talawas blog

Chuyên mục:

Trương Thái Du – Đôi lời về nhân quần quyền

23/07/2010 | 12:00 chiều | 40 phản hồi

Tác giả: Trương Thái Du

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ: >

Tạp chí Nhân quyền Việt Nam tháng 6.2010 có bài viết rất đáng quan tâm của tướng Nguyễn Văn Hưởng nhan đề: “Hãy hiểu đúng về vấn đề nhân quyền Việt Nam”. Tướng Hưởng khẳng định nhân quyền phương Tây là cái mà nhiều thể chế dân chủ đa đảng trên thế giới muốn áp đặt tại Việt Nam. Ông viết: “Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.

Hàng thế kỷ trước văn hào Rudyard Kipling đã viết: “Oh, East is East, and West is West, and never the twain shall meet – Đông là Đông và Tây là Tây, chẳng bao giờ cả hai gặp gỡ”. Đến nay, còn rất ít người tin vào điều đó. Tuy nhiên việc đồng hóa Đông – Tây là một trong những nhãn quan của các chính trị gia phương Tây hiện đại, ít nhất trong vấn đề dân chủ – nhân quyền. Nó hoàn toàn không tưởng về mặt lịch sử, khoa học cũng như xã hội.

1. Về mặt lịch sử

Nền văn minh Á Đông mà đất nước Việt Nam từng thuộc về đã tồn tại không hề gián đoạn ít nhất là hơn ba ngàn năm nay (thời điểm chữ viết tượng hình hoàn thiện và không thay đổi nhiều cho đến hôm nay), nếu không muốn nói là năm ngàn năm. So với văn minh Hy – La tiền thân của văn minh phương Tây, cấu trúc của Á Đông phải nói là có thời gian thử thách và bền bỉ hơn rất nhiều, nó phát triển theo kiểu xoáy trôn ốc cực kỳ chặt chẽ. Văn minh Trung Hoa, hạt nhân của văn minh Á Đông từng khiến Voltaire ngạc nhiên: “Chúng ta nhận thấy rằng quốc gia ấy tồn tại một cách rực rỡ từ trên bốn ngàn năm rồi mà luật pháp, phong tục, ngôn ngữ, cách ăn mặc vẫn không thay đổi bao nhiêu…[1]”. Văn minh phương Tây hiện đại có thể tính tuổi từ thời Phục hưng cách nay vài trăm năm, là thành quả của sáng tạo phủ định (creative destruction). Đầu tàu văn minh phương Tây hôm nay là nước Mỹ. Sáng tạo phủ định giúp cho xứ sở ấy nhanh chóng vượt lên phía trước về mặt vật chất, nhưng khiến nó trở thành một đứa trẻ choai không có dân tộc tính, các bài học lịch sử nghèo nàn song lại thích võ đoán và áp đặt.

Hai nền văn minh đang đề cập có những cách khác nhau để tiếp cận tương lai.

2. Các khảo sát khoa học

Từ năm 2005, tôi đã để ý đến kết quả nghiên cứu do các nhà khoa học của Đại học Michigan thực hiện, về cách nhận thức thế giới khác nhau của người Á Đông và người phương Tây[2]. Họ kết luận: “Người Á Đông sống trong mạng lưới quan hệ xã hội phức tạp với những giềng mối định vị bắt buộc. Do đó tập trung vào bối cảnh tổng thể là quan trọng để thực hiện chức năng có hiệu quả. Ngược lại, người phương Tây sống trong một xã hội ít áp lực tác động đến sự độc lập cá nhân, điều đó cho phép họ giảm thiểu sự chú ý đến bối cảnh”. Và: “Con người từ những nền văn hóa khác nhau xác định điều họ quan tâm khác nhau, dù họ có chia sẻ với nhau cùng một không gian sống. Kết quả là chúng ta nhìn thế giới với những diện mạo khác nhau, bằng những cách khác nhau”.

Cũng tại Michigan, trong một thí nghiệm khác, giáo sư Richard Nisbet rút ra kết luận: “Tư duy của phương Tây là tư duy kiểu trắng đen phân biệt rõ rệt, không có vùng đất xám. Có thể nói tư duy kiểu này là tư duy đơn giản một chiều, khá cứng nhắc và có thể dẫn đến những hành động cực đoan, vì nó không tìm cách dung hòa sự bất đồng, không tìm con đường trung dung giữa hai phía để đi. Nó sẽ khăng khăng cho rằng trách nhiệm thuộc về một phía và phía này phải sửa đổi hành vi để cải thiện tình hình. Chính vì trong thực tế cuộc sống không có nhiều tình huống “giấy trắng mực đen rõ ràng” như vậy nên tư duy theo kiểu này không giúp làm cho xung đột khá hơn mà làm cho nó tồi tệ đi, và khi mức chịu đựng giữa hai phía chạm đến giới hạn cuối cùng, bạo động sẽ phát sinh[3]”.

3. Quan sát xã hội

Để bớt chữ nghĩa, phần này tôi xin dẫn vài tác phẩm tiêu biểu của họa sĩ Trung Quốc Lưu Dương (Yang Liu) trong cuộc triển lãm “Phương Đông gặp gỡ phương Tây” tại Berlin năm 2007[4]. Màu xanh thể hiện phương Tây, màu đỏ thuộc về phương Đông:

Ý kiến

Phương thức sinh hoạt

Tự ngã (cái tôi)

Trẻ em

Người già

Quan hệ xã hội

Phẫn nộ

Ăn tiệc

Xử lý vấn đề

Tôi thích nhất bức poster “Xử lý vấn đề”. Nó cho thấy tư duy sáng tạo phủ định thuộc về phương Tây. Ngược lại, người phương Đông đi vòng và vượt qua vấn đề. Ở Việt Nam có câu “sống chung với lũ” rất thông minh và hóm hỉnh.

*

Với tất cả những dẫn chứng điển hình như trên, tôi nghĩ ở Việt Nam nói riêng, Á Đông nói chung, tồn tại giá trị nhân quyền của riêng mình, tương đương với phương Tây, tạm gọi là quần quyền. Tỉ dụ: trước khi văn minh phương Tây quảng bá những điều tốt đẹp của mình ở mảnh đất này, với người phương Đông ngày giỗ luôn quan trọng hơn sinh nhật. Ngày giỗ không hoàn toàn dành cho người đã khuất và tiên tổ. Nó củng cố mối quan hệ của những người đang sống. Nếu sinh nhật như là hành vi cổ xúy nhân quyền thì giỗ kỵ chính là sự tôn vinh quần quyền.

Quay trở lại bài viết của tướng Hưởng, tôi thấy ông có lý khi (tôi) đặt đoạn văn này: “Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dân Việt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ ‘ăn no mặc lành’ thì bây giờ khái niệm ‘ăn ngon mặc đẹp’ đã trở thành phổ biến ở Việt Nam”; bên cạnh phân tích của Bill Hayton: “Đầu tư và tài trợ quốc tế không mang lại dân chủ và đa đảng cho Việt Nam; ngược lại, nó giúp cho hệ thống cai trị độc đảng trở nên hiệu quả và hiệu lực hơn. Đó là cách mà Đảng muốn. Cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn đối với đa số người dân Việt Nam, và chừng nào xu thế này còn tiếp tục, chừng đó mọi việc vẫn sẽ như bây giờ[5]”.

Mọi việc vẫn sẽ như bây giờ? Bill Hayton một lần nữa chứng minh tư duy nhị nguyên điển hình của người phương Tây. Ở phương Đông, chúng ta luôn nhìn thấy động trong tĩnh và ngược lại. Tôi không nghi ngờ vào quá trình chuyển hóa không ngừng nghỉ của xã hội Việt Nam. Tôi tin bất cứ ai thích thú với cách xử lý vấn đề “sáng tạo phủ định” made in USA sẽ luôn nhận về sự thất vọng mà thôi.

Ở Việt Nam nói riêng và Á Đông nói chung nhân quần quyền là như vậy. Lịch sử đã chứng minh cách mạng chỉ có thể đi vòng qua chướng ngại, vượt lên chướng ngại mà không nên hủy phá. Nếu muốn hủy phá thì trước tiên phải phá tan nền văn hóa cố kết bởi năm mươi thế kỷ. Đó lại là một câu chuyện khác, có lẽ tôi sẽ đề cập ở một bài viết khác.

Bài viết chào đón chuyến thăm Việt Nam của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton, tháng 7.2010.

© 2010 Trương Thái Du

© 2010 talawas


[1] Will Durant, Lịch sử văn minh Trung Hoa, trang 20, Nguyễn Hiến Lê dịch, dẫn từ quyển Khảo luận về phong tục của Voltaire.

[2] http://news.bbc.co.uk/2/hi/health/4173956.stm

[3] Dẫn theo: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=101&CategoryID=37&News=2547

[4] http://yangliudesign.blogspot.com/2007/07/ost-trifft-west-east-meets-west.htmlhttp://www.gabyu.com/2007/09/07/comparaison-allemagne-chine/

[5] http://www.talawas.org/?p=22561

Phản hồi

40 phản hồi (bài “Trương Thái Du – Đôi lời về nhân quần quyền”)

  1. Hạnh Đào says:

    @ Trương Đức
    Tranh luận thiết nghĩ là từ đôi bên (hay nhiều bên)dùng lý luận, để cùng phân tích, làm sáng tỏ vấn đề. Nếu chỉ có 1 chiều, khó mà cho là tranh luận. Tôi không nghĩ ông TTD là người có thể tranh luận được; và với lý lẽ (cùn) của ông, thật không đáng để – tranh luận!

  2. Trương Đức says:

    “Ông TTD viết là làm việc (job) ông ấy làm, không phải để thảo luận, trao đổi, tranh luận. Các bác nhọc công… cãi làm gì.”(Hạnh Đào)

    Đọc phản hồi của bác Hạnh Đào mà tôi phải “phì” cười! Đó là do cái từ “cãi” của bác ý. Hôm qua, tôi đọc xong cái PH “phân phân loại loại, loại loại phân phân” của ông TTD thì cũng định “cho qua” đấy, bởi thấy “Các “cấp độ” do Du đề ra đều nhảm nhí, chỉ để chống chế những lời phê bình của người đọc.” như bác Camillia Ngo. Nhưng hôm nay đọc được lời PH của bác HĐ mà tôi trích trên, nên tôi lại thấy có “hứng thú” viết PH. Xin chia sẻ với các bác như thế này:

    1. Theo tôi nghĩ, hành động viết PH không phải là việc “cãi” như bác Hạnh Đào quan niệm. Đó là hành động “tranh luận” trên một diễn đàn. Là một độc giả thường xuyên của talawas, tôi cũng thường xuyên gửi PH lên đây. Đấy là do tôi có tinh thần “tranh luận” với diễn đàn, bởi vì tôi cho rằng, tranh luận là “phương thức hoạt động cơ bản” của một diễn đàn(blog) nói chung. Thế cho nên, nếu có thể “phân loại” (để cho… “vui” chẳng hạn! 🙂 ), thì tôi “phân loại” như thế này:

    – Người đọc: độc giả tranh luận và độc giả không tranh luận.

    – Người viết: tác giả tranh luận và tác giả không tranh luận.

    Thế thôi, chứ chẳng có “cấp bậc” gì ráo trọi!

    2. Việc tự nhiên có ông Trương Thái Du “phân loại” trên diễn đàn talawas này, làm tôi nhớ đến sự “đấu tố” trong CCRĐ, hay gần đây nhất là sự “phân loại thành phần xã hội” trong tác phẩm “K.Đ – Những tháng năm cuồng nộ”. Tôi thấy rằng, ông TTD không những “ngụy biện” trong việc “phân loại nhân (quần) quyền phương Đông – phương Tây”, mà còn khá “nhảm nhí” với cái sự “phân loại độc giả, tác giả” ở cái PH mới nhất của mình. Thiết nghĩ, nếu đã phát biểu rằng “(Xin lưu ý, thứ tự các cấp độ không thể hiện bất cứ điều gì)”, thì ông TTD cũng không nên làm cái việc “phân loại” để làm gì trên diễn đàn này. Ông đã “phân loại”, thì chắc chắn phải có mục đích. Mà như thế, hóa ra ông cũng giống “những chú công an của Vũ Hải Triều” đang ngày đêm “thầm lặng phân loại” các trang mạng diễn đàn tiếng Việt trên khắp thế giới à? Họ “phân loại” là để phục vụ những mục đích của ĐCSVN trong việc làm sao giữ vững cái chế độ độc tài toàn trị hiện nay ở VN, nếu trang mạng nào mà “phản động”, thì họ sẵn sàng “đánh sập” hoặc tạo “tường lửa” chặn không cho người dân trong nước “tiếp cận”. Họ(“những chú công an thông tin văn hóa”) cũng là “độc giả” của những trang mạng “yêu nước”, ví dụ như talawas này đấy, (nhưng có lẽ họ không tham gia tranh luận?!), tại sao ông không “phân loại” họ đi? Họ thuộc “phân loại” gì? Trong 3 “cấp bậc” do ông TTD đề ra, tôi không thấy “cấp bậc” nào phù hợp với họ cả!

    3. Để tạm kết luận, tôi xin trích PH của bác Thanh Nguyễn“Tôi nghĩ, điều đọng lại cuối cùng trong cuộc đời người nghệ sĩ là gì: Đó là nhân cách!”, và xin “sửa” lại một chút thành: “Tôi nghĩ, điều đọng lại cuối cùng trong cuộc đời một con người (dù người ấy “tranh luận” hay “không tranh luận”) là: có nhân cách hay không có nhân cách!”.

  3. Lề Trái says:

    http://boxitvn.blogspot.com/2010/07/nhan-100-nam-ngay-sinh-gs-ta-quang-buu.html#more

    3 câu thơ của Bernard Shaw do ông Tạ Quang Bửu dịch . Tôi chỉ muốn sửa câu cuối

    Thì tôi sẽ ngồi nhà vì “lý tính” mách cho tôi rằng có thể họ có lý.

  4. Thanh Nguyễn says:

    Có một khẩu hiệu trên những đồng tiền Mỹ: “E Pluribus Unum”, có nghĩa: “Trong nhiều, có một”. Nghĩa chính của câu đó nói lên thế nào là người Mỹ. (Trích lời củaNhuNhu Nguyen)

    Đây là lời phát biểu của một công dân Mỹ choai (thế hệ 1990) đã hiểu rõ về đất nước mà mình đang sống như thế nào.

    Một đất nước choai (chữ của ông Du), nhưng biết cách dạy dỗ công dân choai của họ có một nhận thức về dân tộc tính của đất nước mà họ đang sống.

    Có thể xem đây là một ví dụ điển hình cho tư duy không võ đoán và không áp đặt, chứng minh ngược lại những lập luận rất võ đoán và rất áp đặt của ông Trương Thái Du (không còn choai vì đã hơi old old) khi nhận xét về nước Mỹ.

  5. Hạnh Đào says:

    Ông TTD viết là làm việc (job) ông ấy làm, không phải để thảo luận, trao đổi, tranh luận. Các bác nhọc công ..cãi làm gì.

  6. Camillia Ngo says:

    Các “cấp độ” do Du đề ra đều nhảm nhí, chỉ để chống chế những lời phê bình của người đọc.

    Chỉ đúng có cấp độ 3 của người viết “Luôn viết về những thứ họ tin tưởng, thậm chí nô lệ…” Cấp độ này rất đúng với Du.

    Du tin tưởng, thậm chí nô lệ cho chủ nghĩa Mác-Lê của Tây, nhưng Du cũng tin tưởng, thậm chí nô lệ cho ý tưởng sai lầm “Đông là Đông, Tây là Tây”.

    Cái “quần” quyền của Du biểu hiện rõ sự tin tưởng, thậm chí nô lệ này.

  7. Hoà Nguyễn says:

    Ông Trương Thái Du không nói đến trường hợp của những tay viết nguỵ biện mà “tác phẩm” họ dành riêng cho người đọc đã mang sẵn ngụy tín, hay họ mong tạo ra một môi trường nguỵ tín đóng kín. Thuật ngụy biện đã có từ xưa ở cả Tây và Đông phuoưng, và phương Đông ở đây chỉ cả Ấn Độ lẫn Trung Quốc, dù hai nước này có hai nền văn hóa khác biệt từ xưa mà có lẽ cho đến ngày nay, với chế độ hiện tại rất khác nhau.

    Bài viết này mang nhiều tính chất ngụy biện để bào chữa cho một ngụy tín là VN có một giá trị nhân quyền riêng, không giống với các dân tộc khác thấy ở châu Âu, nhưng trong thực tế thấy cũng khác với nhiều dân tộc ở gần hay trong vùng, như Thái, Mã, Indo, Phi, Nhật, Hàn. Như vậy, ông Hưởng và ông Du có cho quan điểm nhân quyền của VN rất giống ngoài TQ còn với Miến Điện, Lào, Cam bốt không? Nếu như thế, có nên coi là niềm tự hào của dân tộc? Nhưng trước hết, những nước nào mới cho là thuộc phương Đông? Nếu xét về địa lý phải kể đến Nhật, và Phi, còn nếu cho có TQ trong đó thì phải kể có Ấn Độ mà ngày nay được coí là nước dân chủ lớn nhất thế giới.

    Một xảo thuật ngụy biện là lập lờ, nhập nhằng, trộn lẫn nhiều sự việc khác nhau để đưa ra kết luận tuỳ ý. Thử định nghĩa, hay xác định rạch ròi đâu là Tây và đâu là Đông phương khi nhìn vào bản đồ thế giới. Đối với châu Âu, Đông bắt đầu từ các nước Árập theo Hồi giáo, chạy dài qua Ấn, TQ, Nhật, Hàn, và họ còn gọi phân biệt là Cận Đông, Trung Đông, Viễn Đông. Còn với Trung Quốc, Tây bắt đầu từ Tây Tạng, vùng xưa gọi là Tây Thổ, Tây Thiên tức Ấn Độ, qua Ba Tư, các nước Árập và tận cùng ở Đại tây dương, nhưng bây giờ coi như bao gồm cà châu Mỹ. Thử hỏi TQ và VN cho Ba Tư thuộc về Tây phương hay Đông phương, là gần với TQ và VN hơn hay gần với châu Âu hơn? Nên nhớ cái gọi là châu Á hay châu Âu là theo quan điểm, cách phân chia địa lý của người Tây phương, không phải là sự phân chia thật sự về chủng tộc hay văn minh, văn hóa (nhìn vào trường hợp nước Nga).

    Cái ngụy biện, hay ngụy trá, của ông Hưởng và ông Du còn thấy tuy họ là người CS hay được đào tạo trong giáo dục, lý thuyết CS lại chối bỏ quy luật tiến hóa về lịch sử mà lý thuyết này đề cao (và vẫn có một phần giá trị). Không thể nhìn xã hội TQ và VN như là bất biến hay ít thay đổi trong nhiều ngàn năm, và cho đó là có giá trị tốt hay cao hơn những xã hội thay đổi nhiều hơn. Gần đây, do ảnh hưởng của sinh hoạt Tây phương, TQ mới chịu bỏ thói tục đàn bà bó chân, đàn ông giữ móng tay dài cả tấc, mà có thời cho là thuần phong mỹ tục của nền văn minh TQ, nhưng ngày nay chắc họ không muốn trở lại. Khi bảo vệ cho những “giá trị” Đông phương, như sự tuân phục (gần như tuyệt đối) từ trong gia đình đến ngoài xã hội, phải thấy về mặt tiêu cực “đức tính” này đã gây sự kiềm hãm tiến bộ con người, quốc gia, khiến TQ bị nhục nhã khi các nước nhỏ hơn ở châu Âu tàn phá Bắc Kinh, chiếm nhiều lãnh địa, bắt phải nhận nhiều hiệp ước bất bình đẳng. Phần VN thì trở thành thuộc địa trong 80 năm. Sau cùng, nhờ vay mượn một “giá trị ” khác của Tây phương, là chủ nghĩa CS, nên TQ và VN mới gọi là rửa được nhục trên, nhưng lại rơi vào tình trạng tai hại khác, mà Ấn Độ, In-đô, Phi, Hàn, và Nhật tránh được. Cứ so sánh Đài Loan và Trung Hoa lục địa, cùng dân tộc, cùng thoát thai từ một nền văn hóa cổ Đông phương, nhưng ở đâu có giá trị nhân quyền đúng nghĩa hơn, tốt đẹp hơn, và xây dựng một xã hội tiến bộ hơn.

    Nhìn kỹ cái quan điểm về nhân quyền gọi là riêng của Đông phương thấy ở TQ và VN hiện nay chỉ là quan điểm nhân quyền của chù nghĩa CS cùng với chế độ toàn trị đặt trên nền móng chế độ phong kiến Đông phương lạc hậu. Tây phương, hay châu Âu, đã đề ra, rồi thử nghiệm bằng nhiều xương máu, khổ đau, và sau cùng dứt khoát chọn một trong hai quan điểm khác nhau về nhân quyền, về thể chế chính trị, đó là dân chủ,tự do và độc tài, đảng trị. TQ và VN đang đi theo quan điểm và thể chế sau cùa Tây phương, nhưng cả hai sống trong ngụy tín cho đó là “giá trị của Đông phương”. Điều rất rõ là nếu ông Hưởng không có 5 triệu công an, nhân viên an ninh để bảo vệ chế độ, thì cái giá trị “nhân quyền” của Đông phương hay riêng VN, ông đang rao giảng sẽ tan nhanh như bọt biển.

    Phần ông Du không biết có một loại người viết được nhận dạng riêng để gọi là văn nô hay bồi bút, nhưng đó là chuyện khác.

  8. Phân loại người đọc :

    Cấp độ 1: Thích đọc kinh, chẳng hạn như Kinh Thánh, Kinh Phật, Kinh Điển… tức là những giá trị đã được đám đông xác tín. Sự đọc của họ chỉ mong tìm ra chỗ khác nhau giữa niềm tin của mình và thứ họ đang đọc. Sau đó họ dùng tất cả tình cảm bồng bột và xốc nổi để xỉ vả, phản bác, đôi khi khá thiếu văn hóa. Thói quen của họ là nhìn tên tác giả, tìm nhanh một luận điểm lỏng lẻo từ câu chữ trở đi để tấn công, nhiều khi làm người ta lầm tưởng họ gặp vấn đề đọc – hiểu sơ đẳng nhất.

    Cấp độ 2: Tham khảo tất cả chiều hướng tư duy và logic để luận đúng sai và tự treo cổ mình trong chiếc thòng lọng nhị nguyên.

    Cấp độ 3: Mọi thứ đều để tham khảo. Phê phán hay khen ngợi của họ luôn nhẹ tựa lông hồng nhưng sắc xảo. Thích đặt câu hỏi hơn là đưa ra trả lời.

    Phân loại người viết:

    Cấp độ 1: Dè dặt với điều mình tin, không ngại viết những điều chưa chắc họ đã tin tưởng. Khuấy đảo tư duy người đọc và chính họ, bên ranh giới giữa đúng và sai, để tất cả đi tìm bản chất thật của vấn đề một cách độc lập và không thiếu cá tính.

    Cấp độ 2: Viết bất kể thứ gì, không quản bản thân họ có tin tưởng hay không. Họ đầu tư vào sự viết với mục đích ban đầu rõ ràng. Đặc điểm ở cấp độ này là thói vuốt ve dư luận, tát nước theo mưa và thường dùng phương pháp “chửi mất gà” hoặc “nghe mẹ hát”.

    Cấp độ 3: Luôn viết về những thứ họ tin tưởng, thậm chí nô lệ. Những bài viết này đôi khi rất xúc động nhưng ít đầu tư chiều sâu.

    (Xin lưu ý, thứ tự các cấp độ không thể hiện bất cứ điều gì)

  9. Vo danh says:

    Xin thứ lỗi cho tôi có điều này muốn hỏi. Theo những điều ban đầu của tác giả Trương Thái Du, thì dường như cách suy nghĩ và quan hệ xã hội của người châu Á và châu Âu có khác biệt. Phần sau tác giả kết luận là nhân quyền với châu Á và châu Âu vì vậy cũng khác biệt.

    Tôi xin bỏ qua tranh luận châu Á và châu Âu khác nhau tới đâu, bởi vì xét cho cùng không hề có một bức tường nào đột ngột cắt đôi lục địa Á-Âu, khiến cho sự trao đổi bị đứt quãng.

    Điều tôi muốn hỏi có phải logic của tác giả là “suy nghĩ và quan hệ xã hội tạo ra nhân quyền”, vì thế nên suy nghĩ và quan hệ xã hội khác nhau thì nhân quyền cũng phải khác nhau?

    Tôi nghĩ đây là vấn đề tác giả không hề làm rõ mà đương nhiên thừa nhận, song lại tạo thành một hố sâu rất lớn trong lập luận của tác giả.

    Nếu nhân quyền là một cái gì khách quan, thì cho dù cách suy nghĩ và tổ chức xã hội của người châu Á và châu Âu khác nhau, không thể dựa vào đó để nói “nhân quyền châu Á khác nhân quyền châu Âu”. Điều này giống như nói ở các định luật vật lý của châu Á và châu Âu khác nhau, trọng lực trái đất ở hai nơi này khác nhau vậy.

    Nếu nhân quyền là chủ quan do nhận thức con người thì chúng ta hoàn toàn có thể xem xét tiếp lập luận của tác giả.

    Song, chính Hồ Chí Minh trong tuyên ngôn độc lập của mình đã sử dụng những yếu tố về nhân quyền của tuyên ngôn độc lập Mỹ cho thấy không có nhiều khả năng nhân quyền là một khái niệm chủ quan. Hơn nữa, nếu nhân quyền là chủ quan, thì nó cũng giống như sự ban phát quyền lợi của kẻ mạnh cho kẻ yếu. Điều này không thể gọi là “quyền” được.

    Ta thường dùng từ “quyền” cho một cái gì đó cơ bản, xuất phát nội tại từ chính bản thân ta, do tự nhiên hay xã hội ban tặng mà không từ một cá nhân tổ chức cụ thể nào. Nó không phụ thuộc chủ quan nghĩa là không biến mất kể cả nếu chủ nhân nó muốn. Ví dụ như quyền được sống, quyền được làm người, quyền được làm mẹ….

    Đương nhiên vấn đề hiện tại theo tôi chỉ là cái “quyền” trong “nhân quyền” được pháp luật bảo vệ đến đâu thôi. Xin chú thích là với tôi, “nhân quyền” là khách quan, nhưng pháp luật bảo vệ bao nhiêu lại là chủ quan của một số người, một cộng đồng, một dân tộc….

    Nói chung cảm nhận của tôi là bài viết của tác giả Trương Thái Du không ổn.
    Xin góp ý vậy

  10. Phùng Tường Vân says:

    Nhớ Một Câu Ca Dao Cũ

    Nhân quyền : quyền sống con người
    một đời nhân phẩm, một đời tự do .
    “Quần quyền” của Trương Thái Du
    là quyền không muốn tô hô, lõa lồ
    “Một năm hai thước vải thô
    làm sao che nổi bác H. người ơi”

    Đó là ca dao một thời
    Ấy thời bao cấp, ấy thời phiếu tem .
    “Cứ trong ý tứ mà xem”
    Họ Trương muốn níu thời tem phiếu về ?

1 2 3
  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả