trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Tư tưởng
Tôn giáo
  1 - 20 / 124 bài
  1 - 20 / 124 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngTôn giáo
14.2.2005
Đỗ Xuân Phương
Đức tin vào Thượng đế của nhà vật lý
 
Tôi không ngạc nhiên khi đọc bài viết “Những điều nghịch lý” của tác giả Thích Bình Thường (TBT), một phần vì đã dự liệu trước những rắc rối có thể xảy ra do sự hạn chế của ngôn từ khái niệm, phần khác là kinh nghiệm của các vị tiền bối rằng món hàng Thượng đế không hề dễ dàng buôn đi bán lại. Nhưng dù sao, cái sự sống “đi vào kêu la” đã thúc đẩy những ngón tay của tôi gõ trên bàn phím chứ không thể “thở dài bước ra” với một kết thúc như thế.

Xin trích lại câu của tác giả TBT:

“Tôi xin xác định hiện nay chưa có bộ môn khoa học nào có thể chứng minh có hay không có Thượng đế. Khoa học chỉ có thể chứng minh được rằng một vật có thể tự hiện hữu mà không cần một nguyên nhân đầu tiên.”

Cơ sở khoa học, đồng thời là khởi nguồn cho cuộc thảo luận về đề tài Thượng đế hôm nay, chính là lý thuyết vũ trụ học của giáo sư Stephen Hawking mà tôi đã trích dẫn không ít hơn hai lần. Có lẽ vấn đề là ở chỗ tác giả TBT không tiếp cận được với hệ quả triết học của lý thuyết này, nên cứ nhất mực cho rằng đã là khoa học thì không có chỗ cho những quan niệm về Thượng đế. Nay tôi muốn hỏi lại tác giả TBT: liệu có thể đặt cái tên nào dễ gọi hơn cho cái vật có thể tự hiện hữu mà không cần đến một nguyên nhân đầu tiên đó chăng?

Một điều cần nhấn mạnh là, tuy nội dung của lý thuyết này không có chỗ nào chỉ đích danh Thượng đế, song khi xem xét kỹ càng thì không nhà vật lý nào cũng dám loại trừ việc hiểu Thượng đế hiện hữu trong một yếu tố có tên gọi là “nguyên lý vị nhân” (anthropic principle). Mặt khác, với sự ra đời của cơ học lượng tử, quyết định luận khoa học (Scientific determinism) từ lâu đã không còn giúp con người tự tin vào việc điều khiển mọi chuyện với độ chính xác cao hơn giới hạn của nguyên lý bất định (Uncertainty principle). Nếu như sự kiện xảy ra mà không thể đoán định trước với độ chính xác tuyệt đối, thì chúng ta phải thừa nhận có sự hiện diện của một thế lực ẩn giấu đằng sau xác suất tính của sự kiện đó. Khoa học một khi đã ngồi đồng hạng với sự may rủi thì liệu có còn giữ được vị thế của một quan toà công minh nữa không? Câu trả lời đã quá rõ, vấn đề bây giờ chỉ còn là thái độ của chúng ta, những con người, trước sự thật lạnh lùng này.

Có hai thái độ khả thể của con người mà lần trước tôi đã gọi là đức tin vô thần và đức tin hữu thần, trên cơ sở nối tiếp những ý kiến của Q. Smith. Như đã nêu ở trên, cả hai đức tin đều rút ra từ cùng một lý thuyết vũ trụ học, song lại có sự phân biệt về hệ quả tâm lý đối với một cá nhân cụ thể. Trong đức tin vô thần, vì không quan niệm được tính chất thiêng liêng của hiện hữu nên tâm cảm của nhà vô thần trở nên lạnh lùng, khách quan trước những biến đổi của thế giới, giống như thể du khách lững thững đi dạo quanh ngắm các con vật nhốt trong sở thú. Trái lại, đức tin hữu thần gắn sự tồn tại của cá nhân với vạn hữu trong một sự liên kết vô cùng phong phú và vi tế, đến mức có thể nói là thần thánh. Nhận thức về sự liên kết này dẫn tới tâm cảm nồng nhiệt và cảm thông màu nhiệm, cái trạng thái ấy lại có tác động ngược lại tới khả năng nhận thức khiến cho nhận thức vươn xa khỏi những giới hạn của giác quan. Một bằng chứng sống động là nhà vật lý gốc Việt - giáo sư Trịnh Xuân Thuận, người đã thể nghiệm cái cảm xúc hoà điệu vào nghiên cứu vũ trụ. Trong chuyến đi giảng dạy tại Việt Nam tháng 7/2004 vừa qua, ông cho biết: “sự hoàn hảo và hài hòa tuyệt vời của vũ trụ khiến ông tin vào nguyên lý sáng tạo, tức là vũ trụ hiện nay không phải được sinh ra ngẫu nhiên, mà được sáng tạo có chủ ý. Tuy nhiên, "đấng sáng tạo" đó không phải là con người cụ thể, như Chúa hay Phật tổ” [1] . Đương nhiên vế sau trong phát biểu của giáo sư Thuận trùng với ý của Q. Smith trong việc đả phá sự mê tín vào một Thượng đế nhân cách hoá hình thành do ngu muội của nhiều thế hệ con người.

Trong bài viết đầu tiên của mình, tôi đã thử định nghĩa Thượng đế là tập hợp mọi khả năng (100%) của vũ trụ, nhưng cũng chẳng có gì trở ngại nếu gọi nó bằng một cái tên khác như Thiên nhiên vĩ đại chẳng hạn. Thượng đế chỉ là một cái danh xưng theo truyền thống Do Thái, trỏ vào thế lực đã tạo tác nên những gì chúng ta đang thấy. Các nền văn hoá khác, cộng đồng khác, thậm chí bất kỳ người nào cũng có thể có những cái tên khác đặt cho nó. Có cái tên dài dòng như Chân như tự tánh bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh, cũng có cái tên cụt lủn một chữ như Đạo; có cái tên tha thiết đầm ấm như Cha của chúng con ở trên trời mà cũng có cái tên nghe lạnh lùng như Hiện thực khách quan; có cái tên vang vọng như Allah mà cũng có cái tên tầm thường như Vật ấy. Mọi quan niệm của loài người về hiện hữu đó đều hội tụ, mười phương tám hướng đều thấy vật ấy là cái Một - Duy nhất.

Khi so sánh ý nghĩa mà không câu chấp tiểu tiết các danh tự kể trên, đã có một âm vang mà tôi tin tưởng rằng đó là sự đồng điệu của các học thuyết lớn trong lịch sử nhân loại. Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ biện luận rất sơ sài những tính chất của Thượng đế qua lăng kính của vật lý học, đó là Thượng đế bất tử, toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ. Bất tử thì đã rõ, vì lý thuyết vũ trụ học của giáo sư Hawking đã cho chúng ta biết rằng vũ trụ tự thân tồn tại; Toàn năng, bởi vì hết thảy mọi sự vật từ dải Ngân hà cho đến hạt quark đều sinh ra, lớn lên, già lão và chết đi trong biên giới không gian và thời gian của vũ trụ; Toàn thiện, toàn mỹ bởi vì tất cả những gì được gọi là thiện, là mỹ đều là sản phẩm của chuỗi tiến hoá trong lòng vũ trụ dựa những điều kiện cơ bản của vũ trụ như bốn tương tác cơ bản hay khối lượng của hạt electron v.v. Còn nhiều nữa những tính chất của Thượng đế mà những nhà hiền triết đã bằng cách nào đó cảm nhận được, đều có thể được lý giải phù hợp với những đặc điểm của cái mà tác giả TBT gọi là vật tự thân tồn tại không cần đến nguyên nhân đầu tiên.

Trở lại với yêu cầu được “xét xử tại toà” của tác giả TBT, có lẽ tôi nên chấp nhận đây là một trường hợp tranh tụng bất khả phân thắng bại giữa vô thần và hữu thần. Giả sử có muốn tìm một toà án thực sự để xử thì chắc chắn không một quốc gia nào trên thế giới (trừ nước Afganistan thời còn chế độ Taliban) dám xét xử vấn đề này, đơn giản vì nó thuộc phạm vi đức tin hay tâm linh. Thay vào đó, chỉ có một loại quan toà khác thường được xưng là lương tâm. Trong trường hợp lương tâm của tác giả TBT nhất thiết bác bỏ Thượng đế, thì vị quan toà ấy vẫn phải gật đầu trước Vật tự thân tồn tại. Mặt khác vị quan toà đó chưa chắc đã đủ tự tin để buộc Tổng thống Hợp chủng quốc và vô số người khác như linh mục, chánh án, cô dâu chú rể v.v. không được đặt tay lên Kinh Thánh khi tuyên thệ, với lý do trong quyển sách đó Jesus Christ đã phát biểu rất vô lý rằng: “Ai tin ta, người đó sẽ thấy Cha”.

Sau nhiều tháng ngày suy tư, Phật Thích Ca đã thấy sự hiện diện của Chân Như (Brâhman = Thượng đế) nơi chính mình và hết thảy chúng sinh. Ngài đã chứng thực hạnh phúc và truyền lại cho đời sau con đường để đến đó. Thiền là một con đường thẳng (trực chỉ) tới giác ngộ không cần tới những suy lý, những cân nhắc, những so sánh gọi là lối tư duy biện biệt. Những rác rưởi loè loẹt mà bổn tiệm muốn khuyên quý khách TBT vứt bỏ, chính là thứ tri kiến này - cũng là chỗ mà Immanuel Kant đã cảnh cáo người đời: muốn khai sáng thì phải lìa bỏ được sự dựa dẫm vào sách vở [2] . Quý khách TBT đã cất công tra tìm những điều cũ xưa thì kính mong quý khách tìm cho đủ, nhất là vấn đề phân biệt giữa trí năng bất biệt của thiền định với khoa học hình thức. Không bán được hàng cho quý khách TBT, nhưng tôi vẫn trân trọng mà cho rằng khách hàng là Thượng đế - trong tác giả TBT có đầy đủ những thành phần của Thượng đế đang chờ chiếu sáng và mở rộng.

Để kết thúc bài viết cũng không ít nghịch lý này, xin chúc tác giả Thích Bình Thường cùng quý độc giả talawas một năm con gà gáy gọi bình minh, thân tâm an lạc.

© 2005 talawas


[1]Chuyến về Việt  Nam của GS. Trịnh Xuân Thuận - Tổng hợp của Vietsciences (http://vietsciences.free.fr)
[2]Immanuel Kant, Khai sáng là gì?, talawas 19.02.2004