talawas blog

Chuyên mục:

Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 3)

30/06/2010 | 12:00 chiều | Phản hồi đã bị khóa

Tác giả: Philip Taylor

Chuyên mục: Chính trị - Xã hội, Kinh tế - Môi trường
Thẻ:

(Xem kỳ 1 & kỳ 2)

Đặng Thế Truyền dịch

Nâng cao trình độ trí thức

Việt Nam có các chỉ số về giáo dục tương đối tốt so với mức thu nhập của mình, với số học sinh tiểu học chiếm 96% độ tuổi đến trường.[1] Sau khi hạn chế về ngân sách đầu những năm 1980 làm giảm số học sinh đến trường, nhà nước đã tăng ngân sách cho ngành này, do đó số học sinh tiểu học và cấp hai tăng lên đáng kể.[2] Học phí tiểu học, bắt đầu áp dụng từ năm 1989, được huỷ bỏ năm 1993.[3]

Tuy nhiên, theo báo cáo của chính phủ và của các cơ quan phát triển quốc tế, ngành giáo dục gặp nhiều khó khăn, nghiêm trọng nhất là tình trạng bất bình đẳng trong việc tiếp cận giáo dục mà người dân nông thôn đang gặp phải. Năm 2002, dân thành phố có khả năng học hết phổ thông trung học gấp hai lần dân nông thôn (18,24% so với 9,29%) và có khả năng vào đại học hay cao đẳng gấp hơn 8 lần. Vùng nông thôn chỉ có hơn một phần tư số công nhân được đào tạo so với thành phố.[4] Trình độ văn hoá ở miền núi và đồng bằng sông Mê Kông thấp hơn mức trung bình cả nước nhiều. Nạn mù chữ có tỷ lệ cao ở vùng đông bắc, bằng 20% so với 4% ở vùng đồng bằng sông Hồng.[5] Tình trạng bất bình đẳng giữa người Kinh và người dân tộc là đáng kể. Một khảo sát năm 1999 cho thấy trong khi trẻ em người Kinh nhập trường tiểu học chiếm 93,4%, thì trẻ em người Khmer là 76,3%, người Ba Na là 57,8%, và người Hmong chỉ là 41,5%. Sự chênh lệch ở bậc trung học cơ sở còn cao hơn: trẻ em người Kinh là 64,8%, người Khmer là 22,5%, người Ba Na là 8,9% và người Hmong là 4,5%.[6] Năm 2002, tình trạng mù chữ trong các dân tộc thiểu số cao hơn trong người Kinh và người gốc Hoa ở nông thôn là 4 lần.[7]

Tình trạng bất bình đẳng trong giáo dục là mối quan ngại đối với các cố vấn phát triển, những người cho rằng giáo dục là chìa khoá để giảm nghèo và tăng thu nhập. Một nhóm nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới lưu ý rằng cuối những năm 1990, tỷ lệ người dân tộc tham gia giáo dục thấp tương quan với tỷ lệ nghèo cao hơn.[8] Một số bài viết trong một công trình nghiên cứu do UNDP tài trợ về mức sống trong những năm 1990 cho thấy những người có trình độ giáo dục cao hơn có thu nhập tăng hơn trong thập kỷ này.[9] So với vùng đô thị, vùng nông thôn có số người chưa bao giờ đi học cao hơn hai lần, và người nông thôn có mức thu nhập trung bình chưa bằng một nửa của người thành phố. Ở vùng đông bắc, nơi có tỷ lệ đi học thấp nhất thứ hai trong số 8 vùng của cả nước (năm 2002, 42% dân ở vùng này hoặc chưa bao giờ đi học, hoặc không học hết bậc tiểu học) là vùng nghèo nhất cả nước.

Tuy nhiên, sự tương ứng này không hoàn toàn đúng khi so sánh một cách hệ thống cả 8 vùng. Vùng đồng bằng sông Mê-Kông, với tỷ lệ tham gia giáo dục thập nhất cả nước (năm 2002, 45% dân vùng này hoặc không đi học hoặc không hết bậc tiểu học) lại có thu nhập ở vị trí thứ hai trong mức cao nhất. Trong khi đó, vùng ven biển bắc trung bộ, với mức giáo dục cao nhất thứ hai trong cả nước, lại có thu nhập ở vị trí thứ hai trong mức thấp nhất. Và mặc dù có mức giáo dục tốt nhất cả nước, vùng đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm vị trí thứ ba trong mức thu nhập cao nhất.[10]

Từ những so sánh vùng này, chúng ta có thể rút ra nhiều giả thuyết. Giả thuyết thứ nhất là “giáo dục phổ thông” ở trường công trong thực tế không phải là phổ thông mà phản ánh và thúc đẩy một thế giới quan mang tính đặc thù về văn hoá. Các vùng như đồng bằng sông Hồng và ven biển bắc trung bộ, với tỷ lệ người Kinh cao và truyền thống đạt thành tích cao trong giáo dục ở trường phổ thông, có tỷ lệ đi học cao hơn mức trung mình cả nước. Tỷ lệ đi học ở vùng núi phía bắc, miền trung và đồng bằng sông Mê Kông thấp hơn. Các vùng này đa văn hoá, người Kinh mới chuyển tới gần đây, và tiếng Việt được sử dụng làm tiếng phổ thông cho những người nói tiếng dân tộc khác nhau. Có thể lập luận rằng mức độ tham gia giáo dục phản ánh mức độ học sinh có thể gắn kết những khác biệt về văn hoá trong giáo trình của nhà trường: về nội dung, các giả định, ngôn ngữ giảng dạy và phương pháp giảng dạy. Giả thuyết thứ hai từ các dữ liệu này là giáo trình có thể mang tính đặc thù địa phương. Tỷ lệ đi học trường công cao nhất ở những vùng có cơ hội đi làm cho các cơ quan nhà nước, cho ngành công nghiệp, văn hoá hay dịch vụ công nghệ cao, hay ở những nơi thành thạo tiếng Việt là phương tiện duy nhất để thăng tiến. Tỷ lệ đi học thấp ở những nơi có cơ hội làm việc hay thăng tiến khác. Sẽ ít có động lực đi học nếu nội dung học không thích hợp với cơ hội việc làm ở địa phương hay ở nơi khác. Giả thuyết thứ ba là giáo trình giảng dạy có thể mang nặng tính nghề nghiệp. Tỷ lệ đi học thấp ở những người làm nông nghiệp vì mục đích thương mại hay dịch vụ quy mô nhỏ và trong tầng lớp dân cư có tỷ lệ dân di cư cao. Liệu sinh viên có phản ứng một cách vô lý hay đi ngược lại lợi ích cao nhất của mình khi không tham gia vào những hoạt động tốn kém, làm cho họ mất cơ hội việc làm và dạy cho họ rất ít về các loại việc làm và các kỹ năng  ngành nghề cần thiết có thể mang lại cho họ cơ hội việc làm ổn định được trả lương tốt nhất?

Mặc dù có những yếu kém trong việc thu hút học sinh và giảng dạy các nội dung phù hợp, các chính sách phổ cập giáo dục đã thành công trong việc đưa về vùng nông thôn trình độ kiến thức phổ biến. Ví dụ một số dân Chàm theo đạo Hồi ở đồng bằng sông Mê-Kông tự coi mình “ở trình độ trí thức hơi cao hơn một chút” so với người Khmer vì họ thành thạo tiếng Việt hơn.[11] Đầu năm 2007 một giáo viên Khmer dạy tiếng Phạn ở tỉnh Sóc Trăng tự hào nói với tôi về sự cải thiện kinh tế của đồng bào của anh trong mấy năm gần đây, vì “dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng bào Khmer hiểu được thế giới ngoài nơi ở của họ và học theo những bài học của người Kinh có trình độ cao hơn”. Tuy nhiên các nhà sư Khmer ở Trà Vinh thì đặc biệt lo ngại về xu hướng Việt hoá trong các cộng đồng của họ, chỉ ra tình trạng suy giảm trong nghi lễ và trong tiếng Khmer và tiếng Phạn, vì ở trường thanh niên Khmer thích học tiếng Việt hơn, thứ tiếng có thể giúp họ dễ tìm việc làm hơn. Những nhà sư e sợ rằng “tình trạng chảy máu chất xám này” sẽ nhanh chóng làm mất ngôn ngữ, bản sắc và truyền thống của họ. Đồng thời, học sinh Khmer cũng phải vật lộn với giáo trình học chính thức, phải lưu ban và thường không đạt được trình độ văn hoá cần thiết, khiến họ nghĩ rằng trong xã hội rộng lớn hơn, họ ở “trình độ dân trí thấp”, có kiến thức và sự hiểu biết hạn hẹp. Oscar Salemink, Terry Rambo và Neil Jamieson cũng nói về tình trạng giảm tự tin tương tự ở cả trình độ văn hoá truyền thống và chính thức ở những người dân vùng Cao nguyên Bắc bộ do các vùng này được đưa vào các bài giảng về phát triển của nhà nước.[12] Rất nhiều dân nông thôn thấy mình mắc kẹt giữa hai tiêu chuẩn văn hoá – một là của trung ương và hai là của địa phương – và đau xót nhận ra rằng họ không đạt cả hai tiêu chuẩn.

Tạo ra các chủ thể thị trường

Trong những năm 1980 diễn ra sự chuyển đổi trong việc quản lý kinh tế từ đơn vị kinh tế tập thể sang hộ gia đình, trong quá trình ra quyết định và hoạt động kinh tế. Việc xoá bỏ cơ chế quan liêu bao cấp đã chuyển trách nhiệm kinh tế từ vai nhà nước sang cho cá nhân và gia đình.[13] Chủ trương “Xã hội hoá” được đưa ra trong những năm 1990. Đó là chính sách người sử dụng dịch vụ phải trả tiền đã khuyến khích cá nhân và hộ gia đình đóng góp vật chất cho các dịch vụ xã hội trước đây do nhà nước chu cấp: giáo dục, y tế, hoạt động văn hoá và bảo hiểm. Những lý lẽ trao việc tài trợ các dịch vụ xã hội cho người sử dụng dịch vụ là nó bổ sung thêm nguồn ngân sách nhà nước còn thiếu và nâng cao chất lượng dịch vụ theo nhu cầu của “khách hàng”.[14]

Mặc dù có những hỗ trợ gần đây của chính phủ cho nhà trường, chi phí giáo dục mà gia đình phải bỏ ra vẫn tăng lên. Dù năm năm đầu tiên của bậc tiểu học là miễn phí, phụ huynh vẫn phải đóng góp các khoản không chính thức ngoài việc chi cho sách giáo khoa, đồng phục và đi lại của học sinh. Trong số những ý kiến thường xuyên phê phán chất lượng của trường công,[15] nhiều người tin rằng để đạt được chất lượng giáo dục cao, học sinh phải học thêm và một loạt lớp học tư nhân mọc lên để đáp ứng nhu cầu này, tạo thành một rào cản nữa cho người dân nông thôn.

Từ khi áp dụng nguyên tắc người sử dụng đóng phí trong y tế, tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình cho chăm sóc sức khoẻ tăng lên mạnh, đặt một gánh nặng to lớn lên người nghèo. Sau gần mười năm khi các bệnh viện chính thức yêu cầu bệnh nhân trả tiền khám bệnh từ cuối thập kỷ 1980, chi tiêu của gia đình cho y tế trở thành nguồn thu lớn nhất trong toàn ngành y tế.[16] Ngoài phí chính thức và trả tiền thức ăn, bệnh nhân thường phải chi các khoản không chính thức để được khám bệnh, gặp được nhân viên y tế, có được giường bệnh, xét nghiệm, sử dụng các thiết bị hay mua thuốc theo đơn.[17] Chi phí y tế ngày tăng đã đặt các bệnh viện và trạm xá ngoài tầm với của nhiều người nông thôn. Như trường hợp của Khiên cho thấy, đối với nhiều người ở nông thôn, muốn tiếp cận dịch vụ y tế, chăm sóc người già và chăm sóc sức khoẻ bởi nhân viên có đào tạo phải trả giá rất cao. Để có được các dịch vụ đó, họ phải bán tài sản thiết yếu của mình hoặc cho con thôi học; cách đối phó với khủng hoảng này khiến họ càng trở nên dễ tổn thương hơn.[18]

Người dân đồng bằng sông Mê-Kông cho rằng xã hội hoá các dịch vụ của chính phủ trong thực tế là tư nhân hoá. Một lái thương nông thôn ở Trà Vinh giải thích khẩu hiệu của nhà nước “độc lập, tự do” tức là “mỗi người phải tự lo cho mình”. Những người nông dân ở huyện An Phú, tỉnh An Giang nói với tôi rằng vì chi phí nhập viện cao ngất ngưởng, lần duy nhất họ gặp bác sĩ là lúc họ nhận giấy chứng tử của mình. Tôi biết một cán bộ cách mạng lão thành, ông ta thực sự chết trong bệnh viện và sau đó sống lại. Ông đã hy sinh cả cuộc đời trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng khi cận kề cái chết trong bệnh viện, công lao của ông không được xem đến là bao. Khi đến viện, ông vẫn phải hối lộ các bác sĩ và y tá để nhận được sự chăm sóc tối thiểu. Để được như vậy, ông phải vận dụng những mối quan hệ chính thức của mình và xin tiền của người thân ở nước ngoài gửi về. Nhiều người không có được điều kiện như ông. Dân ở Châu Đốc nói tới những mối quan hệ kiểu xã hội đen trong bệnh viện, đòi hỏi người ta phải tìm đúng những tay cò mồi, trả cho chúng tiền bảo kê để có thể tiếp cận các nhân viên y tế giỏi tay nghề. Giáo viên thì giữ tủ những bài giảng quan trọng nhất trong giáo trình chính thức, và chỉ giảng cho học sinh các bài đó khi được trả thêm tiền trong các lớp học thêm. Công chức nhà nước, giáo viên, và bác sĩ bị coi khinh ở tỉnh An Giang: “Họ dùng tiền và tài năng của mình không phải để giúp đỡ người khác, mà là để tiến thân”. Theo người dân Châu Đốc, có vẻ chỉ những người khoẻ mạnh nhất mới có thể sống sót được.

Một xu hướng rõ ràng trong việc đối phó với tình hình này là người dân nông thôn từ bỏ dịch vụ của nhà nước, quay lại trông cậy vào người thân và láng giềng hay mạng lưới tôn giáo và dân tộc để có được các dịch vụ như trông trẻ, chăm sóc người già, sự hỗ trợ về y tế và giáo dục, an sinh xã hội và cứu trợ khẩn cấp.[19] Thực trạng những người dân bị gạt ra bên lề của xã hội từ bỏ các dịch vụ về danh nghĩa được chính phủ trung ương hỗ trợ và chuyển sang các mạng lưới không phải của nhà nước phản ảnh sự xa rời ngày càng tăng của nhà nước đối với người dân thường và có thể gợi ra sự xa lánh đáng kể của người dân đối với nhà nước.

Chính phủ đã cố gắng giảm thiểu tác động do các chính sách tự do mới của mình gây ra bằng cách áp dụng một loạt quy định miễn trừ cho người nghèo. Đồng bào dân tộc thiểu số được miễn học phí, các tiêu chuẩn nhập trường được hạ thấp, và được nhập trường nội trú miễn phí. Các gia đình nghèo và những người ở vùng sâu, vùng xa được cấp tiền mua sách vở và không phải đóng góp các khoản cho nhà trường. Tuy những biện pháp như vậy giảm bớt chi phí của các dịch vụ xã hội, người ta lo ngại rằng chúng không có tác dụng. Các quy định miễn giảm có thể có tác dụng ngược, vì chúng làm giảm nguồn tài chính của các trường, dẫn đến tình trạng lớp học đông hơn bình thường và trang thiết bị tồi hơn.[20] Do nguồn tài trợ của nhà nước và tư nhân thấp, vùng sâu vùng xa có giáo viên chất lượng thấp hơn và thiết bị lớp học tồi hơn.[21] Những vùng như cao nguyên và đồng bằng sông Mê Kông được nhà nước cấp thêm kinh phí để đối phó với những thiếu hụt này, song báo chí đã đặt dấu hỏi về tính hiệu quả của việc chi tiêu và sự hỗ trợ như vậy.[22] Những người ở vùng nông thôn trước đây được chính thức miễn các khoản đóng góp cho biết rằng các cơ sở cung cấp dịch vụ vẫn đòi họ phải trả các khoản tiền không chính thức. Trong khi đó, tôi nhận thấy người dân đô thị bực tức về các khoản đóng góp họ phải bỏ ra để hỗ trợ người nghèo ở nông thôn, vì bản thân họ cũng đang chịu áp lực của việc trả tiền cho các dịch vụ xã hội của mình. Hệ thống miễn giảm và hỗ trợ người nghèo ở nông thôn cũng góp phần tạo ra tâm lý coi người nông thôn như người đi xin, và các quan chức chính phủ cũng đã tỏ ra quan ngại rằng các chương trình đặc biệt cho người nghèo nông thôn có thể khuyến khích tính thụ động và lười nhác.[23] Những quan điểm này của người thành phố và của nhà nước cộng hưởng với những quan điểm mà một số người thuộc giai cấp tư sản ở đồng bằng sông Mê Kông bày tỏ với tôi, mô tả người dân tộc thiểu số không có khả năng tự lo cho mình và cần người thành phố và người dân tộc đa số nâng đỡ.

Chính sách phát triển nông thôn cân xứng

Trên cơ sở của bài tổng kết này về điều kiện ở đồng bằng sông Mê Kông, độc giả có thể dễ đi đến kết luận rằng ở vùng này, dấu ấn phát triển của dự án thay đổi nhằm cải thiện cuộc sống con người cực kỳ mờ nhạt. So với các thành phố sầm uất hơn của Việt Nam, tích luỹ vật chất của người dân ở đồng bằng sông Mê Kông rất nhỏ bé; họ vẫn cúng tế thần linh mong chế ngự được thiên nhiên, làm những việc bị coi là đơn giản, sống xa đường, tiếp xúc với trường học ở mức tối thiểu, và tỏ ra phớt lờ những lời hô hào tự cải thiện bản thân. Đối với những người có đầu óc hiện đại, có vẻ đồng bằng sông Mê Kông đứng ngoài dòng chảy của thời đại, biệt lập với sự tiến bộ. Quả vậy, rất nhiều khách du lịch, những người hành hương, và những người di cư trở lại bị hút hồn bởi vùng này chính vì người ta tin rằng nó tiêu biểu cho các giá trị nông thôn truyền thống, trong đó có phong cách sống đơn giản và dựa trên sông nước, người dân “có tiếng là không có thủ đoạn, không tích trữ của cải, và gắn bó với các giá trị dân tộc và tôn giáo có vẻ sơ khai của mình”.[24] Dù là lạc hậu hay chân thực, những đặc thù này của người dân sông Mê Kông bị coi thuộc về quá khứ.

Cách lý giải này khó có thể thoả đáng với những bằng chứng như những nỗ lực không mệt mỏi của một loạt nhà nước nhằm đưa đồng bằng sông Mê Kông vào hiện tại, hay sự đóng góp phi thường của nó vào bảng cân đối hàng hoá xuất khẩu của đất nước. Quả vậy, người ta có thể nhận thấy các đặc thù của vùng này – dù đó là cuộc tìm kiếm sự bảo trợ tinh thần, cuộc sống du canh du cư của người dân nông thôn, hay sự lệ thuộc của họ vào các mạng lưới an toàn của cộng đồng và tôn giáo dân tộc – vì hệ quả của các chính sách phát triển của nhà nước. Việc tiếp xúc với thị trường toàn cầu và tập trung tăng hàng hoá xuất khẩu dẫn tới lợi nhuận giảm sút, nợ nần và mất đất. Cuộc chinh phục thiên nhiên mở ra các khu khai thác mới đã làm tăng sự đối mặt của người dân nông thôn với những biến động bất lợi của môi trường, làm cho cuộc sống của họ kém ổn định hơn. Việc mở rộng hệ thống đường xá làm cho nhiều người phải rời bỏ nơi sống mà họ từng yêu thích. Trong khi các nhà máy được nhà nước bao cấp đứng phả bụi ở các vùng nông thôn, thì những người công nhân di cư đến từ những nơi khác để kiếm việc làm mà không được bảo hộ, không được đại diện ở mức tối thiểu và không có các dịch vụ cần thiết. Học sinh bỏ học ngay sau khi chúng tích luỹ được những kiến thức sơ đẳng nhất để thương lượng sự sinh tồn như vậy. Những nỗ lực nhằm cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ bằng huy động sự đóng góp của người dân thậm chí đã làm cho các dịch vụ này khó tiếp cận hơn trước, làm người dân nông thôn phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ nơi khác.

Với những kết quả như vậy, những người thận trọng về tài chính có thể đặt câu hỏi về sự đáng tin cậy của giả thuyết dẫn tới các chính sách phát triển hiện tại. Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ đi học cao nhất, có số lượng đường xá liên xã nhiều nhất, và đứng thứ hai trong toàn 8 vùng cả nước về mức độ công nghiệp hoá, song nó chỉ đứng thứ ba trong cả nước về mức độ thu nhập. Đồng bằng sông Mê Kông có hệ thống đường kém nhất, tỷ lệ đi học thấp nhất và trình độ công nghiệp hoá thấp nhưng có mức thu nhập cao nhất nước, ngoại trừ vùng đông nam chủ yếu là đô thị. Vùng Cao nguyên miền trung là một trường hợp điển hình về áp dụng các chính sách hội nhập với thị trường, xuất khẩu nhiều sản phẩm mới đa dạng và thu nhập trung bình đang tăng nhanh, song nó đã trở thành một trong những điểm lộn xộn vì bất mãn của cả nước, mà phần lớn sự lộn xộn đó nhắm vào ngành hàng hoá xuất khẩu. Những hệ quả này có thể làm cho những bộ óc thận trọng đặt câu hỏi về sự thiếu khôn ngoan của việc tiếp tục chi nhiều tiền cho các chính sách phát triển hiện tại, mà chi phí của các chính sách đó không rõ ràng, thậm chí cả tính hiệu quả của nó cũng đang bị xem xét.

Đối với nhà nước, các xu hướng này nêu lên một loạt vấn đề nghiêm trọng về tính thực tiễn của chúng. Trái ngược với quyền lợi của nhà nước trong việc duy trì trật tự, kỷ cương, nhà nước đang không nắm được chiều hướng của những thay đổi. Quả vậy, một nhà hoạch định kế hoạch của nhà nước có thể coi bức tranh được phác hoạ ở đây về dân chúng nông thôn ngày càng bị đẩy ra khỏi mảnh đất của mình, tha phương đến nơi nào đó tìm việc làm, không được đào tạo trong hệ thống giáo dục chính thức, và tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề của họ ở bên ngoài biên giới quốc gia, là lạc lõng. Với sự thẳng thắn đáng kể, nông thôn Việt Nam ngày nay được giải thích trong các báo cáo của chính phủ là nơi bị tước đoạt nghiêm trọng: nơi mà thu nhập thấp, nghèo khổ cao độ, không tận dụng được công nghệ hiện đại, hệ thống giao thông và hạ tầng công nghiệp yếu kém, trình độ văn hoá thấp, và thiếu tinh thần tự lập. Người ta có thể đánh giá rất cao việc những kết quả trong báo cáo này giáng một đòn vào tính hợp pháp của một đảng đã từng lật nhào các đối thủ của mình trên nền tảng rằng nó là đại diện chân chính của sự hiện đại.[25] Những kết quả này thách thức vai trò đại diện tự nhận vẫn đang tiếp tục của đảng là người thiết kế hiệu quả bước tiến vững chắc của vùng nông thôn tới tương lai cao đẹp hơn, là nơi có công nghệ, công nghiệp hoá và ổn định. Sự chênh lệch giữa nông thôn và thành thị làm người ta hoài nghi về vai trò của đảng là người bảo vệ quyền lợi của nhân dân nông thôn, và nghi ngờ về những bài rao giảng của đảng về “phát triển với đặc tính xã hội chủ nghĩa”. Sự nắm giữ quyền lực của đảng, mà cả những người phê phán cũng chấp nhận, bắt đầu bị nghi ngờ bởi thực tế rằng người dân nông thôn không làm theo kịch bản “công nghiệp hoá và hiện đại hoá”, họ không thấm nhuần một tẹo nào các bài học về công dân ở nhà trường, và thay vào đó họ đang tìm đến các giải pháp tôn giáo và xuyên quốc gia.

Người ta có thể đặt câu hỏi liệu thất bại trong mục tiêu phát triển có nhất thiết là tiêu cực không, khi mà “phát triển” hàm ý dân số nông thôn vốn gắn bó với ruộng đồng, được vào làm trong các nhà máy có lợi hơn cho họ, quanh năm liên kết với trung tâm chính trị bởi hệ thống đường xá, có học thức trong nền văn hoá chính thức, và sử dụng khoản thu nhập từ sản xuất hàng hoá để mua các dịch vụ xã hội của nhà nước. Quan niệm này về sự phát triển, mặc dù được nguỵ trang trong những lời tự nhận về tính hợp lệ phổ biến của nó, tượng trưng cho các giả thuyết về tiến bộ, giàu có, an toàn và giá trị văn hoá có vẻ độc đoán và đầy khiếm khuyết. Có lẽ cần phải tìm ra những giải pháp thay thế cho mô hình này, trong khi nhìn nhận rằng không chỉ quá trình phát triển đang thất bại không đạt được các mục đích của nó, mà còn vì dân nông thôn Việt Nam có vẻ có ý tưởng khác hẳn về phát triển và cách thức để đạt được phát triển.

(còn tiếp)

Bản tiếng Việt © 2010 Đặng Thế Truyền/JVS

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] United Nations Country Team Viet Nam, User Fees, Financial Autonomy and Access to Social Services in Viet Nam (Hà Nội: United Nations in Vietnam, 2005),10.

[2] Jonathon London, “Rethinking Vietnam’s Mass Education and Health Systems,” in Rethinking Vietnam, ed. Duncan McCargo (London: RoutledgeCurzon, 2004), 135.

[3] United Nations Country Team, User Fees, 22.

[4] Vu Quoc Ngu, “Social Disparities in Vietnam: The Case of Poverty Reduction and Educational Attainment,” in Social Inequality in Vietnam and the Challenges to Reform, ed. Philip Taylor (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2004), 215–222.

[5] GSO, Result of the Survey on Household Living Standards, 43.

[6] Baulch et al., “Ethnic Minority Development in Vietnam,” 6–7.

[7] Vu Quoc Ngu, “Social Disparities in Vietnam,” 221.

[8] Baulch et al., “Ethnic Minority Development in Vietnam,”17.

[9] Dominique Haughton, Jonathon Haughton, and Nguyen Phong, eds., Living Standards During an Economic Boom: The Case of Vietnam (Hà Nội: UNDP and Statistical Publishing House, 2001).

[10] GSO, Result of the Survey on Household Living Standards, 44, 78.

[11] Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta, 238.

[12] Oscar Salemink, “Enclosing the Highlands: Socialist, Capitalist and Protestant Conversions of Vietnam’s Central Highlanders” (tài liệu trình bày tại hội thảo “Politics of the Commons: Articulating Development and Strengthening Local Practices,” Chiang Mai, Thailand, July 11–14, 2003); Rambo and Jamieson, “Upland Areas” (see note 35).

[13] Jayne Werner, “Gender, Household and State: Renovation (doi moi) as Social Process in Vietnam,” in Gender, Household, State: Doi Moi in Vietnam, eds. Jayne Werner and Daniele Belanger (New York: Cornell University Southeast Asia Program, 2002), 29–47.

[14] London, “Rethinking Vietnam’s Mass Education and Health Systems,” 130; Masina, Vietnam’s Development Strategies, 140–141.

[15] Sự phê phán của báo chí, giới học giả và bản thân chính phủ đối với ngành này cho thấy hệ thống giáo dục đang khủng hoảng nghiêm trọng. Các nhà phê bình tố cáo rằng hệ thống trường công nặng về học vẹt, không khơi dậy được cách học tích cực của học sinh, giáo trình lạc hậu và xa rời thực tế hoặc các nhu cầu của nền kinh tế, chế độ kiểm soát tập trung không đáp ứng sáng kiến và sự sáng tạo của địa phương, và  sử dụng đội ngũ cán bộ không thích hợp. See Tran-Nam Binh, “Education Reform and Economic Development in Vietnam,” in The Vietnamese Economy: Awakening the Dormant Dragon, eds. Tran-Nam Binh and Pham Chi Do (London; New York: RoutledgeCurzon, 2003), 214–231; Doan Hue Dung, “Centralism: The Dilemma of Educational Reform in Vietnam,” in McCargo, Rethinking Vietnam (see note 64); MIP, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 36.

[16] United Nations Country Team, User Fees, 3–6.

[17] London, “Rethinking Vietnam’s Mass Education and Health Systems,” 137-139.

[18] United Nations Country Team, User Fees, 13.

[19] Rita Liljestrom et al., Poverty and Profit in Rural Vietnam: Winners and Losers of a Dismantled Revolution (Richmond, Surrey: Curzon, 1998); Do Thien, “Charity and Charisma: the Dual Path of the Tinh Do Cu Si, a Popular Buddhist Group in Southern Vietnam,” in Vietnamese Society in Transition, ed. John Kleinen (Amsterdam: IIAS/Her Spinhuis, 2001), 159–182; Philip Taylor, “Apocalypse Now? Hoa Hao Buddhism Emerging from the Shadows of War,” The Australian Journal of Anthropology 12, no. 3 (2001): 339–354; Taylor, Cham Muslims of the Mekong Delta, 102, 118, 283–284.

[20] Vu Quoc Ngu, “Social Disparities in Vietnam,” 225–227.

[21] MPI, The Five-Year Socio-Economic Development Plan, 2006–2010, 36.

[22] “Government Pledges More Aid for Ailing Mekong Delta Schools,” Viet Nam News, January 16, 2007; “Central Highlands School System in Need of Overhaul,” Viet Nam News, January 1, 2007.

[23] MDPA, Mekong Delta Poverty Analysis First Milestone Report, 20.

[24] Taylor, Fragments of the Present, 160–161; Taylor, Goddess on the Rise, 51–55, 111–113.

[25] Taylor, Fragments of the Present, 23–55.

Phản hồi

Không có phản hồi (bài “Philip Taylor – Chính sách yếu kém, nông dân giàu có: Hành trình cong của quá trình phát triển nông thôn ở Việt Nam (kỳ 3)”)

Comments are closed.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả