talawas blog

Chuyên mục:

Nguyễn Lê Hiếu – Những người đồng điệu: Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Thanh Giang

19/08/2010 | 7:00 sáng | 15 phản hồi

Tác giả: Nguyễn Lê Hiếu

Chuyên mục: bình luận
Thẻ: >

Tôi thích thú khi đọc bài về Nguyễn Mạnh Tường do Nguyễn Thanh Giang viết. Không nhất thiết vì ý kiến hay thông tin trong bài. Những chi tiết trong bài, nếu ai để ý đến vụ Trăm hoa đua nở, hay chú ý đến cuốn Un Excommunié, hoặc đọc nội san trường Bưởi hay tạp chí Xưa và Nay đều biết rõ. Không có thông tin mới. Nhưng mà rất thích vì hai điều chính. Thứ nhất, bài viết xác nhận thêm một lần nữa, cộng sản không hề thay đổi; cách đây 60 năm họ đày đọa trí thức không a dua theo đòi, thì nay họ vẫn tiếp tục đọa đày trí thức bất đồng ý kiến. Đây là một bài học ôn, nhắc lại cho thế hệ trẻ hiểu rõ tính chất của cộng sản. Vấn đề không hoàn toàn mới mẻ; nhưng vẫn cần thiết nhắc thêm.

Điều thích hơn nữa là nhân cách của người viết. Không phải nhà nghiên cứu XYZ viết về Nguyễn Mạnh Tường; mà cũng không phải là Nguyễn Thanh Giang viết về nhân vật ABC. Đây là trường hợp hai người đồng điệu của hai thế hệ, người sau viết về người trước mà cũng như là nhìn thấy và phần nào tả chính lòng mình. Hãy tưởng tượng bây giờ là tiết tháng ba, có ba chị em đi tảo mộ về, thấy Sè sè nấm đất bên đàng, rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh. Cậu em biết tỏng sự tích ngôi mộ hoang, vanh vách tả ngọn ngành. Cô chị giữa nghe xong dửng dưng. Cô chị lớn, trái lại, đầm đầm châu sa than khóc cho số phận đàn bà, nghiến răng trách trời đất phũ phàng chi mấy hóa công rồi rút trâm sẵn dắt mái đầu vạch da cây, vịnh bốn câu ba vần… Hữu tình ta lại gặp ta, chẳng nề u hiển mới là chị em… Lại than thêm Nỗi niềm tưởng đến mà đau, thấy người nằm đó, biết (mình) sau thế nào? Mọi người biết cộng sản đày đọa trí thức làm sao. Cũng như ai cũng biết trại cải tạo của cộng sản cực khổ như thế nào. Nhưng biết thì vẫn biết; mà cảm được cái đau khổ thì chính những người trí thức bị đọa đày hay người tù cải tạo mới thông cảm với nhau nhiều hơn. Cái hiểu do trí tuệ phân tách dẫn giải; cái cảm thông do cảnh cùng thuyền mà chia sẻ; cái đồng điệu bao gồm cả trí tuệ, nhân cách, hoàn cảnh, tâm tình… hiển hiện rõ ràng khi Nguyễn Thanh Giang nói về Nguyễn Mạnh Tường.

Những người thời sau – trong đó có Phong Uyên, Trung Nu Hoàng, Hạnh Đào – nhắc đến Nguyễn Mạnh Tường, tìm hiểu và phân tích hoàn cảnh với chút mến thương (hại?). Lẽ dĩ nhiên cũng có những người tài cao thì chê: xì, cũng thường thường bậc trung, hết cử nhân học thêm thì tiến sĩ có gì là lạ. Hay chê bai ngu dốt về chính trị, đánh cờ cháy túi, đáng kiếp… Hay hám danh khi vỡ mộng thì ráng chịu… Nhưng xét cho kỹ, lời phê bình người trước, thường chẳng ảnh hưởng nhiều đến người được nhắc tới đã nằm ở dưới đất, mà lại phô bày rõ hơn nhân cách của người viết ở đời nay.

Đá gió

Khi phê bình người xưa, đôi  khi ta dùng nhầm tài liệu nguốn gốc. Không đọc chính tác giả, nhưng dựa vào lời trích dẫn hay dịch thuật vốn thường là tai nạn tam sao; và rồi dễ hiểu lầm. Thí dụ mấy lời phê bình nghiệt ngã của Trần Kinh Kha. Điểm thứ nhất, ông nói đến khả năng về chính trị của Nguyễn Mạnh Tường.Tư duy chính trị quá kém, hay không muốn nói là không có. Vậy mà cũng tham gia chính trị nữa mới ghê chứ. Thật ra ông ta háo danh chính trị mà thôi, chứ chả phải ngộ nhận gì cả đâu. Nguyễn Mạnh Tường làm gì có sự nghiệp chính trị? Ông làm một trưởng nhóm trong phái đoàn Việt Nam tại Đà Lạt với tư cách một chuyên viên văn học, ông đọc bài “Phân tích lỗi lầm trong vụ Cải cách Ruộng đất” cũng với tư cách chuyên viên luật. Ông cầm phái đoàn dự hội nghị quốc tế vì ông là trưởng Luật sư đoàn, vẫn là vì chuyên môn. Ông không làm chính trị; ông làm công tác văn hóa giáo dục. Ông bị đọa đày vì dám công khai đề nghị một chính thể pháp trị; tuy nhiên ông không đấu tranh về chính trị, không là đại diện, dân biểu hay cán bộ cáo cấp của đảng. Ông cũng không phải là bộ trưởng hay thượng thư. Ông đã tả rõ ràng lằn ranh giới và sự khác biệt giữa luật và chính trị. Nên ông không nhận làm chính trị.

Điểm thứ hai, khi chỉ trích Hạnh Đào, Trần Kinh Kha viết Trả lời đoạn này của cô, tôi trích từ topic này nói về chính cuộc đời ông Tường (cô vui lòng đọc kỹ lại topic): “Cuối cùng tôi cũng phải hiểu ra là mình không nên đắm mình trong cái ảo tưởng về số phận của những cuốn sách không bán được của tôi.” Thế đấy cô Hạnh Đào, Đến khi cuộc đời đã rơi đến mức khốn cùng, như không còn gì khốn cùng hơn thì chính ông đã tự thừa nhận mình đắm chìm trong ảo tưởng những cuốn sách mà ông viết.

Câu Trần Kinh Kha dùng để đạp người đã rơi đến mức khốn cùng sự thực là một hiểu nhầm. Nguyễn Mạnh Tường kể sự khốn cùng của mình dẫn đền việc, để tồn tại, ông phải mang bán trước là đồ trang phục của vợ, những bộ bát đĩa quý của gia đình, sau đến máy nghe nhạc và những bộ đĩa nhạc cổ điển của mình; và sau rốt là những bộ sách yêu chuộng trong tủ sách riêng của nhà giáo dục văn hóa. Có những sách khá phổ thông nổi tiếng như Odyssée và Enéide còn có người đoái tới, nhưng tác phẩm của những tác giả theo chiều dài cả nền văn học Pháp từ thời Trung Cổ qua các thế kỷ 16, 17, 18 và nửa trước thế kỷ 19 không được ai chú ý… Rồi Nguyễn Mạnh Tường kết luận một cách chua chát

(Je ne dois pas me nourrir d’illusions sur le sort des invendus de ma bibliothèque. Il me faut résigner à les liquider, au poids du papier, entre les mains de marchands de paperasses, qui les revendent ensuite pour en faire de la pâte à papier.)

Tôi chẳng nên nuôi hy vọng hão về số phận của lũ sách không bán được còn lại trong tủ sách của tôi. Tôi đành phải bán chúng theo ký, cho những kẻ đi mua giấy lẻ về bán lại để biến chế thành bột làm giấy.

Nguyễn Thanh Giang chuyển ngữ (dịch thoát) thành “…(tôi)  không nên đắm mình trong cái ảo tưởng về số phận của những cuốn sách không bán được của tôi. Của tôi ở đây chỉ định sở hữu nhưng mà Trần Kinh Kha hiểu là chỉ định mình là tác giả; và mang ra bồi thêm một cú đá oan uổng cho người khốn cùng, lại cũng đá xéo cả Hạnh Đào. Mong rằng khi hiểu rõ sự nhầm lẫn này, Trần Kinh Kha sẽ có thái độ bình tĩnh và thông cảm hơn.

Yếu tố thời gian

Đôi khi chúng ta phạm phải một lỗi nhỏ khác là dùng những hiểu biết về sau mà phê bình việc trước; hay dùng tiêu chuẩn thời này nơi này áp dụng cho việc xưa nơi khác. Vài người khác—trong đó có Nam Phan và Hoàng Trường Sa—nhắc đến chi tiết Hồ Chí Minh gọi Nguyễn Mạnh Tường bằng ngài, ngụ ý đó là miếng bánh vẽ làm cho Nguyễn Mạnh Tường bi mắc mồi! Ông Nguyễn Mạnh Tường chắc là sung sướng hả hê vì được “Bác” chiếu cố ngưỡng mộ, kính nể gọi mình là ngài này ngài nọ, nên đã tin tưởng hết lòng phục vụ “kụ” Hồ và cách mạng.

Từ ngài này có thể khó hiểu cho những người không sống tại Hà Nội vào thời điểm 35-45. Sang đến cuối 45 thì phong trào xưng hô bên ngoài phố là đồng chí . Ai sống hồi đó nhớ bài riễu Đồng chí, anh sờ tí, đồng ý, anh sờ đi. Nhưng những từ “cách mạng” đó chưa áp dụng cho giới tạm gọi là ở thượng tầng xã hội trong những trường hợp trang trọng. Trong trí nhớ thằng nhỏ là tôi—một nhi đồng—thì tuy ảnh hưởng Nam phong trong văn học đã giảm nhưng uy tín và ảnh hưởng của Phạm Quỳnh vẫn cao. Uy tín của các vị trong trường Viễn đông bác cổ như Nguyễn Văn Khoan hay Nguyễn Văn Tố cũng rất cao. Một giai thoại là khi mấy cụ này gặp nhau, ngồi mạn đàm bên ấm trà, thì bên ngoài tưởng như các cụ đang thiền. Một cụ nói một câu, rồi tất cả im lặng năm mười phút. Suy tư. Sau đó cụ thứ hai nói thưa ngài, tôn ý… Lại năm mười phút sau, cụ thứ ba lại thưa quý ngài, thiểm ý… Văn hóa giới trí thức thời cổ như vậy, họ trao đổi ý kiến, nghe người khác và trình bày ý mình, từ tốn, một điều ngài hai điều ngài; xưng bỉ nhân. Ngài không phải là một tiếng nịnh bợ hay bánh vẽ khôi hài như ta thấy ở nhiều nơi và nhiều thời khác. Nó là vấn đề văn hóa cũng như những văn sỹ, thi sỹ thời đó viết sách tặng nhau thường đề chữ tặng bằng tiếng Pháp.

Nạn xâm lăng và tệ sứ quân

Riêng về khía cạnh đấu tranh chính trị, có người cho là Nguyễn Mạnh Tường ngu xuẩn hay hám danh mà đầu quân theo Hồ Chí Minh. Có người đi xa hơn, nói Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Thanh Giang cũng vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm của những gì họ phải gánh chịu. Nói thực giản dị, họ đã trực tiếp đóng góp công sức và trí tuệ vào việc tạo dựng ra cái đảng mang tên là ĐCSVN ngày nay, và tiếc thay, họ đã bị đảng này phản bội.

Vì lòng hăng say chống Cộng nên mới gan dạ buộc tội Nguyễn Mạnh Tường tạo dựng ra Đảng Cộng sản Việt-Nam, rồi cổ võ đánh chiếm miền Nam (dẫn đến cao điểm biến cố 30 tháng 4 1975?) Điều này đi ngược lại với các dữ kiện lịch sử. Những người ôm ấp các chủ thuyết tích cực đôi khi hăng say vượt qua sự thực. Trong hoàn cảnh đó, khó mà còn chỗ để thảo luận. Cũng cố gắng bàn về việc Nguyễn Mạnh Tường đi theo kháng chiến. Nhắc lại một lần nữa, ở Hà Nội (và có lẽ ở hầu hết các nơi trong nước, nhất là lúc Nam kỳ khởi nghĩa), vào năm 1946, vấn đề cấp bách và sinh tử chưa phải là chống Cộng. Các lãnh tụ nhiều đảng phái (Cộng, Quốc, Cách) tranh quyền dựa dẫm vào nhiều nhóm quyền lực khác nhau xử sự như những sứ quân. Nhưng vấn đề cấp bách, sinh tử là quân Pháp đã trở lại ở phía nam vĩ tuyến 16 và đang từ từ đưa quân ra Bắc. Trừ những người đã dấn thân rõ rệt vào một phe phái riêng, còn lại dân chúng bên ngoài chỉ có hai chọn lựa: đi kháng chiến chống xâm lăng hay ở lại hợp tác với họ. Không có lựa chọn thứ ba: Không thể có thành phần thứ ba hay trung lập khi có ngoại xâm. Những tiếng tỵ nạn hay thuyền nhân chưa được sử dụng. Mấy ai nghĩ đi Pháp hay đi Mỹ? Không sống ở thời đó và nơi đó, không biệt thực trạng nên mới có thể viết rằng Ông (Nguyễn Mạnh Tường) bị đưa đẩy trong dòng chảy lịch sử, nhưng ít nhiều chính ông cũng đã lựa chọn nó, trong tình thế không phải là không có cách lựa chọn khả dĩ khác.

(Những người ở lại thực sự không yên lòng lắm vì người đồng minh Pháp cũng không thực tình mà chỉ muốn bắt ép mình. Ngay cả từ 1949 khi Quốc trưởng Bảo Đại ra chỉ thị khi gọi “người” phải ghi là Đức Quốc trưởng, tinh thần những người hợp tác cũng không hoàn toàn thơ thới hân hoan trong khi phục vụ dưới thể chế mới Quốc gia Việt Nam).

Chỉ khoảng 1950 trở về sau, và đặc biệt sau 1954 thì giải pháp quốc gia chống Cộng mới được rõ ràng minh bạch. Lúc đó mới có cơ hội chọn lựa. Nên việc chê bai Nguyễn Mạnh Tường không có tư duy chính trị, không biết chọn lựa chính tà (khi chưa có chính tà vào thời điểm 1946) là không biết đến thực trạng thời đó, là đi đảo ngược lịch sử.

Trên đây, tôi chỉ nhặt ra vài điều tôi thấy chưa ổn trong việc phân tách hay phê bình Nguyễn Mạnh Tường trong mấy ngày qua theo dõi trên talawas. Xin nhắc lại tôi thích thú khi đọc Nguyễn Thanh Giang viết về người đồng điệu Nguyễn mạnh Tường. Và cũng cảm ơn lời góp ý của Tôn Văn  mà chúng tôi xin phép dùng làm câu kết cho bài viết này.

Cảm ơn tác giả Nguyễn Thanh Giang (về) những giòng viết thật cô đọng và cảm động. Cuộc sống chỉ có ý nghĩa và được duy trì khi con người biết HƯỚNG THIỆN và HƯỚNG THƯỢNG; Muốn như thế, phải có tầm nhìn bao quát và vươn vượt lên trên. Đó là chức năng của TRÍ THỨC (người làm công việc “tri thức“) nhưng cũng là nguyên do dẫn đến bi kịch của họ. Vấn đề là: Do chức năng của mình, trí thức có được cái nhìn minh triết về cuộc sống và tin tưởng có cơ sở vào con đường tất yếu đến THIỆN (tính nhân bản). Niềm tin đó cho họ sức mạnh: Sỹ khả sát, bất khả nhục. Và cuộc sống qua bao lầm lạc và tội lỗi, sẽ phải trở về minh triết cơ bản: Hiền tài là nguyên khí Quốc gia!

© 2010 Nguyễn Lê Hiếu

© 2010 talawas

Phản hồi

15 phản hồi (bài “Nguyễn Lê Hiếu – Những người đồng điệu: Nguyễn Mạnh Tường và Nguyễn Thanh Giang”)

  1. Phùng Tường Vân says:

    “Kinh nghiệm cá nhân là Cựu hoàng thành Cố vấn nên các năm 1945-1950 không thấy việc bôi bẩn chửi rủa nhà vua.” (Nguyễn Lê Hiếu).

    Tôi thì nhớ ngay sau khi Bảo Đại và Nguyễn Tường Tam dời chính quyền “liên hiệp” đã có ngay một chiến dịch đả kích hai nhân vật lịch sử này rồi. Khi đó tôi tản cư về sống ở một làng quê Thái Bình (Làng Khuốc) còn nhớ được xem một đêm kịch mà Hội Chèo địa phương diễn một màn chèo ngắn, nội dung hài hước diễn cảnh Bảo Đại và Nguyễn Tường Tam “ăn trộm” vàng trốn đi Hồng Kông du hí !
    (Đêm ấy vở kịch ngắn “Người Tù Binh” của Hoàng Như Mai cũng được chính tác giả đưa lên sân khấu lần thứ nhất. Ông Mai lúc ấy cũng tản cư về đấy và dậy học tại trường Trung Học Phan Thanh).

  2. Hoàng Trường Sa says:

    @ Nguyễn Lê Hiếu,

    Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam, thuộc VNCH, cho đến ngày phải rời bỏ quê hương. Tôi biết ông Ngô Đình Diệm có truất phế Vua Bảo Đại để lập ra nền Đệ Nhất Cộng Hòa. Nhưng ở miền Nam, không có chuyện chửi rủa vua Bảo Đại do chính quyền (dù là Đệ Nhất hay Đệ Nhị Cộng Hòa) giựt dây hay đạo diễn. Họa chăng là có những lời đàm tiếu trong dân gian chê trách cựu hoàng Bảo Đại là ông Vua ăn chơi, tham mê săn bắn, không lo việc nước. Thế thôi. Trong miền Nam, chúng tôi học sử vẫn công bình ca tụng công lao mở nước của các chúa Nguyễn, công lao thống nhất đất nước của Vua Gia Long.

    Trái lại miền Bắc XHCN của ông Hồ thì ra rả chửi bới cả dòng họ, tổ tiên Vua Bảo Đại từ Gia Long đến Đồng Khánh (thậm chí cả từ thời các chúa Nguyễn). Mục đích của ông Hồ và ĐCSVN chỉ là hạ uy tín đối thủ, để chiếm thế CHÍNH THỐNG, bất chấp sự thật và lẽ công bằng. Ngay cả cụ Phan Thanh Giản, người mà chúng tôi kính trọng về lòng trung quân ái quốc, cũng bị ĐCSVN thống trách thậm tệ.

    Trong bài Thảo luận về quan điểm chính thống đánh giá về triều đình Nhà Nguyễn, tức là quan điểm của ông Hồ và ĐCSVN có đọan như sau:

    “Nguyễn Hoàng đến Đồng Khánh, những công việc mà các vua nhà Nguyễn đã làm trong khoảng thời gian 330 năm ấy,… tự chúng tố cáo tội ác của nhà Nguyễn trước lịch sử của dân tộc chúng ta.” “Theo lệnh của các vua nhà Nguyễn, bọn sử thần của nhà Nguyễn làm công việc biên soạn Đại Nam thực lục đã cố gắng rất nhiều để tô son vẽ phấn cho triều đại nhà Nguyễn … Nhưng bọn sử thần ấy vẫn không che giấu nổi các sự thật của lịch sử. Dưới ngòi bút của họ, sự thật của lịch sử … vẫn phơi bày cho mọi người biết tội ác của bọn vua chúa phản động, không những chúng đã cõng rắn cắn gà nhà, mà chúng còn cố tâm kìm hãm, đày đọa nhân dân Việt Nam trong một đời sống tối tăm đầy áp bức”.

    “Trong “Lịch sử Việt Nam” tập 1, chương 8 (chương về Tây Sơn và triều Nguyễn) do Uỷ ban Khoa học Xã hội đã biên soạn và ấn hành năm 1971, các tác giả đã lên án triều Nguyễn như sau:“Triều Nguyễn là vương triều phong kiến cuối cùng dựng lên bằng một cuộc chiến tranh phản cách mạng nhờ thế lực xâm lược của người nước ngoài. Gia Long lên làm vua lập ra triều Nguyễn sau khi đàn áp cuộc chiến tranh cách mạng của nông dân … Triều Nguyễn là vương triều tối phản động …Bản chất cực kỳ phản động của chế độ nhà Nguyễn bộc lộ rõ ngay từ đầu qua những hành động khủng bố, trả thù vô cùng đê hèn của Nguyễn Ánh đối với các lãnh tụ nông dân và những người thuộc phái Tây Sơn kể cả phụ nữ và trẻ em …“Chính quyền nhà Nguyễn hoàn toàn đối lập với nhân dân và dân tộc. Nó chỉ đại diện cho quyền lợi của những thế lực phong kiến phản động, tàn tạ, nó không có cơ sở xã hội nào khác ngoài giai cấp địa chủ. Vì vậy, các vua nhà Nguyễn từ Gia Long (1802-1819) đến Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1847-1883) đều rất sợ nhân dân và lo lắng đề phòng các hành động lật đổ. Chính vì khiếp nhược trước phong trào nhân dân mà nhà Nguyễn không dám đóng đô ở Thăng Long, phải dời vào Huế”. Sau hai tiểu mục “Nhà Nguyễn khôi phục chế độ phong kiến phản động” và“Chế độ quân chủ chuyên chế cực kỳ phản động” mang nội dung đại khái như vừa trích dẫn, các tác giả của chương sách này tiếp tục phê phán vương triều Nguyễn về những lĩnh vực khác với các tiêu đề lớn nhỏ, như “Tăng cường bộ máy đàn áp”, “Bộ máy quan lại hủ lậu mục nát”, “Chế độ áp bức bóc lột nặng nề”, “Chính sách kinh tế lạc hậu và phản động”, “Chính sách đối ngoại mù quáng”, v.v… (5). Chưa hết, trong tập II của bộ Lịch sử Việt Nam xuất bản vào năm 1985, các tác giả thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội còn trở lại “đánh” triều Nguyễn bằng những từ ngữ sau đây: “triều đình nhà Nguyễn thối nát và hèn mạt”(tr. 11), “Vương triều Nguyễn tàn ác và ngu xuẩn” (tr. 15),“cực kỳ ngu xuẩn” (tr. 17),“tên chúa phong kiến bán nước số 1 là Nguyễn Ánh…Nguyễn Ánh cầu cứu các thế lực ngoại bang giúp hắn thỏa mãn sự phục thù giai cấp” (tr.29), v.v… ”

    Trong bài Triều Nguyễn trong tôi (HOAK30) của HOAK30 có đoạn như sau:

    Tự thuở nhỏ tôi đã được sách sử trong nhà trường dạy rằng Nguyễn Ánh là một vị vua hèn nhát, bán nước, đem voi về dày mã tổ, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh cô giáo hào hứng nói về sự xấu xa của Nguyễn Ánh khi cầu cứu quân Xiêm để rồi thua trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút oai hùng của Vua Quang Trung, tôi đã được đọc về vương triều Nguyễn hèn nhát nhu nhược… Tôi đã tin y như vậy, tin hoàn toàn theo những gì mà thầy cô đã dạy tôi.

    Tôi không có ý định bênh vực nhà Nguyễn, vì lịch sử là không bênh vực hay thiên vị ai, tôi chỉ muốn có một cái nhìn thẳng thắn hơn, và vì sao lại giáo dục cho con cháu về cha ông của mình một cách tệ hại như vậy? (HOAK30)

  3. Phùng Tường Vân says:

    “Ông (Vũ Ngọc Phan) là con rể Sở Cuồng Lê Dư/ cháu rể Phan Khôi”
    (Nguyễn Lê Hiếu)

    Vẫn là một chuyện bên lề nhưng liên quan và đối với những ai quan tâm và lưu ý không khỏi lấy làm kỳ quái, ấy là trong Hồi Ký “Những Năm Tháng Ấy” Vũ Ngọc Phan ghi lại phả hệ của mình rất kỹ lưỡng, mối tình của ông ta với bà Hằng Phương cũng được thuật lại với nhiều tình tiết, nhưng về ông bố vợ khá danh tiếng đối với học giới đương thời ấy thì chỉ được ông ta nói là một “ông Phán ở Sở Bác Cổ”, tên học giả Lê Dư tuyệt nhiên không hề một lần được nhắc đến. Người rành chuyện thì cho là chẳng qua là có cái bóng Phan Khôi đấy thôi !

  4. Nguyễn Lê Hiếu says:

    @Phùng Tường Vân
    Xin nhận lỗi đánh máy sai tên tác giả bộ Nhà Văn Hiện Đại. Về cuốn dịch in năm 1981 do Văn Học Hà nội xb, tựa cuốn sách được chuyển ngữ theo kiểu chuyển âm: Trixtăng và Ysơ. Ông là con rể Sở Cuồng Lê Dư/cháu rể Phan Khôi.

    @ Hoàng Trường Sa: 1- Bởi vì cựu hoàng Bảo Đại là ông Vua của một nước, ông Hồ dù muốn dù không cũng BẮT BUỘC phải gọi cựu hoàng như thế. Ngay chính bố đẻ của ông Hồ, là cụ Nguyễn Sinh Sắc, cũng phải quỳ trước cựu hoàng và thưa thốt với cựu hoàng là ngài (hay muôn tâu Bệ Hạ), vì thân làm quan trong triều của Vua Bảo Đại, thì phải vậy thôi.

    Năm 1932, khi về nước, Bảo Đại đã có nhiều cải cách ngoạn mục mà một việc là bãi bỏ nghi thức quỳ lậy khi ra mắt vua.

    2- Nhưng, điều oái oăm là, trước mặt cựu hoàng thì ông Hồ xưng “ngài” đàng hoàng, còn sau lưng thì cho các tay chân bộ hạ chửi rủa không những chỉ cựu hoàng Bảo Đại không thôi, mà còn cả tiền nhân tổ tiên của cựu hoàng, và cả triều đại nhà Nguyễn, bằng những lời vô cùng xấu xa, độc ác và dối trá.

    Kinh nghiệm cá nhân là Cựu hoàng thành Cố vấn nên các năm 1945-1950 không thấy việc bôi bẩn chửi rủa nhà vua. Cho đến 1950-51 thì đưa ra tòa án quân sự xử về tội trạng bỏ nhiệm sở theo xâm lăng; mang lại án tử hình. (NMTường là luật sư biện hộ cho bị cáo vắng mặt) Trái lại, vào các năm 1955-56, trước sau cuộc trưng cầu dân ý giửa TT Ngô Đình Diệm và QT Bảo Đại thì mới có chiến dịch chửi ruả Cựu hoàng “vô cùng xấu xa, độc ác và dối trá”.

  5. Hoàng Trường Sa says:

    Sau đây là bài viết của nhạc sĩ TÔ HẢI mà, theo ngu ý, đã đóng góp thêm vài sự kiện để chúng ta tham khảo thêm khi tìm cách tiếp cận với SỰ THẬT của lịch sử VN về chính phủ Trần Trọng Kim và cái gọi là “cách mạng tháng tám” :

    Có gì “Lạ” trong ngày kỷ niệm 19/8 năm nay? (Tô Hải)

  6. Thanh Nguyễn says:

    Tôi nghĩ, ông Nguyễn Lê Hiếu so sánh ông Nguyễn Mạnh Tường và ông Nguyễn Thanh Giang là “đồng điệu” là “khí không phải”.

    Cộng sản đầy đọa trí thức Nguyễn Mạnh Tường, cộng sản vùi dập trí thức Nguyễn Thanh Giang, vậy họ là những người cùng cảnh ngộ bị bạc đãi và hoàn toàn không đồng điệu một chút nào.

    Cuộc đời ông Tường, học hành giỏi, đỗ đạt cao, theo cộng sản và cuối cùng “đóng góp” cho dân tộc bằng một tác phẩm (quan trọng) “tự minh oan” (bằng tiếng Pháp). Kết thúc đáng tiếc, nếu không nói là uổng phí một trí thức học giả.

    Chế độ cộng sản xem ông Tường “coi như pha”. Vì vậy, có thể những gì mà ông Tường nói trong Un Excommunité là những lời trần tình của một trí thức tự kiêu ngạo, của một kẻ tự yếm thế trước thời cuộc. Un Excommunité là kết quả những gì ông trí thức Nguyễn Mạnh Tường đã làm được cho riêng cuộc đời ông.

    Cuộc đời ông Giang, học hành đỗ đạt không bằng ông Tường. Nhưng ông Giang là một tiếng nói phản biện buộc thể chế độc tài phải “dòm ngó”.

    Rất hy vọng ông Giang khi cuối đời không phải tự minh oan bằng một tác phẩm nào hết. Chính những suy tư, trăn trở, những phản biện thẳng thắn của ông Nguyễn Thanh Giang sẽ là một kết quả đẹp cho bản thân ông, và đồng hành, đồng điệu với nhiều trí thức yêu nước khác.

  7. Nguyễn Đăng Thường says:

    MỘT XÃ HỘI KO BAO GIỜ BÌNH ĐẲNG?

    sao ko?
    có thể vì nó có quá nhiều cách xưng hô
    phản ánh một trạng thái mãi mãi xô bồ

    ở phương tây chẳng hạn
    chỉ có 1, 2 hai từ
    để thể hiện ngôi thứ nhứt

    je/moi – pháp
    i/me – anh mỹ
    yo/mí – tây ban nha

    mà đặc biệt là
    chúng không hề tỏ bày
    một cung cách

    ở ta
    các ngôi thứ khác thì xin cho miễn kể ra
    vì hoành tráng đậm đà bản sắc quá

    một xã hội bình đẳng 100% là không tưởng
    xã hội VN mà được ngang bằng nhau 10%
    là đã quá lý tưởng

    cách mạng vô sản ở ta
    ôi khôi hài ôi trớ trêu thay
    đã giải phóng đã phục sinh từ “Ngài”

    tao/ông bị dị ứng buồn nôn ngay
    cho nên
    tôi/tớ

    đã kịch liệt tấn công “nó”
    trong bài “thơ nở ngày số 1”
    cho nó “bỏ mẹ”

    khổ nỗi nó đ. bỏ mẹ
    mà mình thì lại bị
    “chết cha”

  8. Hoàng Trường Sa says:

    Người Việt mình có câu “chín người, mười ý” tôi nghĩ rất hay. Trước cùng một sự việc, mỗi người nhìn một cách khác nhau là một chuyện bình thường thôi. Bởi vì, ai cũng thế, ai cũng nhìn đời qua kinh nghiệm bản thân và qua cơ sở nhận thức riêng. Do đó, ít có khi mà mọi người đều đồng ý về cách nhìn của một sự kiện, nhất là sự kiện lịch sử trên đất nước đầy nước mắt, máu xương, phân ly và bất hạnh VN của chúng ta.

    Về cái chữ “ngài” mà ông Hồ Chí Minh đã sử dụng cho hai nhân vật Nguyễn Mạnh Tường và cựu hoàng Bảo Đại, như được ghi nhận qua một số tài liệu, kể cả tài liệu của chính ông Nguyễn Mạnh Tường tự kể lại, thì cá nhân tôi nhận định rằng hai chữ “ngài” này hoàn toàn khác nhau. Chữ “ngài” mà ông Hồ sử dụng cho cựu hoàng Bảo Đại là chữ THẬT. Bởi vì cựu hoàng Bảo Đại là ông Vua của một nước, ông Hồ dù muốn dù không cũng BẮT BUỘC phải gọi cựu hoàng như thế. Ngay chính bố đẻ của ông Hồ, là cụ Nguyễn Sinh Sắc, cũng phải quỳ trước cựu hoàng và thưa thốt với cựu hoàng là ngài (hay muôn tâu Bệ Hạ), vì thân làm quan trong triều của Vua Bảo Đại, thì phải vậy thôi. Huống chi là ông con của cụ Sắc, là ông HCM. Nhưng, điều oái oăm là, trước mặt cựu hoàng thì ông Hồ xưng “ngài” đàng hoàng, còn sau lưng thì cho các tay chân bộ hạ chửi rủa không những chỉ cựu hoàng Bảo Đại không thôi, mà còn cả tiền nhân tổ tiên của cựu hoàng, và cả triều đại nhà Nguyễn, bằng những lời vô cùng xấu xa, độc ác và dối trá. Cá nhân tôi từ thuở nhỏ cũng đã nghe tận tai, đọc tận mắt rất nhiều lời xúc phạm vua Bảo Đại và các vua Tự Đức, Khải Định, Đồng Khánh v.v… từ miệng cũng như từ tài liệu của ĐCSVN. Đây là một điều tôi lấy làm bất nhẩn, vì ông Hồ và ĐCSVN đã dùng đủ mọi thủ đoạn tàn nhẩn để hạ nhục và làm mất uy tín của Vua Bảo Đại và triều Nguyễn, để giành thế chính thống cho phía “cách mạng” sau khi đã CƯỚP được chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, là chính phủ do chính Cựu Hoàng bổ nhiệm. Tôi tin, rồi đây lịch sử VN sẽ sòng phẳng trả lại cho Cựu Hoàng Bảo Đại cũng như chính phủ Trần Trọng Kim những sự thực (TỐT cũng như XẤU) của họ, thay vì chỉ toàn những điều bôi trọ trát trấu, bất công, độc ác mà ĐCSVN đã đổ lên đầu họ ra rả trong suốt hơn 60 năm qua.

    Riêng đối với chữ “ngài” mà ông Hồ đã dùng (hình như duy nhất, ngoài ông Bảo Đại) cho ông Nguyễn Mạnh Tường, thì, trái với tác giả Nguyễn Lê Hiếu, tôi cho rằng đây là GIẢ DỐI, không phát xuất từ sự kính trọng của ông Hồ đối với ông NMT, mà chẳng qua chỉ là một thủ đoạn đãi bôi nhất thời, dùng để lôi kéo ông NMT về giúp cho “cách mạng” trong khi phe “cách mạng” còn thiếu những người có nhiều khả năng về ngôn ngữ và chuyên môn như ông NMT. Điều này, bây giờ nhìn lại, qua những gì ông NMT phải chịu đựng trong đời ông dưới chế độ CS từ năm 1958 đến ngày gần qua đời, thì thấy rất rõ là ông Hồ chẳng hề kính trọng hay thương tiếc gì ông NMT cả, khi ông ta và ĐCSVN đã để cho ông NMT sống đói rách, cơ hàn, tủi nhục. Cho rằng chữ “ngài” mà ông Hồ sử dụng cho ông NMT là do kính trọng, thì đối với tôi, là thiếu khách quan, không phù hợp với những sự kiện đã xảy ra. Liệu ông NMT có vì chữ “ngài” này mà ra sức hãn mã, tận tâm tận lực phò trợ phe “cách mạng” của ông Hồ hay chăng? Điều này, có thể đúng hay sai. Nhưng có một điều, theo tôi, là hoàn toàn chắc chắn. Đó là chữ “ngài” này của ông Hồ dùng cho ông NMT, ít nhất cũng đã có ảnh hưởng tới quyết định cộng tác với “cách mạng” của ông NMT. Bởi vì, chính ông NMT đã cho hậu sinh biết rõ là ông đã “impressed” khi ông Hồ gọi ông là NGÀI. Tại sao ? Xin thưa là, biết bao năm đắng cay, tủi nhục, thân tàn ma dại, mà đến cuối đời ông NMT vẫn không quên được là đã có lần lúc mới biết nhau, qua cái “thuở ban đầu lưu luyến ấy”, “kụ” Hồ vĩ đại đã từng gọi ông là NGÀI, như ông trân trọng ghi chép trong cuốn Un excommunié của mình.

  9. Phùng Tường Vân says:

    Đốt Lò Hương Cũ

    Nhân nhị vị bàn về chữ Ngài, nhất là ông Nguyễn (Lê Hiếu) vừa cho học được một tràng “Ngài” thật phong phú, nhiều cố sự, tôi xin góp một chuyện, nếu nghiêm khắc thì chắc nhiều vị cho là chẳng liên quan gì đến chính đề, thôi cũng cứ xin kể lại một mẫu xưng hô giữa những tên tuổi mà ngày nay đều đã về những “cõi suối làng mây” nào cả rồi và cũng vì có ý ấy nên xin được để nó dưới cái tiêu đề “Đốt Lò Hương Cũ” vậy.

    Trong ấn bản thứ nhất của Bộ Việt Nam Sử Lược (in thành hai quyển) tác giả, Lệ Thần Trần Trọng Kim có lời đề tặng ở đầu sách như thế này :

    Kính gửi Quan Tổng Đốc Thân Trọng Huề,

    Có nhiều khi được ngồi tiếp chuyện quan lớn thường được nghe những lời nghị luận về lịch sử nước nhà, tôi cũng nhân đó mà học được nhiều điều rất bổ ích, nay nhân bộ Việt Nam Sử Lược đã hoàn thành xin kính tặng Ngài để Ngài thưởng giám cho.
    Lệ Thần Trần Trọng Kim

    Nhân đây cũng xin được thưa, hẳn là có một chút sơ ý của ông Nguyễn về tên dịch giả Bộ truyện “Tiễu Nhiên Mỵ Cơ” (Tristan et Yseult), đó là nhà văn Vũ Ngọc Phan ạ.

  10. Nguyễn Lê Hiếu says:

    Kính thưa Anh Trần Văn Tích:
    Tôi không chuyên về ngôn ngữ, thấy có ngươi dùng một chữ “ngài” để kết tội hám danh nên viết càn bậy vậy thôi. Nhưng quả thực thì chữ Ngài khá thông dụng trong văn chương nước ta. Như trong hai bức thư của Hoàng Trọng Phu và Phan Đình Phùng, tôi nhớ mang máng có tiếng Ngài hay Cố nhân để gọi nhau. Vũ Trọng Phan khi dịch Tristan và Yseult năm 1932 rồi dịch lại năm 1981 cũng dùng tiếng Ngài để dịch từ Pháp Seigneurs; lại giải thích thêm rằng khi người du ca (troubadour hay trouvère) hát trong các lâu đài thì có các quý tộc cấp bậc khác nhau gọi chung họ một cách lịch sự là Seigneurs, nên dịch là các ngài (Thưa các “ngài”, có một truyện sống thác với tình…) Bà Tú thấy chồng làm thơ cũng hể hả “Rằng hay thì thực là hay” rồi “xưa nay em vẫn phục ‘ngài’.”
    Sang thời mới, vào thời khoảng Nam phong, Tự lực tiếng “ngài” cũng khá thông dụng. Trong Đội mũ lệch, Cả Lĩnh bị cướp đến nhà, hắn vẫn ôn tồn nói với cướp: Thưa các “ngài”, đêm hôm rét buốt mà các “ngài” cũng chiếu cố đến… . hay là khi luật sư cũa cô Loan trong Đoạn Tuyệt cãi cho cổ trong vụ nhỡ tay giết chồng là Thân thì trạng sư có nói: “Đó, các “ngài” coi, ….” Và “Các ngài tha cho Thị Loan, tức là tha cho một người đã bị tội oan…”
    Tôi không biết HCM gọi cụ Tố như thế nào các vị này không kể lại. Nhưng vụ các cụ Tố, cụ Quỳnh, cụ Khoan gọi nhau bằng ngài thì tôi có nghe trong gia đình kể; và cách đây mấy năm, thăm anh bs Nguyễn văn Hoàng là con cụ Khoan, hiện ở Montréal, chúng tôi cũng nhắc lại chuyện đó. Có thể buổi đầu là “ngài” hay “tiên sinh” nhưng sau quen rồi thì gọi là “Cụ” chăng; ấy là võ đoán! Còn ông Hoàng Xuân Hãn thì kể rằng được gọi là “ông” như Ô. Phùng đã nói. Nhưng hoàn cảnh gặp nhau hơi khác: Cụ Hoàng nói chuyện với Cựu hoàng-Cố vấn rồi Cố vấn dàn xếp cho cụ Hoàng vào gặp họ Hồ; đàng kia, Nguyễn Hữu Đang mang xe đến mời NMT vào gặp HCM để họ Hồ chính thức mời NMT soạn căn bản pháp lý cho hội nghị trừ bị Đà lạt. Đồng thời cũng có học trò cũ của cụ Hoàng làm sứ giả mời cụ Hoàng cùng tham dự hội nghị đó. Còn đối với Bảo-Đại thì vì thân tình, nhà vua gọi cụ Hoàng bằng tên và cụ gọi nhà vua bằng “Ngài”.
    Về Vua Bảo-Đại, tôi nhớ mang máng rằng nhà vua viết HCM gọi vua là Sire và tutoyer với người khác, tôi không nghĩ là HCM nói tiếng Pháp với cựu hoàng; do đó, tôi “đoán” rằng đó là cựu hoàng dịch chữ ngài/sir. (Hiện tôi không có cuốn Dragon d’Annam trong nhà nên không kiểm chứng được).
    Ngày 14-6-1949, khi Quốc trưởng Bảo-Đại tuyên bố “Je garde provisoirement le titre d’Empereur afin d’avoir une position international légale” rồi ra chỉ thị mọi người gọi mình là “Đức” Quốc trưởng (tháng 7-1949) thì tiếng ngài cũng rất thông dụng. Hồi đó, tôi nhớ Thủ hiến Bắc Việt cũng được gọi là “ngài” thủ hiến.
    Đời sau không quen với chữ ngài nữa cũng có nguyên do. Ngày 5-10-1956, có thông tư/thông cáo cấm dùng tiếng “Cụ” trước tiếng/chức vụ Tổng thống và “không được dùng tiếng “Ngài” như “Ngài” Tỉnh trưởng”. Từ đó, dưới thể chế Cộng hòa, đệ nhất cũng như đệ nhị, tiếng ngài ít dùng hay có khi còn là để diễu. “Vâng, nhà em xin chiều “ngài”..hay “Thế là nhất “ngài’ đấy nhé ” thì những tiếng ngài này hơi diêu diễu một chút mà cũng biểu lộ chút tình thân mật.
    Kính,

  11. Phùng Tường Vân says:

    Về sự xưng hô mà ông Ông Trần Văn Tích nêu ra, tôi có một chút tài liệu liên quan đến một mẩu đối thoại nhỏ giữa Hồ Chí Minh và Hoàng Xuân Hãn xin ghi lại sau đây :

    “…Tôi đứng dậy xin về mấy lần, chủ tịch vẫn giữ lại. Cuối cùng, cụ lại hỏi thẳng một cách cụ thể rằng :”Tôi có hai chuyện muốn hỏi ông. Ông cứ trả lời thật…”
    (“Một vài ký vãng về Hội nghị Đà Lạt”, Hoàng Xuân Hãn)
    Câu chuyện tiếp nối với sự xưng hô như vậy. Xin ghi chú thêm, Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, Nguyễn Mạnh Tường sinh năm 1909.

  12. Trần Văn Tích says:

    Kính thưa anh Nguyễn Lê Hiếu,
    Già rồi nên đâm ra lẩm cẩm. Khi ngồi trước computer để gửi phản hồi cho bài viết của anh, đã tự nhủ là sẽ có hai vấn đề góp ý nhưng rồi lại quên mất vấn đề thứ hai. Anh cho rằng ông Nguyễn Mạnh Tường không làm chính trị. Theo tiểu sử trên Wikipedia thì ông Tường từng là thành viên các cơ cấu sau đây : 1)Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; 2) Hội Hữu nghị Việt-Pháp; 3) Hội Hữu nghị Việt-Xô; 4) Ủy ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới. Ngoài ra ông Tường còn là sáng lập viên Câu lạc bộ Đoàn kết. Như vậy có thể khẳng định là ông Tường không tham gia hoạt động chính trị hay chăng? Đặc biệt là với tư cách thành viên Ủy ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới.
    Kính,
    Trần Văn Tích

  13. Trần Văn Tích says:

    Kính thưa anh Nguyễn Lê Hiếu,
    Thử điểm danh các trí thức, chuyên gia cộng tác với ông Hồ vào những tháng năm đầu thành lập nền dân chủ cộng hoà thấy không phải chỉ có một mình ông Nguyễn Mạnh Tường mà còn có : Hoàng Xuân Hãn, Trần Đại Nghĩa, Ngụy Như Kontum, Lương Định Của, Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Tường Tam và nhiều người nữa. Nếu “Ngài” nguyên là một từ được sử dụng phổ biến dành cho người có địa vị cao trong xã hội tư sản thì ông Hồ có dùng chữ “Ngài” để xưng hô với đa số nếu không là tất cả những nhân vật này hay không? Ngoài ra, ông Hồ xưng hô thế nào với vua Bảo Đại? Tôi nhớ đại khái dường như ông Hồ cũng có lần tiếp xúc với ông Ngô Đình Diệm. Chẳng rõ cung cách xưng hô giữa hai vị tiền bối này ra sao?
    Nếu anh biết xin chia sẻ với bà con. Xin cám ơn anh.
    Trân trọng và quí mến,
    Trần Văn Tích

  14. Phùng Tường Vân says:

    “…tôi nhắc lại chữ Ngài mà Hồ Chí Minh “dâng” cho ông Nguyễn Mạnh Tường là để so sánh cách xưng hô Bác Bác, Tôi Tôi của ông ta với Đức Trần Hưng Đạo (trong một bài thơ). Nhận ra điều gì từ việc so sánh này là tùy nhận thức cuả độc giả. (Nam Phan)

    Tôi nhớ có một ông độc giả bặm trợn, phát biểu như thế này :

    “Nhưng câu nói đáng để đời…nguyền rủa nhất là của vị ‘cha già dân tộc’ hồ chí minh , chỉ mặt Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cào bằng cho có vẻ dân chơi :”Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng. Bác đưa một nước qua nô lệ, tôi dẫn năm châu đến đại đồng ”… Chắc nhiều thế kỷ nữa mới có một thằng cha dám… mất dạy như ông này. Cái này mới quan trọng nên phải lưu giữ cẩn thận kẻo tam sao thất bổn có tội với lịch sử>”
    (LeNguyenHuyTran)

  15. Nam Phan says:

    Thưa ông Nguyễn Lê Hiếu, tôi nhắc lại chữ Ngài mà Hồ Chí Minh “dâng” cho ông Nguyễn Mạnh Tường là để so sánh cách xưng hô Bác Bác, Tôi Tôi của ông ta với Đức Trần Hưng Đạo (trong một bài thơ). Nhận ra điều gì từ việc so sánh này là tùy nhận thức cuả độc giả.

    Ở đây không có vấn đề tuổi tác (thời gian) hay nơi “phát xuất”, mặc dù tôi có đủ “tiêu chuẩn” cho cả hai, theo đòi hỏi cuả ông.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả