trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 97 bài
  1 - 20 / 97 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcLý luận phê bình văn học
29.11.2004
Trần Ngọc Vương
Nhận thức lại về nhu cầu và khả năng phát triển tri thức lý luận trên các bình diện khác nhau của đời sống văn học ở Việt Nam ngày nay
(Tham luận đọc tại Hội nghị về Lí luận phê bình của Viện Văn Học, Hà Nội, 25.11.2004)
 
Nhưng cơ may ấy không tự đến chỉ vì người ta sốt ruột, biết tự ái. Trước những tình huống nhiều thách thức, bậc trí giả “không cười, không khóc, mà suy nghĩ”. Người khác, nơi khác người ta cũng đang nghĩ, và nghĩ lao lung, ít nhất thì cũng chẳng kém gì ta. Nghĩ một cách sáng suốt, thành thực, đừng loay hoay biện hộ hay lập luận quanh co, mới có thể tìm nhanh được những đáp án đúng, mới đi dần tới được đáp án ưu việt. Cái khó thường bó cái khôn mà cái khó cũng làm ló cái khôn. Mà chỉ người sáng suốt mới nhìn ra được thế, mới không bị hãm vào tình huống “gia bần trí đoản”, không “giật gấu vá vai” trong những thao tác trí tuệ.



I. Những thách thức


1. Nhìn gần

Bộ môn lý luận văn học với tư cách là một phân môn trong khoa học ngữ văn ở nước ta vốn được du nhập vào đời sống văn chương qua ngả đường Ðại học, khi công việc nghiên cứu, phê bình văn học đã đi được môt thôi đường khá dài. Cùng với việc hệ thống đại học được phục hồi và mở rộng ở miền Bắc sau 1954, sự xuất hiện của các khoa Văn hoặc khoa Ngữ văn trong các Ðại học Sư phạm hay Ðại học Tổng hợp, bộ môn lý luận văn học được thành lập như một quy chế đương nhiên để khẳng định tính đại học, tính hàn lâm bắt buộc phải có. Nhưng chắc là tôi không nhầm, khi khẳng định rằng khác với tình hình trong nghiên cứu văn học sử hay phê bình văn học, trước khi có sự hiện diện của phân môn này ở các Ðại học, chưa tồn tại những tên tuổi người Việt có thẩm quyền đích thực và được thừa nhận bởi chính người Việt trên quỹ đạo này. Thậm chí, cũng chưa từng xuất hiện trên báo chí việc giáo dục mang tính thường thức gây chú ý và tạo thói quen cho độc giả về một lĩnh vực mà đối với quán tính của tư duy người Việt là quá khó và cũng quá mới mẻ. (Ðừng ai căn vặn rằng đối với một thiểu số cực hạn của giới tinh hoa thì việc biết tới, tiếp thu và vận dụng một số những thành tựu và phương pháp nào đó của lý luận văn học đã từng là thực tế từ trước cả năm 1945!).

Thực tế ấy, tự nó, nói với chúng ta nhiều điều, cả hiển ngôn lẫn hàm ngôn. Trong hệ thống tri thức lý luận nói chung và lý luận văn học nói riêng mà học đường miền Bắc tiếp thụ và truyền bá sau năm 1954, sự du nhập của các giáo trình Ðại học có nguồn gốc trước hết từ Liên Xô, phần nào là từ các nước XHCN Ðông Âu (cũng đã được Liên Xô hóa), là điều gần như đương nhiên và vì thế cũng đã trở nên là đường hướng chủ đạo trong một khoảng thời gian dài. Phải nói ngay rằng tuy có “nguồn gốc Liên Xô” nhưng những gì về lý luận văn học đã du nhập từ Liên Xô về Việt Nam ấy không phải là toàn bộ những thành tựu lý luận ở Liên Xô, hay dù hẹp hơn, ở nước Nga vốn có, mà chỉ là một bộ phận đã được lựa chọn, đúng hơn, được thanh lọc, một lần qua hệ thống Ðại học vốn mang tính chính thống rất cao ở bản quốc, rồi một lần nữa, qua sở kiến sở tri của những người được chọn hay có may mắn được thừa nhận là có thẩm quyền tiếp thu và truyền bá lý luận - từ phía Việt Nam. Sản phẩm chủ yếu và rốt cuộc, như bất cứ ai cũng dễ dàng quan sát thấy, là một số bộ sách, chưa lấy gì làm dày dặn, nửa là những thu hoạch nửa là phỏng dịch, được định danh là giáo trình lý luận văn học - từng là “thiên kinh địa nghĩa” cho nhiều thế hệ sinh viên văn khoa, trong số đó dĩ nhiên có cả người viết những dòng này. Ðáng ngạc nhiên, đáng giật mình: hóa ra vốn liếng nằm lòng cho cả một nền văn học trong một thời khá dài về lý luận văn học chỉ là bấy nhiêu đó. (Cũng sẽ có ai đó không hài lòng với bản tổng kết chỏng lỏn này. Người ta sẽ chất vấn rằng, thế bỏ đi đâu những văn kiện quan trọng, những phát ngôn mang tính phương pháp luận chỉ đạo của nhiều nhà lãnh đạo Ðảng và Nhà nước về văn học nghệ thuật? Xin được tự biện hộ vắn tắt rằng đối với người viết, lý luận văn học được hiểu theo nghĩa khá chật hẹp và khá xác định!).

Theo quan sát cá nhân, tôi không thấy những bộ sách lý luận tương tự ở miền Nam trước tháng Tư 1975. Ðiều đó hẳn có nhiều lý do, mà một trong những lý do chủ yếu là vì theo hệ thống đào tạo ở các nước phương Tây mà các Ðại học miền Nam trước đây chịu ảnh hưởng, thì rất ít nơi có bộ môn lý luận văn học độc lập. Bù lại, hay cũng có thể nói đó là cách làm khác, những trường phái, chủ thuyết văn học cụ thể đã được quan tâm giới thiệu nhiều hơn, mang tính cập nhật cao hơn. Những ai đã được đào tạo trong các đại học văn khoa ở miền Nam trước năm 1975 vì thế có kiến thức tương đối cụ thể, chi tiết và original hơn về các lý thuyết văn học cận hiện đại của phương Tây so với sinh viên miền Bắc. It nhất, thì họ có thể đã từng hào hứng theo dõi những lý thuyết như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại… với những công trình của các lý thuyết gia cụ thể, bằng nguyên ngữ hay bằng các bản dịch / tổng thuật Việt ngữ, thay vì chỉ nghe giới thiêu (qua loa) và phê phán (một cách vô điều kiện nhưng sáo rỗng) đối với chúng. Nhưng dù sao - và điều này thì lại phải giải thích bằng cách viện đến một thuộc tính liên quan đến não trạng, hay như bây giờ người ta thích thú nói vậy hơn, là bản sắc dân tộc, đó là việc nói chung, người Việt không “sính”, không “chuộng”, không “ưa” nên hệ quả là không giỏi trên bình diện tư duy lý thuyết - thì cái “phông” lý luận văn học ở ta, xét trong hiệu quả cuối cùng và trên phạm vi toàn quốc, còn khá đơn bạc, như điều thường quan sát thấy ở nhiều những lĩnh vực lý thuyết thuộc các khoa học xã hội - nhân văn khác.

Sự yên trí đến mức chắc mẩm về tư duy lý thuyết và về những xác tín lý luận cụ thể được duy trì đến giữa những năm tám mươi của thế kỷ XX thì bắt gặp giông gió. Hơn cả giông gió, đó là cuồng phong của những cải cách ở Trung Quốc, cải tổ ở Liên Xô và Ðông Âu, dồn dập các sự kiện và biến cố “bất đắc như ý” dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống XHCN trên quy mô thế giới. Muốn tồn tại và phát triển, ta cũng phải “đổi mới tư duy”. Sự phủ sóng toàn quốc của lý luận văn học theo hệ thống đã có ở miền Bắc kéo dài mới khoảng mười năm thì do nhu cầu “của cuộc sống” (đúng nghĩa đen!) đã thành vấn đề cần xem xét lại. Một khi trong kinh tế chính trị học các giảng viên có chút suy nghĩ riêng không còn thao thao một chiều về lý luận kinh tế XHCN với đặc điểm ưu việt quan trọng nhất là “quản lý tập trung, có kế hoạch” nữa, trong khung khổ các giáo trình triết học của chương trình lý luận cao cấp phần khó dạy nhất là phần “chủ nghĩa xã hội khoa học”, thì trong lý luận văn học, như một hiệu ứng kéo theo, phần lý luận về phương pháp sáng tác, đặc biệt là phương pháp sáng tác hiện thực XHCN - và rồi cả phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa nói chung - cũng, nói đơn giản theo dân gian, là sẽ được lặng lẽ “lờ” đi, còn nói theo lối vật lý học là “dao động tắt dần”. Tôi hoàn toàn không nói theo lối hoạt kê: đó sẽ là một trong những điều mà giới lý luận phải đối diện nghiêm túc, nếu còn muốn được coi là có tư cách khoa học!

Nhưng cũng chẳng phải đợi tới khi sóng gió của những biến động chính trị vĩ mô nổi lên thì lý luận văn học ở ta mới lộ ra tình trạng thiểu năng. Từ đầu những năm sáu mươi của thế kỷ trước, không thấy ai không thừa nhận nhận xét về thực trạng bạc nhược của phê bình, rộng hơn, của lý luận - phê bình ở ta, rằng nó nhu mỳ quá, đoan trang một cách vô vị quá, rằng cần phải “ra roi” nhiều hơn. Nhưng lại cần thừa nhận, và tiếp theo, cần giải thích, tại sao sau nhận định và lời kêu gọi chí phải ấy, tình hình “vẫn thế”. Trên thực tế, có rất ít những nhà lý luận hay phê bình khiến cho người sáng tác “chịu chuyện”, chưa nói đến đòi hỏi cao hơn nhưng lại tự nhiên hơn, là khiến họ “tâm phục khẩu phục”. Không quá đáng ngạc nhiên nếu nhiều người vẫn nhắc đến giai thoại về lời “di chúc” khẩu thiệt của Nguyễn Tuân, đề nghị làm theo cung cách García Lorca, chỉ có điều thế vào chỗ cây đàn ghi-ta là nhà phê bình (không biết số ít hay số nhiều?)! Nhan nhản trên mặt báo và tạp chí một thời là những bài viết “nhất trí cao”, quy kết và giải thích “vạn tượng” bằng mô hình, bằng công thức “thế giới quan, vốn sống và phương pháp sáng tác”. Nếu thừa nhận sự khái quát rằng từng tồn tại một thời lối phê bình “quyền uy” thì thiết nghĩ cũng nên nói thêm rằng cả lối phê bình ấy, cả người em sinh đôi nhưng đẳng cấp hạng lông của nó là phê bình xu phụ chỉ có một tác dụng là làm cho giới sáng tác thêm ngao ngán, mà cung cách hành xử quay lưng lại trong trường hợp ấy đáng để coi là một cử chỉ lịch sự, một trời cả nể.

Không thấy, không thừa nhận tình trạng dửng dưng của những tác giả sáng tác có chân tài đối với đa số ý kiến của giới phê bình thì sẽ không thể nhận thức về khuyết tật của cái điểm tựa lý luận mà giới phê bình ấy dựa vào. Tính thiểu năng của việc vận dụng những tri thức lý luận “kiểu mới” còn được bộc lộ ở chỗ tác động chính yếu, phạm vi vận dụng của nó chỉ được bó hẹp trong khuôn khổ của văn học hiện đại, tức về cơ bản trong khuôn khổ văn học dân tộc thế kỷ XX. Một ước lệ, mà ngẫm cho kỹ thì hoàn toàn đáng để bất bình vì không chỉ đã tồn tại, mà tồn tại dai dẳng, tồn tại cho đến giờ, và chưa có ý gì ngừng cái “vận mệnh lịch sử” của nó lại, ra đời trong bối cảnh ấy: nghiên cứu văn học “truyền thống” và nghiên cứu văn học hiện đại cơ hồ không có quan hệ gì với nhau! Các thửa đất phần trăm của nghiên cứu, và rồi không chỉ của nghiên cứu, mà cả thưởng thức, cả giảng dạy truyền thụ trên các cấp học, đã được tự phát quy hoạch như thế.


2. Nhìn xa

Lý luận bao giờ cũng là sự khái quát hóa và tổng kết thực tế. Ðiều không cần nghi ngờ là hoạt động nghiên cứu khoa học ở ta vốn xuất hiện muộn, và nhìn chung, ở phương Ðông vào thời cận hiện đại loại công việc này được khai triển như là một sự mở rộng và vận dụng những thành tựu và thủ pháp của truyền thống khoa học cận hiện đại phương Tây. Trong công việc nghiên cứu văn học nói chung, việc “làm lý luận” nói riêng, tình hình không khác thế.

Nhưng lịch sử châu Âu không phải là toàn bộ lịch sử loài người, lịch sử văn học châu Âu không phải là toàn bộ, thậm chí không hội đủ lý do để tự coi và để được coi là bộ phận “then chốt” của toàn bộ lịch sử văn học thế giới. Cho đến nay, trong số tám nền văn minh được coi là tối cổ, sâu gốc bền rễ nhất của nhân loại, thì ít nhất có đến ba phần tư là “Âu châu chi ngoại”, trong số đó, chỉ hai nền văn minh được thừa nhận là tồn tại liên tục từ khởi thủy đến nay - Ấn Ðộ và Trung Quốc - thì đều không thuộc châu Âu. Lý lẽ tự nhiên: một lý luận văn học nếu muốn được coi là mang tính phổ quát, lý luận ấy phải khái quát hóa, tổng kết cho được thành quả của ít nhất các nền văn học lớn, ở mọi thời đai, mọi dân tộc. Dù thứ lý luận hiện thời ta đang vận dụng là lý luận châu Âu, cả lý luận chính trị - xã hội lẫn lý luận trong các lĩnh vực chuyên biệt, thì cần ít nhất phải tỉnh táo mà nhận định rằng các hệ thống lý luận đó là chưa hoàn hảo, chưa thể coi là phổ quát đến cùng cực, đến mức là không thể xê dịch, bổ sung, điều chỉnh.

Tuy nhiên trong thực tế, điều tưởng như “biết rồi khổ lắm nói mãi” ấy lại chỉ được nhắc tới như một giáo điều mà không phải như một châm ngôn hành động, một nguyên tắc mang tính chỉ đạo trong công việc hiện thực. Có một nỗi lo ngại âm thầm nhưng khổng lồ, tiền lý luận nhưng sắt đá làm nảy sinh các loại phản ứng mang tính tự vệ bản năng trước những gì, trước những “kẻ” “nhăm nhe” đổi mới. Lại tiếp tục diễn ra một tình trạng nghịch dị: trong khi hăm hở làm người lĩnh ấn tiên phong, đi và đứng ở tuyến đầu của cách mạng thế giới, không hiếm người lại kiễng gót nghển cổ chờ sự đổi mới lý luận từ đâu đó “trên trời rơi xuống”, hoặc ít nhất, lại từ người láng giềng khổng lồ, mà không phải là “chế lấy để dùng”. Lý luận ăn đong thì chờ gì thực tế tiên tiến?

Truyền thống văn học châu Âu là vĩ đại, truyền thống lý luận văn học châu Âu nói riêng, truyền thống lý luận mỹ học châu Âu nói chung là vĩ đại. Nhưng cả những sự vĩ đại ấy, cả tầm cỡ hoàn toàn xứng đáng là bậc thầy ấy vẫn không che lấp hay chối bỏ được một thực tế: thật hiếm hoi khi phải tìm ở khu vực địa lý này những nền văn học có lịch sử nghìn năm, chứ chưa nói vài nghìn năm liên tục. Sự non yểu của nhiều học thuyết, nhiều chủ nghĩa, nhiều trường phái trong văn học và nghệ thuật phương Tây vài thế kỷ gần đây nhất tuy không hề là bằng chứng thể hiện sự yếu kém của sức sáng tạo (cũng là sức sống) nhưng đủ để củng cố ở người quan sát tỉnh táo một niềm tin: có thể sáng tạo và lý luận hóa sự sáng tạo theo cách riêng, theo cách khác. Thực tế văn học sử của phương Ðông, mà văn học sử nước nhà là một bộ phận cấu thành, cho phép người nghiên cứu, người làm lý luận ở Việt Nam nghĩ đến những khái quát hóa khác, - từng có nhưng bị xem nhẹ, hay sẽ tân tạo-, ít nhất có giá trị bổ sung cho những gì đã từng, đang là bài bản. Thật đúng chỗ để nhắc lại ở đây một nhận định chí lý và cực sâu sắc nhưng vô cùng đáng tiếc là đã bị coi nhẹ hay bị bỏ qua: vào giữa thế kỷ trước, khi cách xử sự “dĩ Âu vi trung” đang là “xu hướng thời đại không thể đảo ngược” trong học thuật, bản thân lại cũng là một người châu Âu, viện sĩ N. I. Konrad đã nhìn xa trông rộng, sòng phẳng vượt qua vô vàn thiên kiến và ước lệ lễ nghi để nhận xét thẳng thắn rằng các nhà nghiên cứu Trung Quốc cận hiện đại trong khi viết lịch sử văn học nước mình,- là quốc gia có truyền thống văn học lâu đời nhất, liên tục nhất và giàu có vào bậc nhất thế giới - lại đã phạm một lỗi lầm “vong bản”, là học theo một cách máy móc lý luận và kinh nghiệm văn học sử châu Âu. Tốt nhất là tôi chuyển ngữ chính lời của Nicôlai Iôxiphôvíc: “Ở điểm này cần thiết có một lời rào đón trước. Bắt đầu từ những năm hai mươi của thế kỷ này ở Trung Quốc người ta hiểu văn học như ở phương Tây vẫn hiểu; ở đấy bắt đầu xuất hiện những công trình về lịch sử văn học trong đó các nhà khoa học Trung Quốc trình bày vấn đề lịch sử nền văn học nước mình cũng y hệt như các nhà viết sử của bất kỳ nền văn học nào ở phương Tây hiện nay thường làm. Nói cách khác, ở Trung Quốc đã vài thập kỷ nay tồn tại một khoa học nghiên cứu văn học giống như khoa nghiên cứu văn học của phương Tây, cũng thủ đắc cả những sở trường lẫn sở đoản được quan sát thấy trong khoa nghiên cứu văn học của các nước phương Tây.
Sự việc diễn ra theo cách khác với cách hiểu thế nào là văn học trong xứ Trung Quốc cổ xưa. Chính chỗ này đây đòi hỏi một sự làm sáng tỏ vấn đề. Hơn nữa cách hiểu này lại được gắn liền với lịch sử văn học ở Trung Quốc suốt trong hai thiên niên kỷ rưỡi”. Rõ ràng, theo N.I. Konrad thì các học giả Trung Quốc, bằng cung cách ấy, đã “viết hỏng” lịch sử văn học Tổ quốc mình. Vậy thì “Ngành Trung Quốc học xôviết nhất thiết phải biên soạn cho được thông sử văn học Trung Quốc”! [1]

Nhưng, dường như tôi đã trở thành một gã mơ mộng không tưởng khi nêu lên, dù chỉ qua chuyện “nhà người hàng xóm”, một đòi hỏi quá cao, ngoài tầm với, ngoài vóc dáng thực tế của đội ngũ các “ngự sử văn đàn” ở ta? Bởi lẽ, chỉ nội cái công việc đọc hiểu, rồi sau đó phiên dịch cho đạt những công trình lý luận cơ bản đã có thuộc nhiều (dĩ nhiên còn xa mới là mọi) lý luận, trường phái, chủ thuyết đã và đang có (cần nhấn mạnh: từ mọi phương trời, mọi thời đại), trong đó ưu tiên việc đọc hiểu, thuật chính xác và dịch cho đúng những công trình của các tác giả mà đối với nền học thuật quốc tế đã trở nên quá nổi tiếng, quá cơ bản, không ít tác phẩm trong đó đã kịp biến thành cổ điển, chỉ nội cái công việc ấy thôi cũng đã đòi hỏi biết bao là tri thức, sự kiên nhẫn, biết bao là trách nhiệm, và cũng biết bao là tiền của. Chưa làm công việc ấy, thêm vào đó, chưa nắm vững văn học sử của các nền văn học lớn và hữu quan, chứ đừng nói là không am tường bất cứ nền văn học sử nào, mà đã “khái quát, tổng kết”, nhất là đã “phán bảo, răn dạy”, thì thật thậm ngỗ ngược.



II. Trung tâm và biên của sự đổi mới lý luận văn học

Xét trên bình diện định nghĩa, văn học là một loại hình nghệ thuật cụ thể mà chất liệu nền của nó là ngôn từ. Xuất phát từ chính định nghĩa này thì công việc nghiên cứu văn học chính là nghiên cứu bộ phận ngôn từ mang tính nghệ thuật. Lý luận văn học trong ý nghĩa đó trở nên là bộ phận vừa của /về nghệ thuật, lại vừa của/ về ngôn ngữ. Nhưng có một thực tế không như ý đã diễn ra suốt trên dưới nửa thế kỷ vừa qua ở Việt Nam, kể từ ngày ngôn ngữ học trở thành một ngành khoa học độc lập và được ưu tiên vào bậc nhất vì những lý do khác nhau để nhanh chóng phát triển, đó là nghiên cứu ngôn ngữ học không đồng thời là tiên đề, điều kiện và không trở thành miền giao thoa hữu cơ với nghiên cứu văn học. Một thực tế là trong giới ngôn ngữ học, có rất ít các nhà ngữ văn, và các thành tựu nghiên cứu ngữ văn của họ không gây ấn tượng thật đặc biệt. Có người nói - và tôi không có điều kiện kiểm chứng nên đành bán tín bán nghi - rằng trong các khoa học xã hội và nhân văn thì ngành ngôn ngữ học là ngành có nhiều người có học hàm học vị nhất. Cũng có thể như vậy và nếu thế thì đáng mừng cho ngành học vốn và vẫn đang là anh em ruột với ngành văn học. Nhưng cũng cần có lời than thở với các nhà ngôn ngữ học rằng không hiểu vì lý do gì, mà giữa hai ngành song sinh này lại có quá ít những sự quan tâm đến nhau theo tinh thần “chị ngã em nâng” đến vậy? Dường như mối quan hệ giữa ngôn ngữ học, những thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ với nghiên cứu văn học, những thành tựu nghiên cứu văn học ở nhiều nước mà tôi có thể quan sát được, thì không hề nhạt nhẽo như thế. Chắc chắn là có lý do đầy đủ để ở hàng loạt nước từng và hiện vẫn đang tồn tại các khoa ngữ văn, và dễ dàng liệt ra hàng loạt tên tuổi lớn đồng thời là nhà ngôn ngữ học xuất sắc, vừa đồng thời là những đấng bậc khả kính của nghiên cứu văn học. Tiếc rằng ở ta tình hình lại không được vậy: Không khó khăn lắm để chỉ ra những bậc bề trên của giới ngôn ngữ học nhưng không đoái gì đến văn chương nên lâu ngày cũng khô kiệt mỹ cảm, và ngược lại, nhiều chứ không ít những nhà nghiên cứu văn học tài danh nhưng lại tù mù rất mực về ngôn ngữ học.

Giữa những trường phái, trào lưu, chủ nghĩa trong nghiên cứu phê bình văn học phương Tây từ đầu thế kỷ XX có sự hiện diện nổi bật của những trường phái, trào lưu lấy căn cứ địa và điểm xuất phát từ ngôn ngữ học. Chỉ cần nhắc tên cũng đã thấy: phê bình tường giải, phê bình cấu trúc, phê bình ký hiệu học… Xuất phát điểm ngôn ngữ học có trong cả “phê bình mới”, trong mỹ học tiếp nhận, cả trong các lý thuyết, chủ nghĩa đậm tính tư tưởng như hiện tượng học, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại… Nhà nghiên cứu văn học ở phương Tây không thể không biết và không vận dụng những thành tựu ngôn ngữ học, không thể không viện đến tên tuổi của những F. de Saussure, Wittgenstein, Chomsky, Trubetskoi, M. Foucault…, những nhà triết học trong ngôn ngữ học hay những nhà ngôn ngữ học xuất chúng. Ðể đọc được lý luận văn học phương Tây không thể thiếu việc trang bị những tri thức ngôn ngữ học cơ bản tối thiểu. Ở trường chúng tôi, kể từ ngày khoa Ngôn ngữ “ra riêng”, liên minh khoa học ngữ văn cơ hồ không tồn tại. Tôi sẽ rất vui mừng nếu đó là một nhận định sai lầm!

Phát triển lý luận văn học theo hướng nghiên cứu liên ngành ngữ văn chắc chắn đã, đang và sẽ là một hướng đi hãy còn nhiều hứa hẹn. Nhưng đó cũng chỉ mới là một hướng.

“Miền đất hứa” tiếp theo của sự phát triển lý luận văn học là nghiên cứu vùng giao thoa của văn chương với các loại hình nghệ thuật. Phải nhận rằng trên đường hướng này thì ở phương Tây cũng chưa thật nhiều kinh nghiệm và thành tựu. Có lẽ, nếu tôi không nhầm, thì chỉ mới có những công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và âm nhạc, văn học với sân khấu, văn học với điện ảnh là thu hoạch được một số kết quả hấp dẫn. Một trong những tên tuổi lớn hướng tìm tòi của mình theo quỹ đạo này và có thành tựu là Y.Lotman (1922-1993).

Do tính khả biến cao độ, thậm chí là tính vô định của phương thức tồn tại của ngôn ngữ, văn học thường xuyên hơn được nghiên cứu trong mối quan hệ với các sáng tạo bằng ngôn ngữ khác, chẳng hạn như triết học, sử học… Rộng hơn, nhưng ngày nay lại có xu hướng phục hồi lại cung cách ấy, đó là hướng nghiên cứu liên ngành văn học - văn hóa.

Nhưng tâm điểm của sự chú ý và tất yếu của sự đào sâu, nâng cao đối với lý luận văn học phải được ưu tiên để nhận diện những gì là đặc thù của bộ phận ngôn từ mang tính nghệ thuật. Chỉ có bộ phận ngôn từ mang tính nghệ thuật mới là văn chương, chứ không phải toàn bộ ngôn từ hay các ngôn ngữ nói chung. Và dĩ nhiên, vì thế, không phải mọi nghiên cứu thuộc ngôn ngữ học đều hữu dụng, đều thiết thực cho nghiên cứu văn học. Bỏ qua hay bất lực trong việc xác định những thuộc tính đặc thù này, mà chỉ đơn giản bàn về những nội dung, dù là nội dung chính trị, triết học hay tư tưởng văn hóa, dân tộc tôn giáo hay kinh tế pháp quyền… thì đều là những vòng chao liệng ở bên ngoài. Tất cả những nội dung ấy được chuyển tải và nhân lên qua nghệ thuật ngôn từ thế nào, theo cách nào, hiệu quả đến đâu, đó mới là câu hỏi quan yếu của nghiên cứu văn học.

Có thể khẳng định một cách tiên nghiệm rằng bất cứ ai một khi đã có việc với văn chương, từ người học văn, người đọc văn, người sáng tạo nên nó lẫn người nghiên cứu nó đều cần đến lý luận văn học. Nhưng trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện lý luận văn học đương nhiên trước hết thuộc về những người sống bằng nó, sống nhờ nó, nghĩa là trước hết thuộc về giới nghiên cứu văn học. Và để xảy ra tình trạng yếu kém trong mảnh đất thuộc phạm vi thâm canh của mình, các nhà nghiên cứu còn mong đổ tại ai được đây?

Hà Nội tháng 11/2004


Tác giả Trần Ngọc Vương hiện giảng dạy tại Đại học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Hà Nội.


© 2004 talawas



[1]Xem toàn văn: N. I. Konrad, Về khái niệm “văn” ở Trung Quốc, bản dịch của Trần Ngọc Vương, Tạp chí Văn học nước ngoài số 5/1997.