho thêm câu: "Tư tưởng luôn luôn bất lực khi đưa vào cuộc sống", nhưng ban biên tập không đồng ý - ghi chú của người chép sử). Công nhân rụt rè đứng trước màn hình, trong khi một đồng chí nữ quát tháo họ bằng một giọng thô lỗ, đôi khi cục cằn nữa. Đối với một số người thì động tác mà đồng chí ấy đòi hỏi là quá nặng nữa. Điều đó làm mất đi cảm giác thoải mái của cơ thể trước một ngày lao động mới vốn là mục đích của việc tập thể dục buổi sáng.
Nên chăng, chúng tôi mạnh dạn đề nghị, hãy để cho các công dân tự do lựa chọn thời gian và tính chất các động tác mà họ muốn làm theo đúng trách nhiệm của họ? Theo tôi công cuộc cải cách này không trái với qui luật sắt đá của Chuanh cũng như thực tiễn của xã hội ta. (
Công cuộc cải cách đã được thực hiện một phần vào giữa tháng Năm. Theo luật mới về bảo vệ sức khỏe, công nhân có thể chọn một trong ba hình thức thể dục là "nặng", "trung" và "tối thiểu". Loại cuối cùng chỉ đòi hỏi cử động các ngón tay mà thôi - ghi chú của người chép sử).
Tillotson E.
Đảng viên,
Kiện tướng thể thao công huân.
24. Julia nói về ban biên tập PCV.
Vào tháng ba tất cả chúng tôi còn gần như giống nhau. Sự phân hoá chỉ về sau mới bắt đầu lộ diện dần. Lúc đầu sự phân hoá không liên quan đến vấn đề quan điểm: tất cả chúng tôi đều cố gắng đấu tranh chống lại di sản do Anh Cả để lại. Mọi người, tuy lĩnh vực khác nhau, nhưng đều làm cùng một việc, đấy là xé toạc dần cái lỗ thủng trên bức màn sắt mà chính quyền đã trót chọc ra. Nhưng chẳng bao lâu sau thì tính tình và thái độ của từng người bắt đầu thay đổi, có thể là trước đây họ đã thế rồi nhưng chúng tôi không nhận ra chăng? Whiters vui tính, Parsons thì lúc nào trông cũng như ngái ngủ, Syme khôi hài chua chát, Ampleforth háo danh, thế mà lại bổ sung cho nhau rất ăn ý nữa. Tôi cho rằng sự thận trọng của tôi là rất có ích bên cạnh chủ nghĩa cấp tiến quá khích của Smith.
Sự phân hoá càng ngày càng sâu sắc. Thí dụ, Parsons luôn luôn bỏ về vào đúng lúc gay cấn nhất trong các cuộc họp ban biên tập. Anh ta nại rằng phải đi ngủ trước mười một giờ nếu không thì thuốc ngủ nào cũng “vứt”. Tôi nghĩ rằng anh ta về sớm vì bà vợ quá cay nghiệt. Có lần Syme đã bảo rằng đối với Parsons thì Cảnh sát Tư tưởng là thừa: anh ta vẫn bị giám sát suốt ngày rồi. Ngoài ra, chúng tôi thật không thể hiểu Parsons gặt hái thành quả do những ý kiến độc đáo về lịch sử của anh ta gieo vào lòng các cô gái trẻ vào lúc nào. Anh ta ngượng, không bao giờ thích đả động đến chuyện này. “Hết chuyện để nghĩ rồi à?”, anh ta thường giả tảng như thế, mặt đỏ bừng.
Quan hệ với Ampleforth phải đặc biệt tế nhị. Khác với Parsons, anh ta luôn ba hoa về thành tích của mình với chị em, mặc dù anh ta chỉ yêu chính mình. Trong các cuộc họp ban biên tập đôi khi anh ta chỉ muốn nói về thơ của mình mà thôi. Anh ta giảng giải rất kĩ cái đẹp trong thơ mình vì cho rằng nếu không thì bọn nghiệp dư chúng tôi sẽ không thể nào hiểu được. “Này David”, có lần Syme đã nói, ”những lời bình của cậu phong phú và hay hơn thơ của cậu nhiều”. Cuộc họp lần sau không thấy Ampleforth. Tất cả chúng tôi đều ghé thăm căn hộ một buồng của anh ta, trên các bức tường treo đầy ảnh và những bài thơ đã đăng trên PCV.
“Các vị tìm nhà thơ giỏi hơn đi!”, vừa mở cửa anh ta vừa hét toáng lên. Anh ta chỉ cho chúng tôi vào phòng sau khi chúng tôi đã tỏ vẻ vô cùng ân hận và đưa ra chai Whisky lấy từ kho của Đảng Nội bộ.
David sợ nhất là các thế hệ sau sẽ chỉ coi anh ta là thi sĩ của tờ PCV. Anh không thích chúng tôi nói về ý nghĩa chính trị của thơ anh và rất thèm địa vị của các nhà thơ đồng nghiệp đã quay lưng lại với chính trị và chuyển sang làm “thi ca thuần tuý” ngay khi luồng gió tự do bắt đầu thổi tới. Anh ta đặc biệt tự ái khi nghe các nhà thơ này nhận xét một cách cay độc rằng dường như những bài thơ cổ động chỉ là một kiểu “chám” lại những khiếm khuyết của một tài năng chính trị. Anh ta tức cả với Syme dù hai người là bạn của nhau vì Syme thích thơ Swinburne
[5] và Eliot
[6] hơn.
“Tôi không muốn hi sinh tài năng của mình cho một thứ danh hiệu chính trị rất đáng ngờ”, anh ta tuyên bố như thế. Nhưng nhờ chính trị mà thành nổi tiếng cho nên anh ta cũng không bỏ hoạt động được. Như vậy là anh ta luôn luôn chao đảo giữa thơ và chính trị, giữa lòng tự tin thái quá và thái độ bạc nhược cũng thái quá. Có lẽ chỉ có tôi phần nào an ủi được nỗi sợ hãi của anh ta. Thực ra anh ta là một người bất hạnh.
Lòng ngưỡng mộ và tình cảm của chị em không làm anh bạn già Whiters bận tâm. Bây giờ, khi con người nổi tiếng, nhà kinh tế học có hạng này đã về nơi chín suối, tôi vẫn có thể nói mà không sợ xúc phạm đến vong linh của anh rằng anh chỉ quan tâm đến ăn thôi. Những đồng nghiệp cũ trong Đảng vẫn thường gửi cho anh (cũng có nghĩa là cho chúng tôi) các gói thức ăn và quần áo. Nhờ đó mà các cuộc họp ban biên tập thường kết thúc bằng những buổi yến tiệc thật sự và Whiters tham gia rất nhiệt tình. Khi ăn bao giờ anh cũng đeo cặp kính vẫn dùng đọc sách.
“Tôi thích nhìn xem đang ăn gì, đặc biệt là khi có cái để nhìn”, anh thường nói như thế.
Anh nhồm nhoàm nhai những cẳng ngỗng hun khói và chuối nhập khẩu từ Eastasia, có lần anh già Syme vốn nổi tiếng là trơ tráo đã nói: “Whiters này, có ngày chúng sẽ mua được cậu bằng mấy cái cẳng ngỗng mất thôi. Nhưng trước khi chạy sang hẳn bên địch cậu phải kí một hợp đồng đặc biệt ghi rõ khẩu phần ăn hàng ngày đấy nhé”.
Syme là người cả tin. Lúc nào miệng anh ta cũng cắm điếu thuộc Chiến thắng loại rẻ tiền nhất. “Đây là cái duy nhất còn gắn bó tôi với Anh Cả đấy”, anh thường nói, ngụ ý rằng trên các bức ảnh lúc nào Anh Cả cũng ngậm điếu thuốc Chiến thắng (khẩu vị, nghĩa là chất lượng thuốc lá của Anh Cả chắc chắn phải cao hơn).
Syme có cái thú là thường xuyên dọa dẫm chúng tôi. Một ngày nào đó, anh từng tiên đoán, trên tờ Times sẽ xuất hiện tuyên bố chính thức nói rằng giai đoạn dân chủ này chỉ là một trò đùa, Anh Cả chưa chết, đơn giản là Anh muốn kiểm tra xem ai là đồ đệ trung thành, ai là kẻ phản bội mà thôi. Kịch bản của “ngày phẫn nộ” được Syme mô tả đến từng chi tiết, kể cả việc các Đảng viên đảng Ngoại vi tranh nhau nhổ vào mặt mình như thế nào. Chúng tôi cười đến vỡ bụng, chỉ có Parsons là không cười, anh ta cho rằng những lời tiên tri của Syme không có gì đáng cười và đề nghị chấm dứt ngay trò ấy đi.
“Cậu việc gì phải sợ”, nhà tu từ học bảo. “Khi họ tra tấn chúng tớ thì chúng tớ sẽ khai là cậu luôn ra về vào lúc mười giờ rưỡi, những vấn đề quan trọng thường được bàn sau đó cơ. Cho nên cậu không phải lo đâu, họ cắt tay trái và chân phải của cậu là cùng chứ gì”.
Cả Winston Syme cũng không tha.
“Này, nhà hoạt động bí mật”, anh ta vừa nói vừa giả các động tác của sĩ quan Cảnh sát Tư tưởng. “Phủ nhận cũng vô ích thôi. Dưới nách tất cả các cô mà anh quan hệ đều có gắn micro đấy nhé, còn anh thì ngay lúc giao hợp cũng vẫn không ngừng nói chuyện chính trị, cho nên chúng tôi nghe rõ như nghe đài phát thanh trung ương vậy. Thật tiếc là Ti vi chưa hoàn toàn như ý không thì chúng tôi còn trông thấy khối thứ hay nữa kia. (
Syme lầm. Những bức ảnh chụp trộm cảnh ân ái của các biên tập viên PCV sau này, trong những năm 90, được lồng vào phim sex vì diễn viên vẫn bị cấm quay cảnh khỏa thân – ghi chú của người chép sử). Chúng tôi biết anh thực chất không phải là người xấu, chỉ có điều anh luôn muốn quay trở vào bụng mẹ. Anh phải che đậy ước muốn ấy bằng những câu phát ngôn coi trời bằng vung chứ gì”.
Lời nhận xét cay độc đó cũng có lí của nó. Smith quả thực là người đa cảm. Thí dụ, anh ta rất ngưỡng mộ bọn cu li mặc dù chẳng quen một tên cụ thể nào cả. Chuyện đó tất nhiên có giúp anh ta giữ được lòng nhiệt tình. Anh ta rất thích được ai đó khen vì đóng góp cho PCV. Ngoài ra anh ta còn yêu cầu đối xử với nhau một cách dịu dàng, thí dụ anh ta đòi các thành viên Phong trào, không phụ thuộc vào giới tính, phải hôn nhau khi gặp mặt cũng như chia tay.
“Chẳng có gì phải xấu hổ cả, chúng ta có phải là gỗ đá đâu”, anh thường nói thế.
Nhiều người thích và cảm phục thái độ nhiệt tình và lòng sốt sắng lôi kéo các thành viên mới cho Phong trào của chúng tôi. Nhưng cũng có một số người ghen, có người còn lên án thái độ mềm mỏng của anh nữa kia. Khi nghe nói có người không ưa anh thì anh buồn hẳn. Trong bất kì cái gì, kể cả trong Cảnh sát Tư tưởng, anh cũng chỉ muốn nhìn thấy điều tốt. Anh là một trong những người cấp tiến nhất trong chính trị, người cha tinh thần của những cuộc tấn công dữ dội nhất vào kẻ thù, nhưng cũng có khi bất thình lình trở thành người dao động, thậm chí nhu nhược khi phải bảo vệ quan điểm của mình. Có lần anh thú nhận với tôi rằng điều khó nhất đối với anh là làm chính trị thì lúc nào cũng phải lên gân.
“Nếu lúc nào cũng chỉ đấu tranh với nhau bằng ngòi bút thôi thì tốt biết bao”, anh bảo.
Điều này giống như một tiếng thở dài não nề, như một lời phản đối nhẹ nhàng, bất lực chống lại chính trị vốn đã trở thành bản tính thứ hai, bản tính xấu xa nhất của tất cả những ai làm chính trị một cách nghiêm túc và đủ lâu.
© 2004 talawas
[1]dịch ý – ND
[2]Charles I (1600-1649) – Vua Anh từ năm 1625. Bị cách mạng năm 1649 lật đổ và bị tử hình.
[3]Smith Adam (1723-1790) – Nhà kinh tế học người Scotland.
[4]dịch ý-ND
[5]Swinburne Algrnon Charles (1837-1909) - Nhà thơ Anh.
[6]Eliot Thomas Stearns (1888-1965) – Nhà thơ Mĩ gốc Anh, huân chương Nobel năm 1948.