trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Tư tưởng
Tôn giáo
  1 - 20 / 124 bài
  1 - 20 / 124 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngTôn giáo
3.2.2005
Thích Bình Thường
Những điều nghịch lý
 
Đọc qua bài Mặt hồ dậy sóng, hay sự buôn bán những “bóng ma” do tác giả Đỗ Xuân Phương viết, một người với kiến thức trung bình cũng có thể nhận thấy ngay nhiều điều nghịch lý trong lập luận của tác giả.


1.

Điều nghịch lý thứ nhất là tác giả muốn biến món nợ của mình thành nợ của khách hàng để đòi nợ. Trong bài Trả lời bài “Bàn về Thượng đế cùng Quentin Smith” của ông Đỗ Xuân Phương tôi đã minh thị viết:

“Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên.”

Ở phần cuối của thân bài, tôi cũng đã không quên nhắc khéo tác giả:

“Tôi không thể đồng ý với tác giả khi tác giả viết rằng: “Cho đến ngày nay thì chúng ta biết rằng đức tin ấy là có cơ sở khoa học…” Tôi không thấy tác giả cho độc giả biết dựa vào đâu để tác giả xác quyết điều đó. Nếu đã có cơ sở khoa học thì đâu cần phải gọi là đức tin, mà phải đổi thành chân lý khoa học mới đúng. Cho đến nay chưa có khoa học nào, kể cả luận lý học, có thể chứng minh bằng những phương pháp khoa học có một Thượng đế hiện hữu, nghĩa là chẳng có đức tin nào có cơ sở khoa học.”

Vậy cái món nợ chứng minh có một Thượng đế hiện hữu như tác giả đã khẳng định trên giấy nợ không những đã được tác giả cố tình quên trả mà tác giả lại còn dư can đảm đòi ngược lại chủ nợ. Ở đây chúng ta thấy rõ ràng tác giả không lý gì đến nguyên tắc ai là người phải trưng bằng chứng (burden of proof) [1] . Nguyên tắc này sẽ dẫn đến một kết luận ngụy biện, sai lầm khi đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên. Để dễ hiểu hơn, chúng ta chỉ cần đưa ra một nguyên tắc căn bản trong luật học rằng một người được xem là vô tội cho tới khi được chứng minh là có tội. Vậy trách nhiệm chứng minh nằm ở luật sư công tố, không phải ở nơi bị can. Nếu luật sư công tố không chứng minh được bị can phạm tội thì bị can không cần phải chứng minh rằng mình không có tội mà vẫn vô tội. Trong một cuộc tranh luận, bên có trách nhiệm trưng bằng chứng là bên tuyên bố một vật gì hiện hữu, chẳng hạn như có Thượng đế, có ma quỉ, có người hành tinh, có ông già Noel, hoặc có những quyền lực siêu nhiên… Nếu tác giả không thể chứng minh có Thượng đế bằng những bằng chứng hẳn hoi thì phải kết luận là không có Thượng đế, thế là xong; phía bên kia không cần phải chứng minh một điều gì khác. Khi tác giả đòi hỏi phía bên kia phải chứng minh không có Thượng đế là tác giả đang sử dụng ngụy biện “burden of proof” để hòng đi đến kết luận là có một Thượng đế hiện hữu; dĩ nhiên nếu phía bên kia không chứng minh được, vì tác giả dư biết rằng thường là sẽ rất khó chứng minh hơn cho một phủ định. Lối lý luận như vậy rõ ràng đã đi đến một kết luận sai lầm, ngụy biện vì đã đặt trách nhiệm trưng bằng chứng không đúng bên. Tác giả đang muốn biến món nợ của mình thành món nợ của khách hàng để đòi nợ, mặc dù phải dùng lối ngụy biện vi phạm một nguyên tắc căn bản trong luật học.


2.

Điều nghịch lý thứ hai là tác giả đang rao bán một món hàng không có thực nên không tôn trọng nguyên tắc “tiền trao cháo múc” trong giao dịch buôn bán. Hàng của tác giả là một hàng không có thực, chứ đừng nói chi đến hàng giả mạo, vì tác giả chưa bao giờ trình bày một chứng minh nào để thuyết phục khách hàng tin là mình có hàng, ngoài điều mang những “bóng ma của các công án thiền” ra để úp úp mở mở, lập lòe đánh lừa những người nhẹ dạ. Tác giả còn khẳng định vũ trụ có những khả năng trước khi vũ trụ hiện hữu mà cũng chẳng đưa ra một chứng minh nào. Điều khẳng định này của tác giả không những nghịch với những quan sát thông thường của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày; và còn nghịch lại nguyên lý hiện hữu có trước yếu tính (existence precedes essence) [2] của Martin Heidegger, nghĩa là một vật phải hiện hữu trước khi có những khả năng. Vậy xin hỏi tác giả rằng khả năng của tác giả trước khi tác giả được sinh ra là gì? Không có cháo để múc bán mà đã đòi tiền khách hàng, vậy điều đó không phải là một điều nghịch với lý lẽ thông thường sao?


3.

Điều nghịch lý thứ ba là tác giả đã tự mâu thuẫn khi tác giả xem trí tuệ và mọi kiến thức khoa học như rác rưởi, lòe loẹt ngoại lai, và chỉ dùng Thiền để biết và hiểu Thượng đế. Phải nên biết rằng tác giả đã viết nhiều bài ca ngợi và khuyến khích sử dụng trí tuệ đăng trên talawas. Có một bài có cái tựa Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH! “ trong đó tác giả đã viết như sau:

“Sự trưởng thành ấy khiến con người có một tầm nhìn bao quát, chung nhất, bao trùm mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ và cùng với nó, là tình yêu thương và sự cảm thông, xuất hiện như hệ quả tất yếu của trí tuệ cao cả. [3]

Hơn nữa, trong bài “Khai sáng và giác ngộ” tác giả còn viết rằng:

“Thêm nữa, trong "bát chính đạo" của Phật Thích ca (ông TLK đọc nhiều hẳn là đã biết), có một đạo là "chính tinh tiến", một lời nhắc nhở cho người thực hành thiền định phải dụng công phu trí tuệ, quán chiếu sự thật. Đã gọi là "tinh tiến" thì không thể là nghỉ ngơi trong mọi khía cạnh. Nếu hiểu nghỉ ngơi là nghỉ ngơi thân xác hay là một sự "dọn dẹp" về tinh thần, thì tôi đồng ý rằng: thiền định cần đến sự nghỉ ngơi, một sự nghỉ ngơi cần thiết để chuẩn bị cho người ấ́y bước vào hoạt động trí tuệ với cường độ cao - thấu triệt chân lý. [4]

Vậy có phải lần này tác giả đang tự mâu thuẫn khi xem trí tuệ và kiến thức khoa học như rác ruới, lòe loẹt ngoại lai không? Một quan niệm kiểu như “sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc” chỉ là trò chơi chữ ngụy biện để giữ chúng ta ngụp lặn mãi trong mê lộ, một thiên la địa võng không lối thoát. Tôi cho rằng tác giả đang có những quan điểm bất nhất, lập luận luẩn quẩn theo lối ngụy biện cốt để đi đến kết luận mà tác giả đã có thành kiến. Tôi không lấy đó làm ngạc nhiên vì tôi đã biết rằng trí tuệ là vũ khí lợi hại nhất để giúp con người tránh sai lầm, nên đó chỉ là hệ quả tất yếu của việc vứt bỏ trí tuệ và mọi kiến thức khoa học vào sọt rác. Trí tuệ và mọi kiến thức khoa học nhất định không phải là những “mặt hồ dậy sóng” làm cản trở con người thấy chân lý. Chỉ có lối nhìn của những người thiển trí kiểu “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” mới làm cản trở con người trong việc tìm chân lý.


4.

Thực ra, Thiền chỉ là một trong rất nhiều phương pháp giúp ta đạt hạnh phúc, không phải giúp ta biết và hiểu Thượng đế như tác giả đã trình bày. Nếu bạn thực hành Thiền để có một trí óc minh mẫn từ đó bạn có thể có những tư tưởng tích cực hơn cho cuộc sống của bạn thì một người khác chơi thể thao hay tập “yoga” cũng có thể đạt được cùng kết quả. Kết quả nhiều ít thì còn tùy thuộc cách thức thực hành. Thiền Tông là một trong nhiều tông phái khác nhau của đạo Phật. Đạo Phật có cứu cánh diệt khổ, còn những thứ gì khác thì không muốn lý đến. Đạo Phật và đạo Kỳ Na cùng có một mẫu số chung là vô thần. Dùng Thiền để biết và hiểu Thượng đế là đi nghịch với giáo lý Phật giáo. Chính đức Thích Tôn cũng đã từ chối sự hiện hữu của Thượng đế trong khi ngài đọc kệ:

“Ai có mắt hãy nhìn cảnh khốn khổ kia
Sao Brahma không tạo ra pháp tốt lành
Và nếu quyền năng Ngài vô hạn
Sao tay Ngài không giơ lên chúc phúc
Sao tạo vật chìm đắm trong đau khổ
Mà Thượng đế vẫn làm ngơ
Sao dối trá si mê ngự trị
Sao chân lý và lẽ công bình bị chà đạp
Ta coi Brahma ấy bất nhân
Vì đã sáng tạo nên một thế giới hư hỏng
Nếu có đấng Tối cao
Tạo ra kẻ lành kẻ dữ
Tạo ra điều thiện điều ác
Thì tội lỗi do Ngài
Còn con người bất khả và vô can.” [5]

Còn trong kinh Kỳ Na cũng có viết:

“Kẻ điên mới phát biểu Tạo hóa sáng thế
Thuyết sáng thế vô căn cứ đáng bị bác bỏ
Nếu Thượng đế là đấng siêu nhiên không phụ thuộc thì Ngài ở đâu?
Thế gian chẳng cần tài năng sáng tạo của thần linh
Khởi thủy và cách chung tự nó vẫn thế chứ đâu phải do ai tạo ra.
Đó là nguyên lý hiện sinh và tồn tại Mahapurana.” [6]

Chẳng cần phải có MBA, một người có kiến thức trung bình cũng hiểu được rằng hàng bán không được là tại chính món hàng không đủ tiêu chuẩn, nay thế này mai thế nọ, không đáp ứng được thị hiếu quần chúng; và cũng tại chủ tiệm quảng cáo không đủ hữu hiệu thuyết phục khách hàng. Vậy xin đừng phàn nàn chê trách khách hàng chúng tôi không đủ phong lưu hay không có tiền dư bạc dả để mua hàng!

Dù sao thì tôi vẫn thích phong cách bán hàng của Mã Đại Sư hơn, mặc dù cả hai, ông và tác giả, chẳng ai bán được hàng.

© 2005 talawas



[1]Độc giả có thể vào địa chỉ sau đây để tìm hiểu về cách dùng “burden of proof” để ngụy biện: http://search.yahoo.com/search?fr=FP-pull-web-t&p=burden+of+proof
[2]S.E. Frost, Jr. Ph.,D, Basic Teachings of The Great Philosophers, trang 265, Anchor Books, A Division of Random House, Inc. New York.
[3]Đỗ Xuân Phương, Sapere aude! Hãy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH MÌNH!, talawas 27-2-2004.
[4]Đỗ Xuân Phương, Khai sáng - Giác ngộ, Trao đổi với ông Trần Lai Khê, talawas 3.4.2004.
[5]Phan Thiết, Hành hương đất Phật, Ký sự, trang 11 và trang 74, Southern Stars Publisher, Australia.
[6]Sđd