25.Tuyên bố chính thức về việc dựng vở “Hamlet, hoàng tử Na uy”.
Trong một tương lai không xa nhà hát Chiến thắng sẽ dựng vở kịch Hamlet của nhà văn Anh William Shakespeare
[1] . Hamlet từng là một vở kịch nổi tiếng. Vở kịch lên án việc làm dụng quyền lực vốn rất thịnh hành ở nước Đan Mạch thời trung cổ. Đấy là lí do giải thích tại sao vở kịch được công nhân Anh thời đó hâm mộ. Nhân vật chính của vở kịch là một trí thức tư sản đồng thời là một nhà tư tưởng tiến bộ, nếu so với môi trường phong kiến lúc đó. Dĩ nhiên là Shakespeare không thể tìm thấy lối thoát cho cuộc khủng hoảng của thời đại mình bởi vì mấy trăm năm sau Chuanh mới ra đời.
Đảng ta luôn luôn có thái độ trọng thị đối với Shakespeare và trước tác của ông (
Điều này không hoàn toàn đúng. Ngay năm 1960 Đảng đã phê phán Hamlet. Rutherford, người sau này bị kết án tử hình, trong bài báo: “Shakespeare và chúng ta” đã công nhận giá trị to lớn của những trước tác của nhà soạn kịch người Anh nhưng lại tuyên bố: “Hamlet thuộc trong số những tác phẩm yếu nhất của Shakespeare. Chủ nghĩa cá nhân cực đoan, việc phê phán một cách thiếu suy nghĩ mọi chế độ độc tài và chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng đã có ảnh hưởng tiêu cực đến kết cấu toàn bộ tác phẩm. Giọng văn đơn điệu, tính cách nhân vật một chiều, thiếu sức sống. Một vài cảnh quá thô thiển, thí dụ cảnh hiện hồn của người cha. Tâm lí đồi trụy của những thế kỉ sau này dường như có nguồn gốc ở đây, trong quan hệ của mẹ con Hamlet. Đoạn mô tả Ofelia bị điên hoàn toàn không hay”. Là một người thông thạo nền kịch nghệ và văn chương Anh thời đó, Rutherford còn viết thêm: “Điều đó không có nghĩa là sau thắng lợi của cách mạng chúng ta sẽ đuổi Shakespeare khỏi sân khấu của chúng ta. Không, có thể và cần phải dựng Hamlet. Có thể chúng ta sẽ chỉ loại bỏ những phần chưa đạt của vở kịch. Thế hệ mới cần phải học trên những thành tích và cả những thất bại của văn hóa tư sản” (Rutherford. Chủ nghĩa hiện thực cách mạng. London, 1960). Hai năm sau khi cách mạng thắng lợi Rutherford đã chỉ thị loại Hamlet ra khỏi danh mục kịch nghệ các nhà hát Anh quốc, quyết định này không bị bãi bỏ ngay cả sau khi Rutherford đã bị tử hình – ghi chú của người chép sử). Nhưng trong một thời gian dài do các âm mưu quỉ kế của Chị Cả mà vở kịch tương đối hay và không phải không có giá trị này vẫn không được diễn. Chúng tôi hi vọng rằng khán giả hôm nay sẽ đón nhận nó với lòng nhiệt tình và tinh thần phê phán cần thiết.
26. Julia nói về vở Hamlet.
Vai Klaudius chúng tôi đã giao cho nghệ sĩ từng đóng vai Anh Cả trong các bộ phim và kịch nổi tiếng về cách mạng của ông. Dù hóa trang rất khéo, khán giả đã nhận ra ngay và vỗ tay như sấm. Việc chào đón nồng nhiệt ngay từ lúc đầu như thế đã quyết định không khí trong suốt vở diễn. Sau này kẻ thù Phong trào cải cách đã lên án chúng tôi là đã cố tình làm cho Polonius giống Cảnh sát Tư tưởng, còn điệu bộ của Guindenstern và Rosencrantz thì không khác gì mấy nhân vật chủ chốt của Đảng Nội bộ. Có người còn thấy bóng dáng Emmanuel Goldstein trong vai Hamlet nữa kia. Về phần mình, chúng tôi đã cố gắng hết sức để diễn như một vở kịch lịch sử, nghĩa là diễn như hồi những năm 30.
Tuy nhiên phải công nhận rằng không thể diễn trước đám đông khán giả đó mà không gợi ra những liên tưởng với các sự kiện đương thời. Syme đã nói cực kì hay rằng có những giai đoạn lịch sử khi ngay cả một câu chuyện cổ tích hay thậm chí cuốn danh bạ điện thoại của thành phố London cũng không thể đưa lên sân khấu mà không bị người ta liên hệ đến tình hình đương thời.
Nhà hát Quốc gia chật như nêm cối. Các khoang ghế lô đầy Cảnh sát Tư tưởng, một số phải đứng vì không đủ chỗ. Tầng dưới cùng giành cho nhân viên các bộ và gia đình, còn tầng trên cùng là sinh viên trường Hàng không, trường đại học duy nhất của Oceania. Hoan hô bao giờ cũng bắt đầu ở tầng trên cùng rồi khán giả ở tầng trệt vỗ theo, lúc đầu còn rụt rè, nhưng càng ngày càng mạnh thêm. Trong các hàng ghế lô người ta đứng hoặc ngồi, tay chắp sau lưng, có thể là Cảnh sát Tư tưởng bị cấm vỗ tay hoặc nói chung là không được thể hiện tình cảm một cách công khai.
Đợt vỗ tay đầu tiên bùng lên ngay trong đoạn độc thoại dài của Hamlet khi anh phàn nàn về “ách áp bức của kẻ mạnh” và “sự lên mặt của chính quyền”. Một tay sinh viên nào đó reo lên: “Hoan hô William! Tuyệt vời quá, ông già ơi!”. Quần chúng khoái quá, ngay cả diễn viên đóng Hamlet cũng cười, anh ta giơ hai ngón tay phải thành hình chữ V lên cao. Cảm giác lúc đó thật không thể nào mô tả nổi!
Một Cảnh sát Tư tưởng bỗng hét lên: “Tội tư tưởng đấy chứ còn gì nữa!”. Khán giả ở tầng trên cùng cùng ồ lên đáp lại. Khi đến cảnh các nghệ sĩ lang thang được Hamlet thuê thực hiện màn giết cha Hamlet ngay trước mặt Klaudius thì đã xảy ra một cái gì đó có thể gọi một cuộc biểu tình thật sự. Nhà vua, trong khi đấu tranh với sự dằn vặt của lương tâm, điên cuồng hét lên: “Bật đèn lên!”. Có mấy tay cảnh sát đế theo: “Bật đèn lên!”. Tiếng vỗ tay lại nổi lên như sấm. Sinh viên bắt đầu đồng thanh hô liên tục: “Klaudius, ngươi sai rồi, còn có kẻ sát nhân ác hơn ngươi nhiều”. Sau đó họ lại hô: “Aaroson, Jones, Rutherford, tự hào thay!”. Phải khó khăn lắm mới vãn hồi được trật tự để tiếp tục buổi diễn.
Trong cảnh cuối cùng, khi Fortinbras hạ lệnh chôn Hamlet như “một chiến binh” thì khán giả cùng đứng dậy và đòi tổ chức tang lễ cho ba nhà cách mạng một cách trang trọng. Lần này tầng trệt và tầng thượng cùng đồng lòng với nhau. Cảnh sát Tư tưởng tái mặt, run lên, người thì vì giận, kẻ thì vì sợ, cùng đứng chứng kiến cảnh phản đối vĩ đại này. Trong phòng dường như có hai sân khấu: Nhà hát Hoàng gia trước đây (mặc dù đạo diễn còn sơ sài) đối mặt với sân khấu của đời thường, không đạo diễn nào điều khiển nổi và được nuôi dưỡng chỉ bởi lòng nhiệt tình tự phát của chính các diễn viên.
27. Smith cũng nói về vở diễn.
Trên quảng trường Chiến thắng trước nhà hát có ít nhất là hai ngàn Cảnh sát Tư tưởng mặc quân phục đen, đội mũ sắt đứng thành hàng ngũ chỉnh tề. Phía bên ngoài, một chiếc loa phóng thanh đặt trên ô tô tải thét đến lạc giọng: “Bắt hết bọn chúng!”. Vì vậy đa số khán giả bỏ chạy trở vào nhà hát. Cảnh xảy ra ở bên ngoài làm ngay những Cảnh sát Tư tưởng đang từ những hàng ghế lô đi ra cũng phải ngạc nhiên. Chỉ có anh chàng lãnh đạo sinh viên, một cậu thanh niên có râu, đeo kính là còn giữ được bình tĩnh khi nghe nói nhà hát đã bị bao vây.
“Các đồng chí!”, anh ta hô. “Chả lẽ chúng ta để chúng bắt từng người một hay sao? Không! Chúng sẽ phải trả giá! Chúng ta sẽ phá vây! Tiến lên! Chúng ta sẽ chiến đấu! Đánh chết chúng đi!”.
Sinh viên lao vào cảnh sát. Chỉ trong tích tắc vòng vây đã bị phá, một số người chạy thoát. Cảnh sát Tư tưởng tê liệt mất một lúc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Oceania họ gặp phải sự chống đối quyết liệt đến như vậy. Chuyện này hoàn toàn khác với việc ngồi trong xà lim, trang bị đầy mình đủ các phương tiện tra tấn tối tân nhất. Ngọn đèn pha sáng rực lắp trên nóc tòa nhà đối diện quét qua quét lại cũng chẳng có tác dụng gì. Hai đám đông đối địch di chuyển một cách tuyệt vọng. Không nổ súng được: trong lúc hỗn loạn cảnh sát chỉ dám sử dụng dùi cui và dao thôi.
Lúc đầu tôi quyết định chiến đấu cùng với sinh viên, chỉ mong sao giết được một tên Cảnh sát Tư tưởng cũng hả. Lòng tôi bừng bừng lửa hận, chỉ muốn báo thù, cho những cuộc tra tấn hồi năm ngoái, cho hàng chục năm sống trong sợ hãi. Khi ngọn đèn pha chiếu rõ hàng cây xung quanh quảng trường tôi chợt nghĩ không biết mỗi cây có thể treo được mấy tên Cảnh sát Tư tưởng. Nhưng khi nhìn rõ những thân cây cằn cỗi tôi buộc phải từ bỏ ý tưởng này. Cả Oceania cũng không còn đủ cây để treo bọn chúng.
Tôi bỗng cảm thấy xấu hổ khi nghĩ rằng tại sao một người gọi là có văn hóa như mình mà cũng có những ý tưởng gian ác như vậy. Tôi chợt nhớ đến Julia. Lòng tràn ngập yêu thương, tôi bỗng hiểu rằng đối với tôi nàng là tất cả. Tôi tưởng tượng ra cảnh nàng, một con người yếu đuối dường ấy, đang lao qua đám đông cảnh sát, dùng răng để cắn và móng tay để cào, không cho chúng bắt và cuối cùng là cảnh chúng nắm tóc nàng kéo lê trên phố. Tôi quay vào nhà hát, chạy lên sân khấu, lao vào hậu trường. Không có Julia, tất cả nhân viên, diễn viên nhà hát đã bị bắt.
Năm tên Cảnh sát Tư tưởng tiến lại, chúng còng tay tôi và nhốt tôi vào một cái tủ. Nửa tiếng sau thì cánh cửa tủ mở, trước mắt tôi là O’Brien.
“Các anh nghĩ ra trò hay nhỉ”, hắn thì thầm, giọng đầy thù hận.
“Julia đâu?”, tôi hét.
“Im đi!”, hắn đáp, nhưng trong giọng nói đã không còn vẻ tự tin như xưa nữa. “Nghe đây”, hắn nói một cách bình tĩnh hơn, “tôi đề nghị anh về nhà và đi ngủ đi. Tôi hứa là sẽ không có chuyện gì với bạn gái của anh đâu. Hiện nay thì chưa có gì đâu”, hắn nói thêm đầy đe dọa. “Đây là lần cuối cùng đấy!”.
Hắn hạ lệnh cho mấy tên kia thả tôi ra. Tôi phản đối và đòi chúng bắt luôn cả tôi. Chúng phải dùng sức mới tháo được còng ra và áp giải tôi về chung cư Chiến thắng. Mấy tên cảnh sát không nói gì trên suốt đường đi, trông chúng rất buồn nản, có vẻ như việc chúng không thể nện tôi nhừ tử ngay tại chỗ đã làm chúng rất lo lắng.
28. O’Brien nói về hậu trường “Cuộc bạo loạn Hamlet”.
Một tuần trước buổi công diễn vở Hamlet tại nhà hát Chiến thắng (trước đây là nhà hát Quốc gia) lãnh đạo Đảng quyết định giảm khẩu phần cà phê và chocolate của Cảnh sát Tư tưởng.
Người ta nói với chúng tôi rằng làm như thế là để giảm sự bất bình đẳng. Nhưng thực ra là người ta đang chuẩn bị một vụ khiêu khích có chủ đích: các nhà lãnh đạo biết rõ rằng lực lượng Cảnh sát Tư tưởng tuyệt vời của chúng ta không bao giờ lại chấp nhận làm người đi tiên phong trong việc lập lại công bằng xã hội.
Một số sĩ quan cao cấp của Cảnh sát Tư tưởng quyết định rằng họ sẽ thanh toán với kẻ thù trước khi chết đói (mặc dù nguy hiểm là chưa trực tiếp). Kế hoạch của họ như sau: bắt các diễn viên và khán giả vở Hamlet, sau đó bao vây lãnh đạo Đảng Nội bộ và bắt giữ cánh ôn hòa của nó. Họ đã thỏa thuận với phái Nhôm như thế. Mặc dù đã chuẩn bị trước, cuộc bạo loạn vẫn thất bại.
Vào phút chót phái Nhôm tỏ ra sợ hậu quả. Lúc đó ở London đang có phái đoàn bí mật của Eurasia, họ sang để đàm phán về hòa bình, Đảng cần phải tỏ ra là một lực lượng đoàn kết trong cuộc đàm phán này. Và nói chung là phái Nhôm bị ám ảnh bởi ý tưởng đoàn kết. Vì vậy họ đã tiết lộ kế hoạch đảo chính cho phái Mẩu.
Sự kháng cự của sinh viên cũng đóng vai trò nhất định làm cho cuộc bạo loạn thất bại. Cuộc kháng cự không có ý nghĩa gì về mặt quân sự, nhưng Cảnh sát Tư tưởng đã mất vào đấy năm phút cực kí quí giá. Đảng Nội bộ đã tranh thủ năm phút này để điều động lực lượng bộ đội nhắm chống lại những cảnh sát nổi loạn. Khi quay về doanh trại Cảnh sát Tư tưởng đã bị lính thủy đánh bộ bắn. Cuộc bạo loạn cuối tháng năm được ghi vào sử sách dưới tên gọi: “Bạo loạn Hamlet” hay “Chiến dịch Elsinore”. Trong số nạn nhân, những chiến sĩ cảnh sát bị kết án tử hình, có một số người dưới quyền tôi, họ là những chiến sĩ tốt, nếu còn sống chắc chắn họ sẽ có đóng góp lớn trong việc khắc phục tình trạng vô chính phủ sau này.
Tôi đã chủ động không tham gia vào hành động thiếu suy nghĩ này. Đúng hơn, tôi chỉ thông báo cho Cảnh sát Tư tưởng biết rằng quân đội sẽ can thiệp.
Sau khi vở Hamlet kết thúc tôi bị gọi đến nhà hát Chiến thắng. Những điều trông thấy làm tôi phát hoảng. Trong số năm mươi xác chết nằm rải rác trên quảng trường có ba mươi sĩ quan Cảnh sát Tư tưởng! Nhưng lúc đó tôi đã không để cho tâm lí báo thù chi phối mà hành động một cách tỉnh táo. Tôi hạ lệnh không được động đến những người bị bắt, trong đó có Julia Miller. Tôi đã cứu được người phụ nữ mà sau này trở thành bộ trưởng Bộ văn hóa Oceania. Tôi không thể nói rằng cô đã tỏ lòng biết ơn... Nhờ sự can thiệp của tôi mà Winston Smith cũng không bị các bạn tôi lúc đó đã như hóa dại đánh đập.
Ngày hôm sau ban lãnh đạo Đảng họp, cuộc họp kéo dài đến tám tiếng đồng hồ. Vì đang trong giai đoạn chuẩn bị các cuộc đàm phán hòa bình nên tất cả đều phải giữ vẻ đoàn kết cao. Các bên chấp nhận giải pháp dung hòa. Chỉ có các Cảnh sát Tư tưởng đã thiệt mạng trong cuộc bạo loạn là bị kết án tử hình, số còn lại được thả ngay. Những người thực hiện cũng như khán giả vở Hamlet cũng được thả ngay. Cảnh sát Tư tưởng tuy không bị giải tán theo như đòi hỏi của phái Mẩu nhưng đã bị chuyển thành đơn vị nằm dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Ngày hôm sau trên tờ Times có đăng thông báo về những sai lầm của Anh Cả, dĩ nhiên là bên cạnh những thành tích của ông.
Sự thống nhất tỏ ra chắp vá và không bền. Các nhóm đối địch trong bộ máy nhà nước buộc phải liên kết vì sợ mặc dù lúc đó cũng chưa thật sự đáng ngại: có thể xứ lí những tên phản loạn trong Đảng Ngoại vi và sinh viên bằng một vụ bố ráp lớn. Tôi đã đề xuất với lãnh đạo Đảng như thế (
Đề xuất này của O’Brien nghe có vẻ kì vì lúc đó ông ta đã dự định rằng nếu cuộc bạo loạn thắng lợi thì sẽ mời những người trong cánh ôn hòa trong Đảng Nội bộ cùng với lãnh đạo cuộc bạo loạn trong Đảng Ngoại vi và quân đội đứng ra lập chính phủ. Nhưng ông ta phải từ bỏ kế hoạch này vì sợ rằng lãnh đạo Eurasia không tin là những diễn giả trong Câu lạc bộ Thứ hai và ban biên tập PCV có đủ sức thành lập chính phủ - ghi chú của người chép sử) nhưng đã không được ủng hộ mặc dù đấy là cơ hội cuối cùng để ổn định tình hình trước khi giai cấp vô sản Oceania, một lực lượng vĩ đại mà Đảng đã miệt thị một cách đầy tội lỗi trong hàng chục năm, ý thức được sự tồn tại và sức mạnh của mình.
29. Giải thích chính thức về những cuộc hòa đàm giữa Oceania và Eurasia.
Hãng thông tấn Oceania ANO được các cơ quan có thẩm quyền giao cho trách nhiệm tuyên bố như sau. Một số phương tiện thông tin Eastasia loan truyền rằng dường như đoàn đại biểu những người chơi tem Eurasia vừa ghé thăm London và được lãnh đạo Đảng ta tiếp đã chuyển giao thông điệp về những cuộc đàm phán hòa bình đang được trù liệu giữa hai nước.
Thông tin này là hoàn toàn không có cơ sở. Đồng thời chính phủ Oceania đánh giá cao các mối liên hệ giữa những người chơi tem hai nước. Các mối liên hệ này, không phụ thuộc vào quan hệ hiện chưa rõ ràng giữa hai chính phủ, có thể tạo ra những bước đi đầu tiên trong việc hợp tác hữu ích sau này (
Chúng tôi không có số liệu về việc liệu hai nước này đã trao đổi bất kì con tem nào chưa – ghi chú của người chép sử).
MÙA HÈ
30. Thông báo chính thức về quan hệ đối với chính sách của Anh Cả
(
Xem: Oceania bằng số liệu (London 1988). Đăng lần đầu trên tờ Times ngày 3 tháng 6 năm 1985 – ghi chú của người chép sử)
|
Số TT |
Năm |
Sai lầm % |
Thành tích % |
Các mặt khác% |
|
1 |
1965 |
0 |
100 |
0 |
|
2 |
1970 |
15* |
80 |
5 |
|
3 |
1975 |
37** |
14 |
23*** |
|
4 |
1980 |
45**** |
không có số liệu |
không có số liệu |
|
5 |
1984 |
49,999***** |
không có số liệu |
không có số liệu |
(Ghi chú của người chép sử:
*Ở đây các nhà thống kê có thể đã liệt kê cả việc quốc hữu hóa vội vàng ngay sau cách mạng.
** Sai lầm nhiều chắc chắn có liên quan đến việc tử hình ba nhà cách mạng tiền bối là Jones, Aaroson và Rutherford.
*** Trong kế hoạch 5 năm 1070-1975 Anh Cả cho giảm sản xuất gạo nên đã gây ra khủng hoảng lương thực. Nhưng sau này mới phát hiện ra rằng lúa không hợp với thổ nhưỡng của nước Anh nên không biết phải coi biện pháp nêu trên là sai lầm hay đóng góp to lớn của Anh Cả.
**** Sai lầm gấp 3 năm 1970 vì một số lí do trong đó có việc bắt và xử tử hình các lãnh tụ công đoàn lúc đó (2,5%), việc giải thích một cách quá cứng nhắc các nguyên lí cơ bản của triết học duy vật (3,8%), động đất vào năm 1978 (1,6%).
***** Trong tài liệu gốc có ghi chú như sau: “Từ tháng ba đến tháng mười”. Đây có thể là biện pháp nhằm che dấu trách nhiệm của Anh Cả trong việc để lực lượng phòng Oceania không bị tan rã. Theo những số liệu của Eurasia thì chỉ nguyên chuyện này đã đưa chỉ số sai lầm của Anh Cả lên 63,5%, nhưng để giữ vững ổn định chính trị Đảng không chấp nhận chuyện đó)
31. O’Brien nói về hậu quả của việc phê phán Anh Cả.
Xây dựng một bộ máy chuyên chính hoạt động hữu hiệu thật là một công việc thiên nan vạn nan! Nhiều khi phải mất hàng chục năm cống hiến cả về thể xác lẫn tinh thần. Thế nhưng bộ máy đó có thể sụp đổ chỉ trong vài tháng, thậm chí vài tuần nếu như các lãnh tụ của nó tỏ ra thiếu tự tin, mất thì giờ vào việc tranh cãi không đúng lúc về đức trị hay là đấu đá với nhau thay vì phải xốc lại hàng ngũ để chống kẻ thù chung.
Việc Đảng đập tan phái Nhôm trong Cảnh sát Tư tưởng cũng tương đương với việc vì muốn loại bỏ một cái mụn mà lại chặt cả cánh tay đi vậy. Dù cánh tay có bị thối rữa đến đâu, nó vẫn cần thiết cho hoạt động sống của toàn bộ cơ thể. Thật đáng buồn khi phải chứng kiến cái cơ thể mạnh mẽ là Đảng cầm quyền Oceania tự giáng cho mình những đòn chí tử và cuối cùng là rơi vào cơn hấp hối.
Trong cuộc hội nghị tháng Sáu, các đồng chí thiển cận phái Nhôm tranh chấp từng đơn vị một trong bảng thống kê. Họ đòi tăng phần trăm thành tích và giảm bớt khuyết điểm đi. Cứ làm như chuyện đó có thể đảo ngược được tình thế không bằng! Uy tín của Anh Cả phải là tuyệt đối, chỉ cần mất nửa phần trăm là chính quyền đã toi rồi.
Niềm tin của đảng viên Đảng Nội bộ và ngay cả của Cảnh sát Tư tưởng vào sự tuyệt đối đúng đắn của hệ thống đã không còn. Trong những cuộc họp Đảng sau đó diễn ra bao cảnh khôi hài. Một số đồng chí kết án nhau vì những tội lỗi mà họ đã phạm khi thi hành công vụ trước đây, một số tự kết án mình, có người còn tự sát nữa.
Nhưng tởm nhất là những người tuyên bố trong những cuộc họp ấy rằng ngay từ trước năm 1985 họ đã nhận ra, hơn nữa còn kịp thời lưu ý Đảng về những sai lầm nữa. Là một người giữ chức vụ cao trong Cảnh sát Tư tưởng, tôi có thể tuyên bố một cách chắc chắn rằng chưa từng có người nào làm như thế cả. Nếu có người nào đó tỏ ra chỉ hơi nghi ngờ thôi là chúng tôi biết ngay và lập tức có biện pháp cần thiết để anh ta chẳng còn lưu ý ai được nữa. Bây giờ thì cuộc họp nào cũng đầy người đứng quanh chủ tịch đoàn và đe dọa công bố “số liệu” (
Ý nói số người bị giết ở Oceania giai đoạn 1960-1984. Chỉ có những số liệu gần đúng mà thôi. Theo các tác giả Eurasia thì trong giai đoạn này có tất cả 8.650.234 người bị tử hình (Xem: Nền chuyên chính đẫm máu của Anh Cả. Irkusk, 1993. Tiếng Anh). Con số này chỉ gồm những người bị kết án vì làm gián điệp cho Eurasia, số làm gián điệp cho Eastasia không được các tác giả Eurasia coi là nạn nhân vô tội. Thống kê của Eastasia cho thấy trong giai đoạn này có 5.496.085 người bị tử hình, nhưng trong số này không có các những nạn nhân bị coi là gián điệp cho Eurasia và phụ nữ vì ở Oceania phụ nữ không phải là đối tượng điều chỉnh của pháp luật (Xem: O-tia-nien 1984. Bắc kinh, 1997. Tiếng Hoa). Những nhà hoạt động chính trị của Oceania bị lưu đầy nói đến con số 300 triệu nạn nhân vô tội, kể cả những người chết trên chiến trường và tai nạn ô tô và thiên tai (Xem: Những năm kinh hoàng. Brazzaville, 2005. Tiếng Đức) – ghi chú của người chép sử). Rất may là ai cũng sợ cho nên đến nay “số liệu” vẫn còn nằm trong vòng bí mật và có lẽ sẽ còn như vậy mãi mãi.
32. Julia nói về cái chết của Parsons.
Tội nghiệp Parsons quá! Ngay từ cuối tháng ba anh đã nói rằng anh bị tự do đầu độc rồi. “Chúng ta có nhiều tự do quá”, anh bảo thế. “Chưa từng có ai cho chúng ta nhiều tự do đến vậy”.
Anh thường kể lại một đoạn trong cuốn tiểu thuyết của nhà văn Anh (
Charles Dickens [2] . Oliver Twist. Nhà xuất bản Puinguin Books. Hongkong 2003 – Ghi chú của người chép sử), mà anh vừa mới đọc gần đây. Nhân vật chính là một chú bé sống trong trại dành cho trẻ vô gia cư. Trẻ em trong trại thường bị bị bỏ đói và bị đánh đập rất dã man. Một lần có một uỷ ban đến thanh tra nhà trẻ. Các thày giáo phát bánh mì và bơ cho các cháu trong những cái mâm lớn, mỗi đứa lấy một miếng. Nhưng nhân vật trẻ tuổi của chúng ta đói quá nên đã lấy thêm một miếng bánh nữa trước mặt đoàn thanh tra. Nhưng khi đoàn thanh tra vừa đi thì đưa bé bị trừng phạt vì đã hành động một cách thiếu suy nghĩ.
“Tôi sợ là chúng ta cũng sẽ bị trừng phạt vì tình trạng tự do quá trớn hiện nay thôi”, Parsons thường bảo thế.
Cứ mỗi lần có một bài báo dũng cảm trên tờ PCV là anh lại vừa thở dài vừa nói:
“Nếu Cảnh sát Tư tưởng đến và bắn ngay tất cả chúng ta lúc này đi thì tốt biết bao!”. Rồi anh buồn bã nói thêm: “Trước sau gì thì tất cả cũng toi thôi”.
Có lần Smith bực bội hỏi rằng thế tại sao anh không bỏ câu lạc bộ và ban biên tập PCV đi. Parsons chỉ khẽ phẩy tay và bảo:
“Muộn rồi! Nhảy ra khỏi con tàu này làm sao được nữa”
Syme chế giễu anh, gọi anh cá thờn bơn, loài cá chỉ sống được với áp suất cao dưới đáy biển, hễ quăng lên bờ là nó sẽ bị nổ bong bóng mà chết.
“Cậu nói đúng đấy, Syme”, anh ta đáp, không hề tỏ vẻ tự ái gì cả. “Rồi các cậu sẽ thấy tớ cũng sẽ bị nổ ra cho mà xem”.
Điều đáng ngạc nhiên là trong những lúc nguy hiểm bao giờ Parsons cũng tỏ ra rất bình tĩnh. Thí dụ lần anh bị bắt khi đi xem diễn vở Hamlet chẳng hạn, anh đưa hai tay cho gã cảnh sát đang cầm còng số tám và bảo: ”Xin mời, các đồng chí, tôi xin chấp hành. Tôi đã dự đoán chuyện này từ lâu. Các đồng chí hãy thực hiện nghĩa vụ của mình đi”.
Anh rất thất vọng khi ngay sáng hôm sau đã được thả rồi! Trong buổi họp ban biên tập vào chiều thứ ba anh ngồi im lặng, buồn bã, không nói một câu nào. Syme bảo anh nên về làm vài viên thuốc ngủ và nghỉ đi.
Parsons đã làm theo đúng lời khuyên của Syme. Tối hôm đó anh uống cả một gói thuốc ngủ và sáng hôm sau cô vợ-sư tử Hà đông thấy anh nằm chết ở trên giường. Dưới gối có một bức thư tuyệt mệnh gửi cho chúng tôi.
33. Thư tuyệt mệnh của Parsons gửi ban biên tập PCV.
Tôi chia tay các bạn vì tôi sợ sống quá rồi, còn thần chết thì lại không làm tôi hoảng sợ nữa. Như người ta vẫn nói: “tự nguyện ra khỏi Đảng” (
Ở Oceania không có thống kê số người tự vẫn. Họ bị liệt vào số “tự nguyện ra khỏi Đảng” mặc dù điều lệ Đảng cấm tự nguyện xin ra – ghi chú của người chép sử). Tôi để lại cho các bạn một số nhận xét về Tuyên ngôn vĩ đại về tự do
[3] , về bản Tuyên ngôn độc lập của Mỹ
[4] , về chương trình của Đảng Dân chủ - Xã hội Nga. Có thể chúng sẽ có ích cho các bạn.
Tôi không phải là kẻ hèn nhát, tôi chỉ quá sợ hãi mà thôi. Cả đời tôi chỉ quen thực hiện lệnh trên. Tôi là một đảng viên tốt, tôi từng tham gia các cuộc dã ngoại tập thể và các cuộc thi đấu thể thao. Tôi không có bạn, điều này cũng chứng tỏ tôi là đảng viên tốt.
Năm ngoái con gái tôi đã tố cáo tôi vì tôi đã lên án Anh Cả khi ngủ mê. Người ta đã bắt và đã tra tấn tôi. Giá họ giết tôi ngay lúc đó thì hay biết mấy!
Sau khi được thả thì tôi bắt đầu suy nghĩ. Chỉ cần thế là xong. Tôi không thể dừng lại được. Nhưng hôm nay suy nghĩ là hành động. Nhưng tôi không thích hành động. Tôi không thích, không thể, không cần. Vì vậy xin vĩnh biệt các bạn mặc dù bên cạnh các bạn thôi luôn cảm thấy rất vui.
Hãy chăm sóc gia đình tôi giúp tôi. Hãy thương yêu vợ con tôi giúp tôi.
Tự do, tôi phải chết mới tránh được nó, muôn năm!
Oliver Twist, cá thờn bơn.
34. Smith nói về đám tang Parsons.
Chúng tôi đặt Parsons bên cạnh những người đã ngã xuống trên quảng trường. Ngày hôm ấy nóng ơi là nóng. Chúng tôi mặc đồng phục đen xếp hàng bên cạnh mộ anh. Whiters mang tới một vòng hoa. Tôi đọc điếu văn. Tôi nhấn mạnh rằng mặc dù bản chất Parsons là một người hiền lành, anh đã tỏ ra là một chiến sĩ tích cực, ngoan cường trong sự nghiệp của chúng tôi. Có thể tôi đã nhắc đến Cảnh sát Tư tưởng bằng những từ quá gay gắt vì tôi thấy O'Brien lắc đầu. Sau khi chôn cất xong anh ta lại gần tôi và trách:
"Anh Smith ạ, chỉ một lần thế này nữa thôi thì vì anh mà sẽ không còn đám tang nào được tổ chức nữa đâu đấy. Mà các anh thì còn phải chôn cất dài dài cơ"
Tôi đi cùng với vợ và các con Parsons từ nghĩa trang Highgate về nhà. Con gái anh, cái đứa đội viên tình báo mới tố cáo bố hồi năm ngoái, liếc xéo người cảnh sát đứng gác trước cửa nghĩa trang với con mắt đầy thù hận. Tôi thấy tội nghiệp cô bé quá. Người ta đã không cho cháu và hàng triệu đứa trẻ đồng trang lứa khác được là con trẻ, còn bây giờ khi có điều kiện thì, sau cái chết của người cha, bị lương tâm cắn rứt, cháu không thể là trẻ con được nữa rồi.
Tôi ngồi nói chuyện với bà Parsons một lúc ở trong bếp. Bà ấy không khóc, nhưng nói rất nhỏ giọng đầy tuyệt vọng:
"Anh hãy nói xem các anh muốn cái gì? Rồi các anh cũng sẽ như anh ấy nhà tôi thôi. Tôi luôn luôn nói với nhà tôi là đừng có giây vào chính chị chính em làm gì. Mà lại vào lúc này khi đã có thể sống được rồi. Chúng ta đã trải qua biết bao nhiêu đau khổ!".
Tôi cảm thấy trong việc này mình cũng có phần trách nhiệm. Tôi hiểu rất rõ quyết định tối hậu của đồng chí Parsons và nỗi sợ hãi đã đưa anh tới quyết định ấy. Lấy gì đảm bảo là phong trào của chúng tôi sẽ sống, sẽ vượt qua vụ hỏa hoạn ghê gớm mà nó đã tự thổi lên này? Có phải là chúng tôi đang làm lịch sử không? Hay chúng tôi đang bị một lực lượng quỉ quyệt nào đó xỏ mũi lôi đi? Ai có thể trả lời những câu hỏi này? Chỉ có một điều chắc chắn, Parsons nói thế nào nhỉ? Đúng rồi: "Nhảy khỏi con tàu này làm sao được nữa!"
"Lạy chúa tôi", bà Parsons bất ngờ lên tiếng, "tôi phải lấy gì mời anh ăn với chứ"
Tôi bảo không đói nhưng bà Parsons cứ nhất định phải đãi tôi mới nghe. Còn một ít bánh mì với mứt.
"Đây là bữa ăn sáng của nhà tôi. Anh ấy không cần nữa rồi"
Vừa khóc bà vừa đưa cho tôi hai miếng bánh mì đã khô với một cục mứt vuông màu đỏ sậm. Tôi không dám chối. Rùng mình vì ghê, tôi đưa vào mồm nhai di sản của Parsons để lại cho chúng tôi.
35. O'Brien nói về chuyến thăm của đoàn đàm phán hòa bình Eurasia.
Là người đứng đầu lực lượng Cảnh sát Tư tưởng London, tôi có trách nhiệm tổ chức đón tiếp đoàn đàm phán hòa bình Eurasia. Tôi ra lệnh đưa ra sân bay năm chiếc xe chống đạn Chiến thắng, niềm tự hào của ngành công nghiệp ô tô Oceania. Đội mô tô hộ tống cũng đợi sẵn ngay cạnh đường băng.
Phái đoàn bước ra từ chuyên cơ của chính phủ Eurasia. Họ đi ngang qua đội danh dự, tập hợp từ những đơn vị còn sót lại sau trận đại bại vừa qua của chúng tôi, trẻ em tặng cho phái đoàn những tấm huy hiệu. Sau đó chúng tôi long trọng mời khách lên những chiếc ô tô đợi sẵn.
Lúc này bắt đầu xảy ra một chuyện kì lạ. Lãnh đạo đoàn, ông đại sứ đặc mệnh toàn quyền Eurasia, một người đàn ông béo tốt, răng vàng chóe, nhẹ nhàng thông báo với chúng tôi rằng họ không còn sử dụng loại phương tiện giao thông cũ kĩ này nữa: cách đây mấy năm họ đã tìm được cách giải quyết vấn đề giao thông trong thành phố. Ông ta lấy từ túi áo trong ra một cái lọ nhỏ như lọ thuốc tiêm và uống ực ngay một hớp. Những người khác trong đoàn cũng làm y như thế (
O'Brien trình bày không chính xác nguyên lí bay của người Eurasia. Thực ra họ bay là nhờ vào một bộ phận lắp sẵn vào quần áo, còn "những cái lọ bay" là chứa chất chống nôn gọi là Delakon - ghi chú của người chép sử). Họ đứng yên như thế vài giây, mắt nhắm lại, rồi lần lượt, theo cấp bậc, từng người một bay bổng lên không trung. Đầu tiên là ông đại sứ, sau đó là các chuyên viên, phiên dịch viên và cánh nhà báo. Các nhân viên an ninh Eurasia xuất phát sau cùng, họ lập thành hai đội bảo vệ bên trên và bên dưới, cách đội hình chính năm mét, còn những người kia thì bay các mặt đất mười mét.
Tôi đứng như hóa đá. Ảo tưởng về về tính ưu việt của nền kĩ nghệ Oceania mà Đảng luôn luôn khẳng định trong suốt hai mươi năm qua đã tan thành mây khói.
Chúng tôi chạy vào đường cao tốc nối với London, tâm trạng vô cùng nặng nề. Để cho những người bay bên trên, những kẻ thù cũ của chúng tôi không bị lạc, chúng tôi ra hiệu cho họ bằng cách nháy đèn và bóp còi inh ỏi, nhưng họ không cần. Họ có một tấm bản đồ chính xác và rất cụ thể, nhờ đó họ tìm được chỗ cần phải đến một cách chẳng khó khăn gì. Thế mà biết bao năm nay chúng tôi vẫn viết trên báo chí rằng hệ thống an ninh của Oceania không hề có một kẽ hở nào!
Cuộc trình diễn sự vượt trội quá mức về kĩ thuật này không chỉ làm dân London kinh hoàng mà còn là đòn trí mạng giáng vào phái đoàn đàm phán của chúng tôi nữa. Bây giờ thì rõ ràng là chẳng thể đàm phán được điều gì khác hơn là một cuộc đầu hàng vô điều kiện. Không còn chút hi vọng gì đối với hòa ước sẽ phải kí kết nữa.
Cố làm ra vẻ như cuộc đàm phán đang tiến triển tốt, lãnh đạo Đảng tổ chức nhiều chưong trình giải trí cho đoàn Eurasia. Mọi việc đều tốt nếu một hôm vợ chồng ông đại sứ đặc mệnh toàn quyền không tỏ ý muốn thăm quan cửa hàng bách hóa ở London. Chắc là gián điệp của họ hoạt động cũng không mấy hiệu quả nếu không thì họ đã biết là cửa hàng bách hóa cuối cùng ở London đã đóng cửa ngay từ năm 1970 kia. Làm gì bây giờ? Phải tổ chức ngay lập tức một cửa hàng bách hóa truyền thống, thực sự tại London. Như Anh Cả đã từng nói: "Không có việc gì khó. Chỉ cần có quyết tâm"
[5] (
Xem: Những câu trả lời của Anh Cả cho sinh viên khoa Nước đôi trường Hàng không - ghi chú của người chép sử). Năm trăm Cảnh sát Tư tưởng được giao nhiệm vụ thực hiện việc này. Nhờ sự giúp đỡ của các họa sĩ trang trí nhà hát Chiến thắng mà chúng tôi có thể tái tạo một cửa hàng bách hóa đã đóng cửa suốt mười lăm năm qua trong chưa đầy ba giờ đồng hồ. Chúng tôi lấy hàng từ các kho bí mật của Đảng Nội bộ bày đầy tủ kính, trước cửa còn có cả một dàn đèn quảng cáo, chuyện này trông có vẻ hơi ngồ ngộ vì đoàn của ông đại sứ bay tới vào lúc mới có ba giờ chiều.
Các cô bán hàng, tất cả đều là nhân viên Cảnh sát Tư tưởng, mặc rất diện và đeo trên mình đủ thứ trang sức. Người mua thì được chọn trong số đảng viên nội bộ trung kiên nhất. Mua như thường lệ xong họ phải đi qua một cửa bí mật và nộp lại tất cả vào kho nhà nước.
Chiến dịch thành công một cách tuyệt vời. Ông đại sứ Eurasia mê nhất là gian hàng vải. Các nhân viên trang trí nhà hát, vừa được thả, rất nhiệt tình, đã mang đến toàn bộ các tấm pa nô vở Hamlet để trang hoàng cho cửa hàng bách hóa. Ông đại sứ lấy làm ngạc nhiên khi thấy các khách hàng cười tươi, tràn đầy hạnh phúc dạo quanh những gian hàng đầy ắp hàng hóa. Thông qua người phiên dịch ông hỏi có phải Oceania đã phát minh ra loại thuốc có thể làm cho công dân của mình luôn luôn vui vẻ, vô tư hay không. Cuộc viếng thăm cửa hàng bách hóa diễn ra suôn sẻ, không có sự cố gì. Chỉ có một trường hợp duy nhất, có thể nói là chưa được như ý thôi. Đấy là khi ông đại sứ mua một cái tẩu Anh truyền thống và bà đại sứ mua một cái áo lông Đại chiến thắng thì một người phụ nữ còn trẻ đã ngất xỉu khi trông thấy quá nhiều hàng hóa trong quầy thực phẩm. Rất may là có hai khách hàng khác kịp chạy lại và mang người phụ nữ kia đi.
Buổi tối nhà hát Chiến thắng tổ chức biểu diễn chiêu đãi. Lần này chỉ có Cảnh sát Tư tưởng được vào xem Hamlet thôi, họ bình tĩnh hơn đám khán giả hôm trước nhiều. Phái đoàn rất thích vở diễn. Các bạn Eurasia đặc biệt ngạc nhiên khi trông thấy xung quanh tường Elsinore các tủ kính với những hàng hóa đắt tiền lấy từ kho của Đảng Nội bộ: các nhân viên trang trí vội quá, chưa kịp đem đi cất. Ông đại sứ nói rằng sáng kiến này của đạo diễn là để nhấn mạnh tính thời sự của vở Hamlet và ông cho là rất hay.
36. Smith nói về chuyến thăm của nữ kí giả Eurasia.
Maria Kowen là một cô gái đẹp, đúng là một người ngoại quốc (
Ngụ ý câu thành ngữ: "Đẹp như người đàn bà ngoại quốc - ghi chú của người chép sử). Tôi khẳng định như vậy không chỉ vì rằng trước đây tôi chưa từng gặp một người đàn bà nước ngoài nào. Bây giờ, khi London đầy các phóng viên Eurasia thì không ai còn coi chuyện này là đặc biệt nữa. Nhưng lúc đó, cái thế giới xa lạ này còn là một cái gì đó mới lạ, bí hiểm đối với tôi. Lúc đó tôi cho rằng Maria là hiện thân của người Eurasia mà hệ thống tuyên truyền của Anh Cả vẫn mô tả một cách bịp bợm là bọn người thô lậu, chẳng khác súc vật là bao (
Maria Kowen là một nữ phóng viên đầu đàn của Eurasia, cô nổi tiếng vì hai lí do, hoặc là cô ngủ với người được cô phỏng vấn hoặc là cô cho họ một cái tát. Đối với Smith thì có thể là do Eurasia rất muốn giảm căng thẳng nên cô chọn phương án đầu - ghi chú của người chép sử).
O'Brien dẫn cô đến gặp tôi và Julia để tìm hiểu về đời sống tinh thần của các đảng viên Đảng Ngoại vi.
"Có thể kể tất cả những gì các vị muốn", anh ta bảo, "nhưng đừng để cô ta chiêu mộ đấy".
Buổi nói chuyện đầu tiên diễn ra trong quán cà phê Cây dẻ. Trước khi bắt đầu phỏng vấn Maria lấy từ trong túi xách ra một cái bút bi mà sau này tôi mới biết là có thể dùng làm nhiệt kế, làm máy thu thanh và bút chì kẻ lông mi nữa, chỉ cần nhấn đúng cái nút cần thiết là xong. Maria còn có một cái lọ nhỏ có nhiều đầu, dùng để khử mùi, cô thường khéo léo hướng vào những chỗ khác nhau trên cơ thể kiều diễm của mình hay phun vào phòng bi-a nơi chúng tôi ngồi những mùi khác nhau như mùi mơ hay mùi anh đào. Khi bấm vào nút màu xanh da trời thì nó sẽ phun ra một luồng khí ôzôn mát dịu khắp phòng.
Tóc cô cắt ngắn, như con trai, đôi mắt màu xanh nhạt mở to và da thì sao mà mềm mại đến thế. Cô không mang xu chiêng và hai đầu vú màu nâu thì như sắp xé rách chiếc áo lụa mỏng đến nơi. Chiếc quần chật phơi ra trước mắt người ta cái mu tuyệt vời nhất trần đời, đặc biệt là khi cô ngồi, chân hơi dạng ra.
"Mục đích của phong trào của các anh là gì?", cô hỏi.
"Mục đích à?", tôi hỏi lại vì chưa rõ ý cô, "Còn mục đích gì nữa? Chúng tôi muốn thoát khỏi chế độ độc tài"
"Tuyệt quá", Maria nói, thế sau đó các anh định làm gì? Sau đó?", cô ấy hỏi cứ như thể chúng tôi sắp đi câu cá hay chơi đánh gôn không bằng.
"Ý tôi muốn nói, thí dụ, các anh có giữ lại Chuanh không", cô giải thích thêm.
"Chuanh? Dĩ nhiên. Vâng", tôi khẳng định mặc dù không hiểu cô hỏi thế để làm gì. Sau nữa, cô nghĩ Chuanh là gì mới được chứ?
"Điều này sẽ rất được độc giả Eurasia quan tâm", Maria tiếp tục. "Anh có thể nói cụ thể hơn? Anh muốn có một tương lai như thế nào cho nhân dân Oceania?"
"Vâng, chị biết không", tôi lúng túng đáp, "tôi sẽ rất hạnh phúc nếu biết chuyện gì sẽ xảy ra trong vòng ba tháng nữa"
"Tiếc quá", Maria cắn môi. "Bên nước tôi cũng có rất nhiều người tàn nhẫn, tôi đã hi vọng anh sẽ nói điều gì có thể an ủi được họ"
Thực chất buổi nói chuyện chỉ có thế. Không, còn thêm chút xíu nữa. Sau buổi phỏng vấn, khi trong phòng bi-a chỉ còn hai người, tôi đã định hôn cô. Cô đã lịch sự, nhưng kiên quyết từ chối.
"Thưa ngài Smith", cô nói, "tôi không phải là quả táo để ai thích là đều có thể cắn lấy một miếng. Ở nước tôi phụ nữ có thói quen chuẩn bị trước khi làm cái việc anh đang muốn đây"
"Chuẩn bị à? Về tâm lí chứ?"
"Cả về tâm lí lẫn sinh lí. Phải uống một viên thuốc để có hứng đã. Nó cũng bảo đảm là người phụ nữ sẽ không tạo ra, trái với ý nguyện của mình, một người lính nữa cho quân đội của chúng tôi"
Ngày hôm sau chúng tôi gặp nhau trong nhà khách của Đảng Nội bộ. Cô hỏi tôi rất lâu về đời sống dưới thời Anh Cả. "Có thật khủng khiếp đến thế không?". "Các vị không được ra nước ngoài à? "Kiểm duyệt hoạt động ra sao?", các câu hỏi đại loại như thế, chứng tỏ người hỏi không những hoàn toàn thiếu thông tin mà còn cực kì ngây thơ nữa. Cuối buổi nói chuyện cô điềm tĩnh thông báo với tôi rằng cô vừa uống thuốc cách đây vài phút, nó sẽ có tác dụng sau nửa tiếng nữa, tôi cần chuẩn bị đi.
Bốn mươi lăm phút sau chúng tôi chia tay. Maria tặng tôi chiếc bút bi vạn năng làm kỉ niệm. Trong tất cả các trò của nó thì tôi thấy khoái nhất là dùng làm máy thu thanh. Một vật nhỏ tí, nằm ngay trong túi, sát ngực, nhưng lại có thể làm người ta an tâm vì nó tạo cảm giác cả một thế giới vô hình ngay bên cạnh.
Sau khi cách mạng thất bại, tôi bị bắt, thế mà không hiểu sao tôi vẫn mang theo được cái tặng phẩm nhỏ xíu này của Maria vào trong tù. Cuối tháng mười, sau đợt hỏi cung thứ nhất, tôi nằm vật ra giường, lấy tay lần xuống dưới lớp nệm rơm, đấy là mối liên hệ duy nhất còn lại với thế giới bên ngoài. Nhưng vô ích. Pin nếu chưa hết hẳn thì cũng chỉ còn đủ để đánh lông mi nữa mà thôi.
37. Julia cũng nói về việc trên.
Tôi không trả lời phỏng vấn của cái cô phóng viên ngươi Eurasia đó. Trước hết cô ta là người ngoại quốc, nghĩa là trước khi kí hiệp định hòa bình thì cô ta vẫn còn là địch. Kẻ thù! Còn O'Brien, tôi không tin anh ta đến mức chỉ nghe lệnh miệng đã vội đi nói chuyện với kẻ thù rồi.
Thứ hai, cái cô Maria Magdalina này ăn mặc loè loẹt trông cứ như một con vẹt và thái độ thì rất bất lịch sự nữa. Chẳng khác gì mấy con ranh lúc nào cũng quẩn bên ban biên tập PCV, mấy con bé trong Hiệp hội Chống Tình dục ấy. Khi cô ta xuất hiện trong quán cà phê Cây dẻ, bọn ấy lao ngay tới, như muốn lột trần cô ta ra để xem xét quần áo không bằng. Bọn đàn ông cũng vậy, nghiêm chỉnh như Syme, thông minh như Whiters và nhất là Smith, tất cả bọn họ đều muốn được lột trần truồng ngay con người rất bình thường đó chỉ vì một lí do cô ta là người ngoại quốc. Sự cách li của chúng ta với thế giới bên ngoài là nguyên nhân của tình trạng hiếu kì và ham muốn một cách bệnh hoạn, đến nỗi ngay cả những người có giáo dục và đứng đắn cũng phát điên phát cuồng lên. Phải mấy tuần sau, ở cả ban biên tập cũng như câu lạc bộ người ta vẫn còn nói về cái con người kì quặc đó. Cho nên tôi đã để cô ta ngồi với Smith trong quán cà phê: họ muốn làm gì cũng mặc! Tôi đoán là Smith sẽ không bỏ lỡ cơ hội đâu.
Nguyên nhân thứ ba là tôi không có điều kiện kiểm tra xem cô ta có viết đúng những điều tôi nói không. Đáng lẽ Smith cũng phải hiểu điều đó, nhưng thói háo danh của đàn ông thì vô cùng lắm!
Đúng lúc đó tôi đã đi đến kết luận chắc chắn như sau: dù hoàn cảnh sống có tồi tệ đến đâu đi nữa thì một người trung thực cũng không được phàn nàn với người nước ngoài. Điều đó đặc biệt đúng lúc này, khi mà mọi người đều có quyền muốn nói gì thì nói, dĩ nhiên là với thiện ý và chấp nhận được về mặt hình thức.
Buổi nói chuyện của cô ta với Smith đúng là đã được công bố. Tôi biết vì sau này, trong phiên tòa xử Smith, một nhân viên quán cà phê đã ra làm chứng, chắc hắn nghe trộm hai người. Smith đòi đưa bài phỏng vấn đã đăng báo vào hồ sơ vụ án, và tòa, lúc đó đã có rất nhiều thay đổi rồi, đã đáp ứng nguyện vọng của anh ta.
© 2004 talawas
[1]Shakespeare William (1564-1616) - Kịch tác gia Anh.
[2]Dickens Charles Huffham (1812-1870) – Nhà văn Anh.
[3]Tuyên ngôn vĩ đại về tự do (Magna Carta hay Magna Charta) – Tuyên ngôn chính trị, được vua John kí năm 1215 dưới áp lực của tầng lớp quí tộc, đảm bảo một số quyền tự do chính trị và dân sự, là những nguyên lí căn bản của Hiến pháp Anh cho đến ngày nay.
[4]Tuyên ngôn độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1776 của Hợp chủng quốc Hoa kỳ.
[5]Nguyên văn: “Ý chí có thể biến những điều không thể thành có thể”.