talawas blog

Chuyên mục:

Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (5)

26/07/2010 | 7:00 sáng | 6 phản hồi

Tác giả: Lâm Hoàng Mạnh

Chuyên mục: Tổng hợp
Thẻ: > >

(Xem kì 1, kì 2, kì 3kì 4)

_________________

Chuẩn bị cho chuyến đi Lạng Sơn, tối 25-4 tôi đến cửa hàng tạp phẩm đối diện với hotel Z. mua bia, Bò Húc, (Red Bull), bánh ngọt. Thấy mua nhiều mà không hỏi giá, bà chủ quán, ngoại ngũ tuần, nhìn tôi từ đầu đến chân, lại từ chân lên đầu, hỏi: “Ông anh là Việt kiều Mỹ hả?”

Tôi vừa trả tiền vừa bảo: “Bà coi tướng nhầm rồi.”

Bà nguýt tôi một cái, nói: “Ông anh hay sang mua bia, em thấy ở hotel Z. mà.”

“Tôi ở Sài Gòn ra chơi.”

Cười thật tươi, bà ta nói: “Việc gì ông anh phải giấu. Việt kiều càng sang chứ sao.”

Lấp lửng, tôi bảo: “Bà tinh ý thật.”

“Da dẻ hồng hào, phong độ thế kia, chỉ có Việt kiều mới có làn da ấy.”

“Thôi tôi xin bà, ‘thất thập cổ lai hy’ rồi.”

Bà nịnh: “Ông anh còn tráng kiện lắm. Ông anh ở Cali hả?”

“Không.”

“Thế ở đâu? London hả?”

Tôi khẽ gật.

“Ông anh cho em đi theo với.”

“Bà có người nhà ở London?”

“Không, em sang trồng cỏ cho ông anh.”

Tôi phì cười: “Chết, nhà tôi làm gì có vườn mà trồng cỏ.”

“Ông anh cứ đùa.”

“Đùa? Trồng cỏ tù mọt xương.”

“Ông anh cứ dọa em. Em quen khối người, chỉ sau vài năm, giàu ú ụ. Họ bảo, bên Anh, ai cũng trồng cỏ. Trúng mánh lắm!”

Bà ta chỉ tay sang một tòa nhà 5 tầng mới xây, cách cửa hàng không xa: “Đấy, nhà vợ chồng Ng. A., Việt kiều London, không trồng cỏ, tiền đâu ra?”

“Họ khoe với bà?”

Nhìn trước nhìn sau, thấy vắng khách, bà nói nhỏ: “Thì bà vợ khoe, em mới biết.”

Bà thì thầm: “Em lạ gì họ, Hồi xưa, vợ chồng tã lắm, chạy vạy mãi mới đủ tiền cho chồng sang Tiệp lao động, chả biết thế nào, chạy được sang Anh, trồng cỏ vài năm, bây giờ có bạc tỷ.”

Bà kể tên một lô xích xông Việt kiều Anh mua nhà ở Hải Phòng, ở 6 tháng, lại về London, vài tháng sau lại sang. Đâu đâu cũng kháo nhau, cứ trốn sang được Anh, người ta thuê trồng cỏ, lương cao ngất ngưởng, ăn ở miễn phí. Vì thế, biết tôi định cư ở Anh, bà ta nửa đùa nửa thật, hỏi sống sượng, xin tình nguyện sang trồng cỏ thuê cho tôi!

Thế có chết không! Việt kiều Anh mang tai mang tiếng, không những ở Anh quốc, còn ở Việt Nam, nhất là ở thành phố Cảng thân yêu này. Của đáng tội, đó cũng là sự thật. Những năm gần đây, trên báo chí, các hãng truyền hình Anh thường xuyên loan tin phá vỡ nhiều ổ trồng cần sa của người Việt, trong đó dân Hải Phòng chiếm tỷ lệ rất cao. Năm 2008, tòa án Anh tuyên phạt một bác sĩ người Việt, chuyên viên phẫu thuật, 5 năm tù với tội danh trồng cần sa, rửa tiền. Y chuyển hai triệu rưỡi bảng Anh về Việt Nam đầu tư bất động sản.

Sáng hôm sau, trên đường đi Lạng Sơn tôi kể cho anh chị X. chuyện tối qua. X. bảo: “Dân Hải Phòng đua nhau tìm mối sang Anh trồng cỏ là có thật. Gần nhà em có người vượt biên từ năm 1988, định cư ở London, thế mà từ năm 2001 đến 2004 bà ta đã đưa được 7 thân nhân sang Anh trồng cần sa.”

Chị X. hỏi: “Nước Anh là quốc đảo, trốn sang đâu có dễ.”

X. lên tiếng: “Bà chả biết gì, phải có đường dây móc nối, không bị tóm cổ sớm.”

X. thêm: “Dịch vụ buôn người đâu có rẻ, ít nhất cũng 15, 20 ngàn đô, gần ba bốn trăm triệu chứ ít gì. Số tiền ấy ở Việt Nam buôn bán cũng đủ sống.”

X. quay sang hỏi tôi: “Anh chị ở Anh đã 30 năm có lẻ, chắc biết đường dây nhập lậu?”

“Nghe người ta kể, bản thân mình cũng gặp rất nhiều người Việt rơm. Biết ăn nói làm sao, họ là thân nhân của người mình quen. Chả nhẽ tố?”

Tôi kể cho anh chị về người rơm nhập cư lậu vào Anh như thế nào, theo như người ta kháo nhau bấy lâu nay.

Theo bản tin của Ban Việt ngữ BBC, “hiện có 30.000 người Việt sống hợp pháp tại Anh, nhưng cảnh sát ước tính số người Việt sống bất hợp pháp lên tới 35.000 người”[1], họ xâm nhập bằng nhiều ngả, hợp pháp và bất hợp pháp.

1- Du học, du lịch, thăm thân nhân, hôn thê…

2- Đường dây buôn người đưa qua khối Đông Âu, (Nga, Tiệp, Hung, Ba Lan, Đức…) sang Pháp, vượt cảng Dover bằng 3 cách: a) Hộ chiếu giả do nhân viên đại sứ quán Việt Nam tiếp tay. B) Bọn buôn người thuê hộ chiếu Việt kiều 500 bảng/ngày, chúng lái xe sang Pháp đón, chờ tối, đưa người rơm qua cảng Dover. Mánh này qua mặt hải quan Anh dễ dàng, trong lúc tranh tối tranh sáng, ánh sáng đèn pin hải quan không đủ nhận dạng chính xác người trong xe và ảnh trong hộ chiếu. c) Trốn trong các xe chở hàng.

3- Lao động xuất khẩu. Năm 2002, 2003, 2004 (?) chính phủ Anh chấp nhận khoảng 100 người Việt Nam sang lao động phổ thông (dịch vụ hotel). Nhưng hết hạn, đến 90% những người này “mất tích”, vì thế Anh quốc xóa hợp đồng xuất khẩu lao động với Việt Nam.

Người rơm hầu hết có thân nhân định cư ở Anh, họ là bình phong che chắn nơi ăn chỗ ở, giúp đỡ tiền bạc và việc làm. Trước kia, người rơm làm trong các tiệm nails, bồi bếp, bồi phòng của thân nhân. Năm 2005, Cục Di trú Vương quốc Anh gửi thông báo tới từng cửa tiệm người Việt bằng Anh ngữ và Việt ngữ, cảnh báo, nếu sử dụng lao động nhập cư bất hợp pháp sẽ bị phạt 5000 bảng/người (năm 2009 tăng lên 10 ngàn) và bị truy tố trước pháp luật. Những năm đầu, các tiệm người Việt coi thường giấy cảnh báo của Bộ Nội vụ, từ năm 2007, cảnh sát tăng cường kiểm soát, nhiều tiệm nails, nhà hàng bị phạt, truy tố, chủ tiệm bắt đầu “rét”, không dám chứa chấp. Người rơm chuyển sang trồng cỏ rải rác trên toàn UK, một số mua được thẻ lao động giả, vẫn tiếp tục làm tiệm nails, nhà hàng.

Cửa khẩu Tân Thanh

Xe vẫn bon bon trên đường 1A, X. vừa lái vừa nói chuyện cho đỡ buồn ngủ, anh hỏi tôi: “Anh chị đã đi Lạng Sơn bao giờ chưa?”

“Rồi. Hè 1960, lên thăm ông chú họ bằng đường tầu hỏa. Hà Nội – Lạng Sơn có 150 km, ấy thế mà tầu chạy gần 6 tiếng, chậm như rùa.”

“Ối dào, thế còn là nhanh, sau này tầu chậm 10 đến 12 tiếng là chuyện bình thường, chả thế nhà thơ Bút Tre viết tặng ông Tổng Cục trưởng Tổng cục Đường sắt, Hà Đăng Ấn bài thơ:

Đường sắt có anh Hà Đăng

Ấn cho đường sắt băng băng như rùa

Toàn ngành phấn khởi thi đua

Cuối năm tính sổ vẫn thua xe bò!”

Đọc xong, X. bảo: “Anh biết, nhà vệ sinh trên tầu rất bẩn, ông Bút Tre làm thơ khuyên hành khách thi đua:

Sao cho đúng lỗ mới tài,

Nếu trượt ra ngoài, kỹ thuật còn non,

Mấy lời nhắn nhủ bà con

Tầu ta còn chạy, ta còn thi đua!”

Tôi bảo: “Năm 2004, đi tầu vào Sài Gòn, toilet trên tầu vẫn bẩn như thế.”

Vừa lái xe X. vừa kể chuyện, chẳng mấy lúc đã đến Lạng Sơn. X. như ma xó, nơi nào cũng biết, anh bảo: “Lạng Sơn có ba chợ, Kỳ Lừa, Đông Kinh và Tân Thanh.”

“Mình đã đi chợ Kỳ Lừa rồi.”

“Chợ Kỳ Lừa bây giờ vắng, kém xa chợ Đông Kinh và Tân Thanh. Anh đã ăn món Thắng Cố bao giờ chưa?”

“Ngày ấy, mình đi chơi đúng vào phiên chợ Kỳ Lừa, nhìn thấy nấu thắng cố, hãi lắm. Không biết ngày nay món thắng cố đã mô-đi-phê chưa, chứ ngày xưa, chịu. Ngựa giết xong, lột da, lật phần lông lên trên, buộc túm lại làm chảo, (thời ấy rất ít chảo sắt to), thịt ngựa, lòng ngựa, kể cả ruột già, họ tút phân xong, rửa qua loa cho vào ‘chảo’, đổ nước đun, bỏ ít hạt dổi, thảo quả, chẳng muối mắm gì. Khi sôi, thế là múc ra bát bán, họ ăn uống xì xụp với nhau, ai muốn mua thêm thịt, gan, tim thì mua, uống với rượu ngô mang theo. Người Kinh chả ai dám ăn.”

“Tháng 9 năm 2008, em lên Mai Châu, chủ nhà trọ, ông già nguời Thái, nấu thắng cố bằng chảo, ruột rửa kỹ hơn, cũng cho thảo quả, hạt dổi, nhưng em cũng chưa dám đụng.”

X. đưa chúng tôi vào thăm chợ Đông Kinh. Mới cuối tháng Tư mà chợ đầy mận, đặc biệt bán rất nhiều rau sắng, người Lạng Sơn gọi là “rau ngót rừng”. Chùa Hương và Kim Bôi Hòa Bình có nhiều rau này, vợ tôi bảo chị X.: “Rau sắng đấy, chị mua không?”

Thấy rau sắng, X. đọc luôn bài thơ của thi sĩ Tản Đà:

“Muốn ăn rau sắng chùa Hương

Tiền đò sợ tốn, con đường ngại xa

Mình đi ta ở lại nhà

Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm.”

Tôi bảo: “Anh có biết ai gửi biếu Tản Đà gói rau sắng qua đường bưu điện, kèm theo bài thơ:

Kính dâng rau sắng chùa Hương

Tiền đò đỡ tốn, con đường đỡ xa

Không đi xin gửi lại nhà

Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.”

X. cười: “Ai gửi, chịu không biết, nhưng Tản Đà có bài cám ơn người biếu:

Mấy lời cảm tạ tri âm

Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình.

Đường xa rau sắng vẫn xanh,

Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.

Yêu nhau xa cách càng yêu,

Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan.

Núi non khuất nẻo ngư nhàn,

Tạ lòng xin gửi Thế Gian đưa tình.”

Tôi cười: “Mình nghe người ta kể, nhà văn Phạm Cao Củng gửi cho Tản Đà, chứ chả phải nữ sĩ Song Khuê gửi biếu đâu.”

X. bảo: “Giai thoại này thực hư em chịu.”

Chúng tôi vào nhà hàng đặc sản phường Đông Kinh dùng bữa trưa. Đặc sản Lạng Sơn có vịt quay Bắc Kinh và lợn sữa quay với lá mắc mật. Hai món này ngon tuyệt! Chính lá mắc mật làm dậy mùi thơm thịt quay mà ở Hà Nội và Hải Phòng không thể có. Theo X., cây mắc mật mọc ở bờ rào, trước kia không ai biết sử dụng lá này. Sau năm 1995, Lạng Sơn phát triển hàng ăn Tầu, đã học cách quay thịt của người Hoa, lấy lá cây mắc mật quay với thịt. Quả mắc mật, đường kính dưới 1 cm (nhỏ hơn quả olive), có vị lạ, ngâm với măng, ớt, ăn cũng tạm được.

Góc chợ Tân Thanh (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Ăn xong, chúng tôi lên đường, đến chợ cửa khẩu Tân Thanh. Khu chợ khá lớn, hàng hóa 100% từ Trung Quốc tràn sang, nhưng kém chất lượng, “hét” với giá trên trời! Một sạp quần áo “thùng” chất đống ngay ngoài cổng chợ, chiếc cát-sét rao hàng qua loa phóng thanh oang oang, nhai nhải điệp khúc: “Đại hạ giá! Đại hạ giá! Ba quần 100 ngàn! Vâng chỉ có trăm ngàn! Quý khách mua mau, kẻo không lại hết!” Giống hệt anh chàng bán thuốc ê. Chúng tôi ghé vào, xem kỹ, chất lượng vải rất kém, đường kim mũi chỉ may dối, thuộc hàng “đại rởm”. Ấy thế mà người chen nhau mua, đông như kiến.

Các quầy trong chợ, hàng bày không ghi giá tiền, ai hỏi, chủ hàng nhìn khách từ đầu đến chân, rồi lại từ chân lên đầu, đoán xem khách ở đâu đến, sau đó mới ra giá. Tôi xem một chiếc áo phông (T-shirt). Chủ hàng, một thanh niên khoảng 25 tuổi, “hét” 150 ngàn đồng (# 6 bảng Anh). Trời đất, áo này ở London bán ma nó mua, nếu có, khoảng 1 bảng là hết cỡ. Hỏi chơi thế thôi, ai ngờ cậu ta bám theo và cứ mè nheo bắt phải trả giá. Tôi đành im lặng, tìm bài chuồn. Người ta bảo, bọn bán hàng ở đây ghê gớm lắm, đã hỏi mà không trả giá chúng giở trò ngay! Người bán hàng ở Việt Nam nói chung rất mất lịch sự, ngay ở Hà Nội, Hải Phòng cũng vậy, hễ đã sờ vào, hay hỏi giá hàng mà không mua, họ lấy giấy “đốt vía”, làu bàu nguyền rủa, có người còn bị khà khịa, sỉ vả thậm tệ.

Cửa khẩu Hữu Nghị

X. trao đổi với người phụ trách trạm kiểm soát, họ đồng ý cho chúng tôi vào tham quan, chụp ảnh cột mốc và trạm kiểm soát cửa khẩu hai bên.

Trung tâm Thương mại Trung Quốc (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Đến biên giới, so sánh giữa hai nước, tôi mới thấy, khu vực thuộc Việt Nam quản lý thì nhà cửa, trung tâm thương mại, trạm xuất nhập cảnh rất tạm bợ, nhỏ bé, xấu xí…, một cái gì đó chưa ổn định, nếu không muốn nói là… lép vế! Trong khi đó Trung Quốc xây dựng kiên cố, hoành tráng, to đẹp. Tại sao vậy?

Hải quan Trung Quốc tại cửa khẩu Hữu Nghị (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Phần rải đá trắng là của Trung Quốc (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Cửa khẩu Hữu Nghị ngoài cột cây số 0, còn có 2 cột mốc biên giới, 1116 và 1117, cách nhau khoảng 100 mét. Ngay hai cột mốc này, phần thuộc Trung Quốc hoành tráng và đẹp hơn của Việt Nam rất nhiều.

Cột cây số 0, Hữu Nghị Quan (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Cột mốc 1117, cửa khẩu Hữu Nghị (Ảnh: Lâm Hoàng Mạnh)

Đứng dưới cột mốc 1117, tôi hỏi X: “Có phải Trung Quốc đã lấn chiếm một số đất vùng biên Lạng Sơn phải không?”

“Phải, phía ga Đồng Đăng, khoảng 400 mét.”

X. giải thích cho tôi hiểu: “Thời chiến tranh chống Mỹ, hàng viện trợ của phe XHCN khối Đông Ấu và tên lửa Liên Xô đưa sang Việt Nam, qua Trung Quốc bằng tầu hỏa. Đường sắt Trung Quốc rộng 1,432 mét, đường sắt Việt Nam có 98 cm, Trung Quốc lắp thêm đường ray (thành 3 đường) cho rộng đủ 1,432 mét để tầu chở vũ khí chạy thẳng sang Việt Nam. Đường sắt 3 ray Kép-Yên Lập-Cái Lân, ngoài mục đích chuyển hàng vào kho còn đề phòng Thủy quân Lục chiến Mỹ đổ bộ vào miền Bắc, Trung Quốc sẽ dùng con đường này đưa quân sang trấn giữ bảo vệ khu Hạ Long. Con đường huyết mạch vận chuyển hàng viện trợ của phe XHCN chính là đường sắt 3 ray từ ga Đồng Đăng xuống Thái Nguyên–Yên Viên. Phi công Mỹ gọi là Tam Giác Sắt, cần phải triệt phá. Nơi đây cũng chính là túi hứng bom Mỹ. Chiến tranh biên giới (17-2-1979) kết thúc, quân Trung Quốc chiếm gần 1000 mét khu Đồng Đăng. Lý do Trung Quốc đưa ra là đường tầu Trung Quốc rộng 1,432 đến đâu, đất Trung Quốc đến đó. Sau bao nhiêu cuộc thương lượng về biên giới, đòi mãi, Trung Quốc trả lại 600 mét cho Việt Nam, biên giới Trung Quốc kéo thêm 400 mét vào lãnh thổ Việt Nam. Ngày nay, hai nước đã đóng cột mốc, công nhận phần đất ấy thuộc Trung Quốc.

Đường biên giới Việt - Trung bị Trung Quốc lấn chiếm sau ngày 17-2-1979 (Bản vẽ minh họa của X.)

Lạng Sơn, cửa ngõ của biên giới, nơi đây đã chứng kiến biết bao lần cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng chính nơi đây là cửa ngõ thương mại của hai quốc gia có từ hàng ngàn năm trong cuộc dựng nước và giữ nước của hai dân tộc Việt-Hán.

Nói như nhà văn Phù Thăng, “chiến tranh là chiến tranh, không phải do tôi và do anh gây ra”, có nghĩa trách nhiệm không thuộc người lính và người dân của hai chiến tuyến. Trách nhiệm thuộc về kẻ lãnh đạo quốc gia đã tham gia chiến tranh, còn người dân của hai nước vùng biên chỉ là nạn nhân của những cuộc xâm lược giành bá quyền, thôn tính lẫn nhau. Mai đây, một vài thập niên, thậm chí vài thập kỷ nữa, các sử gia Trung Hoa có thể sẽ ghi: “Ông cha ta mở mang bờ cõi xuống phương Nam”, như tất cả sử gia các quốc gia khác, mỗi khi cuộc chiến tranh xâm lược, chiếm lĩnh lãnh thổ của nước láng giềng thành công.

(Còn nữa)

© 2010 Lâm Hoàng Mạnh

© 2010 talawas


[1]Truy quét dân nhập cư lậu” của Nick Thorpe, BBC Việt ngữ điện tử ngày 26-6-2010

Phản hồi

6 phản hồi (bài “Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (5)”)

  1. Phùng Tường Vân says:

    “Sáng nay vừa thức dậy”
    Có đến hai bạn “tri ầm” nhắc đến ta
    Gọi là bạn “tri ầm”
    vì thẩy đều là những người
    biết giận dữ và cũng biết xót thương
    giận dữ trước bao nỗi khốn nạn ở quê hương
    khốn nạn đến một mức độ
    mà một nhà thơ đến gần như
    cạn cả chữ nghĩa phẫn uất.
    Xót thương cũng mênh mông
    trước bao mảnh đời ngơ ngác
    tàn rạc ngay trên quê hương mình
    những thày cô giáo của Liêu Thái
    những nông dân dưới triền đập Đồng Cam
    của Phùng Hi
    những mảnh linh hồn nhỏ trở nên những đốm đom đóm
    của K.Đ. và nhiều nhiều lắm
    như cát Sông Hằng vậy.
    bắt chước một nhà văn
    ta cũng muốn nói
    có bao nhiêu những đốm đom đóm
    lập lòe trên những đồng chuôm của quê ta
    thì cũng có bấy nhiêu oan khuất, chết chóc
    nhục nhằn, đầy đọa .
    biết đên bao giờ ta được về lại
    hát ngao một câu trong tình khúc Phạm Duy
    “Đừơng ta đi trời đất yên vui”
    Các Bạn nhỉ !

  2. Trương Đức says:

    “Nếu khi nào về Việt Nam làm Còi Không Hụ (chắc bác cũng muốn thế), nếu ra Bắc, nhớ rẽ qua Hải Phòng, xin giới thiệu món Gà đồi (1/2 con, quay hay luộc) + Xôi Dừa + Miến lòng gà, có 60 ngàn đống/xuất (3 Mỹ kim), ngon tuyệt.”(Lâm Hoàng Mạnh)

    @bác Lâm Hoàng Mạnh kính mến,

    Tôi xin vỗ tay hoan nghênh và cám ơn rất nhiều tấm thịnh tình của bác dành cho diễn đàn talawas nói chung, và cho bác Phùng Tường Vân nói riêng. Những bài viết của bác, cụ thể là những món ăn thức uống quê hương VN mà bác giới thiệu, đối với tôi, chúng có vẻ “có lý” và “ngon miệng” hơn nhiều những “món” như là “hơi cay” hay “cốc teo”!

    Xin cám ơn bác! Trân trọng.

  3. Lâm Hoàng Mạnh says:

    @Bác Phùng Tương Văn.

    Nếu khi nào về Việt Nam làm Còi Không Hụ (chắc bá cũng muốn thế), nếu ra Bắc, nhớ rẽ qua Hải Phòng, xin giới thiệu món Gà đồi (1/2 con, quay hay luộc) + Xôi Dừa + Miến lòng gà, có 60 ngàn đống/xuất (3 Mỹ kim), ngon tuyệt.

    Những ngày ở Hải phòng vợ chồng đệ đã đến thưởng thức 4 lần. Quá tam 4 bận, vì trên cả tuyệt vời!

    Tên cửa hàng Mạnh Hoạch cách Hải phòng # 20 km đi Hải Dương.

  4. Phùng Tường Vân says:

    “Nhớ Nhà Thêm Đôi Nét…”

    Bác Lâm kể chuyện Lạng Sơn với heo sữa quay lá mắc mật,”vịt lạ” kiểu ta…”Ôi! Nhớ lắm mùi hương cây, luống đất”: còn nhớ ít năm trước cũng đã có dịp đến chiêm bái các tiên liệt anh hùng ở Chi Lăng, một bạn đồng hành giới thiệu gà đồi và đu đủ chín của bà con cư dân quanh cửa ải lịch sử ấy, cũng là ngon gớm bác Lâm à. Gà nuôi thả rong trên các sườn đồi thấp, thịt chắc thơm và ngọt ngào,; các quán thô sơ nằm ngay đối diện với lối vào Linh Điện Chi Lăng cũng có một bí quyết nướng gà riêng : da chỉ vàng đậm hơn gà luộc chút ít nhưng cắn thì miếng thịt hơi bám vào răng nhai nhẹ nhàng thì (các) bác sẽ thấy một vị đậm, ngọt. Gà nướng được bọc lại từng con để du khách đem theo ăn đường hoăc đem về Hà Nội làm quà là bà con xuýt xoa lắm. Còn đu đủ chín Chi Lăng thì cũng là một thứ thực quả cả nước không nơi nào có.

  5. phivu56 says:

    Mời xem: HS.TS.VN = Tự hào dân tộc do thanh niên ở trong nước thực hiện biểu tỏ lòng yêu nước.

    http://ttxva.com/hs-ts-vn-danh-du-dan-toc/

  6. […] Lâm Hoàng Mạnh – Còi không hụ du ký (5) : talawas blog […]

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả