trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 497 bài
  1 - 20 / 497 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Điểm nóngChính trị thế giới
Loạt bài: Má»™t năm chiến tranh Iraq (tháng 3.2003- tháng 3.2004)
 1   2   3   4   5   6 
30.3.2004
Richard Rorty
Kẻ thù trong tầm ngắm
 

Chúng ta đều biết lời nhận định của Albert Einstein, rằng nếu một cuộc chiến tranh thế giới lần thứ ba nổ ra với mọi tiềm năng kĩ thuật hiện có thì chiến tranh thế giới lần thứ tư chắc sẽ là một cuộc chiến của gậy gộc và gạch đá như thuở nào. Cho đến nay, không biết bao nhiêu kịch bản của ngày tận thế đã vẽ nên cảnh nền văn minh của nhân loại rơi trở lại buổi hỗn mang sau một cú giao chiến bằng vũ khí nhiệt hạch. Các thư viện và bảo tàng sẽ bị xâu xé, làm chất đốt cho bếp lửa hoang. Chỉ sau một thế hệ là nhân loại lại tụt về giai đoạn săn bắn hái lượm, và thành quả 5000 năm qua của loài người chúng ta coi như bị xoá trắng.

Einstein e rằng một cuộc giao chiến bằng vũ khí nhiệt hạch sẽ xảy ra trong trường hợp Liên Hiệp Quốc không phát triển thành một chính phủ quốc tế thật sự, với một lực lượng cảnh sát đủ khả năng hành động. Chẳng một điều gì trong tất cả những điều chúng ta học được từ ấy đến nay khiến lập luận này suy giảm hiệu lực. Nhưng có một điều mà Einstein đã không hình dung nổi: rằng ngày nay, những vũ khí hạt nhân kích thuớc chỉ bằng một chiếc va li, sản xuất tại Pakistan hoặc Bắc Triều Tiên, có thể cho phép những cá nhân nào đó - chẳng hạn một gã playboy như Osama bin Laden - làm những điều mà trước kia chỉ các quốc gia mới đủ phương tiện tiến hành.

Vậy mà vẫn có một điểm ít nhiều an ủi, ở chỗ: có lẽ những kẻ khủng bố chỉ có thể vặn ngược cho kim đồng hồ thế giới lùi lại 200 năm chứ không phải 5000 năm. Bởi lẽ, đau thương và chết chóc không hề là tác động lớn nhất do những cỗ máy địa ngục và các vụ ám sát tàn nhẫn của chúng gây nên. Tác động lớn nhất lại xuất phát từ những chính sách của các chính phủ phương Tây nhằm ngăn chặn nạn khủng bố. Những chính sách này có thể đồng nghĩa với sự cáo chung của một số thể chế được hình thành từ sau các cuộc cách mạng tư sản tại châu Âu và Bắc Mĩ trong vòng hai thế kỉ vừa qua.

Nỗi e ngại khá phổ biến, rằng cuộc chiến chống khủng bố có lẽ còn nguy hiểm hơn chính bản thân nạn khủng bố, theo tôi là hoàn toàn có cơ sở. Bởi lẽ, nếu chỉ phải lo chống đỡ những hậu quả trực tiếp của khủng bố thì chúng ta chẳng có lí do gì phải sợ rằng các nền dân chủ phương Tây sẽ không thể sống sót vì những vụ nổ hạt nhân tại các đô thị lớn. Rút cuộc thì những thảm hoạ thiên tai với mức độ chết chóc và hủy diệt có thể sánh ngang với khủng bố cũng không hề đủ sức đe dọa các thể chế dân chủ. Nếu chẳng may mà các địa tầng ở bờ biển Thái Bình Dương bỗng xê dịch và kéo sập hàng loạt cao ốc thì chắc chắn là hàng trăm ngàn sinh mạng sẽ tiêu vong. Nhưng chôn cất nạn nhân xong, người ta sẽ lập tức bắt tay vào việc tái kiến thiết. Và quyền hành áp dụng cho những tình huống đặc biệt như vậy cũng sẽ chỉ giới hạn trong một thời gian nhất định.


Chính sách cứng rắn

Sẽ hoàn toàn khác nếu xảy ra một vụ khủng bố. Các chính khách từng làm mọi điều để ngăn chặn những đòn tấn công mới nay sẽ rơi vào sự cám dỗ phải vượt trội lẫn nhau trong việc bày tỏ một thái độ cứng rắn và thực thi những biện pháp kiên quyết hơn - những biện pháp thậm chí có thể dẫn đến sự kết liễu của thể chế nhà nước pháp quyền. Và lòng phẫn nộ trước nỗi đau vô danh, do hành động của con người chứ không phải do bạo lực của thiên nhiên gây nên, sẽ khiến công luận chấp thuận những biện pháp này.

Đương nhiên, kết quả sẽ không phải là một cuộc đảo chính phát-xít. Kết quả sẽ là tập hợp của vô số những biện pháp khởi đầu quá trình biến đổi các cơ sở xã hội và văn hoá của đời sống Phương Tây. Thẩm phán và toà án sẽ đánh mất quyền độc lập, giới chỉ huy quân sự địa phương bỗng được ban một uy quyền mà trước đây chỉ các đại biểu dân cử mới nắm giữ. Và các phương tiện truyền thông sẽ buộc phải bưng bít sự phản kháng đối với các nghị định của chính phủ.

Tuy nhiên thái độ sợ hãi trước những xu hướng phát triển như vậy lại phổ biến ở người Mĩ, ví dụ như tôi, hơn nhiều so với ở người châu Âu, bởi lẽ chỉ có chính phủ Hoa Kì mới quả quyết rằng chúng ta đang sống trong một tình trạng thời chiến kéo dài. Nhà chính luận Christopher Hitchens từng nhạo báng rằng những người cánh tả Hoa Kì xem ra còn sợ Bộ trưởng Tư pháp John Ashcroft hơn cả Osama bin Laden.

Quả thực tôi thuộc về chính loại người mà Hitchens nói tới. Ý nghĩ đầu tiên của tôi về ngày 11 tháng Chín 2001 là chính phủ Bush sẽ lợi dụng sự kiện này như Đảng Quốc Xã đã lợi dụng vụ đốt Nhà Quốc hội Đức [ [1] ]. Sự lo ngại này tuy đã tỏ ra là không hoàn toàn xác thực, song không phải không có căn cứ. Nhà Trắng ngay lập tức đã đòi được ủy thác những thẩm quyền đặc biệt và Hạ Nghị Viện đã chấp thuận nhiều thẩm quyền như vậy. Liệu những thẩm quyền ủy thác đặc biệt trong Patriot Act (Pháp lệnh Ái quốc) có phù hợp với Hiến pháp Mĩ hay không, đó là một nội dung còn được tranh luận nhiều ở Khoa Pháp lý của các trường đại học. Vào tháng Tư, thậm chí đề tài này sẽ là một nội dung tranh tụng trước Toà án Tối cao Hoa Kì. Hai trăm năm mươi địa phương và thành phố Hoa Kì đã thông qua các nghị quyết chống lại Patriot Act, và một số tác giả các nghị quyết này thậm chí đã chỉ thị cho lực lượng cảnh sát địa phương không được hợp tác với Chính phủ Liên bang khi thực hiện Pháp lệnh ấy. Đằng nào thì những người phê phán Patriot Act cũng coi đây chỉ là khởi đầu cho những quyền hành áp dụng trong tình huống khẩn cấp sẽ còn gia tăng rộng rãi hơn nữa vào thời điểm xuất hiện những đòn tấn công khủng bố mới với quy mô của ngày 11 tháng Chín.

Patriot Act là một Bộ luật hết sức phức tạp, dày đến 342 trang. Cũng giống như bộ luật tương đương ở Anh Quốc, Anti-Terrorism, Crime and Security Act (Pháp lệnh an ninh về chống khủng bố và tội phạm) pháp lệnh này đã được thông qua một cách chóng vánh ở các cơ quan lập pháp. Khó có thể cho rằng tất cả mọi thành viên của Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện khi biểu quyết thông qua pháp lệnh này có một hình dung rõ ràng về nội dung của nó. Quốc hội ở bất kì một quốc gia Phương Tây nào từng bị một cuộc tấn công quy mô lớn của al-Qaida hẳn cũng sẽ nhanh chóng thông qua những đạo luật tương tự.

Tuy thực sự coi John Ashcroft là một nhân vật đen tối, tôi vẫn không tin rằng chính phủ Bush chỉ gồm toàn những thành phần phát xít giấu mặt và thèm khát quyền lực. Tôi cũng không nhìn nhận chính phủ Anh quốc như vậy. Tuy nhiên tôi cho rằng sự cáo chung của thể chế nhà nước pháp quyền cả ở Hoa Kì lẫn châu Âu sẽ diễn ra một cách hầu như vô tình, hoàn toàn chỉ thông qua sự thay đổi của các định chế được thi hành nhân danh "cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa khủng bố".

Nếu xảy ra những vụ tấn công khủng bố tiếp theo vào các thủ đô châu Âu, giới quân sự và các cơ quan chịu trách nhiệm về an ninh quốc gia ở mọi nước thành viên của Liên minh châu Âu ngay lập tức sẽ được trao những thẩm quyền chưa từng thấy. Công luận sẽ coi điều này về đại thể là thoả đáng. Các chính phủ sẽ chứng minh tinh thần ái quốc triệt để của họ và sẽ ban hành những đạo luật có thể liên tưởng đến Luật cấm hành nghề của Đức [ [2] ]. Họ sẽ đi đến chỗ quy cho bất cứ sự phê phán công khai nào là hỗ trợ và bao che cho chủ nghĩa khủng bố. Và chẳng mấy chốc các Bộ trưởng Tư pháp châu Âu sẽ tuyên bố với những người phê phán họ như John Ashcroft trước đó. "Đối với những kẻ muốn đem bóng ma của nền tự do đã mất ra doạ người yêu hoà bình, tôi có thông điệp sau đây: Chiến thuật của các vị chỉ có lợi cho những kẻ khủng bố, gây phương hại đến nền an ninh quốc gia và làm giảm sút ý chí của chúng ta."

Dần dà những xu hướng phát triển như vậy sẽ làm tắc nghẽn các đường kênh mà thông qua đó công luận có thể tác động vào chính trị. Ở điểm cuối của quá trình mài mòn này, thể chể dân chủ sẽ được thay thế bởi một cái gì đó hoàn toàn khác, không phải là một nền độc tài quân sự, cũng không phải một thứ chủ nghĩa toàn trị theo mô hình của Orwell, mà là một chế độ chuyên chế trong khai sáng, do áp đặt của giai cấp thống trị.


Sự cáo chung của xã hội mở [ [3] ]

Cơ cấu quyền lực theo dạng này đã sống sót sau sự sụp đổ của Liên Xô, và ngày nay đang được Putin cùng các đồng nghiệp cũ của ông ở Cục tình báo Liên Xô củng cố. Tại Trung Quốc và Đông Nam Á, dường như nó đang dần lộ diện. Ở những quốc gia có chính quyền kiểu này, dù được khai sáng tới mức nào thì công luận cũng chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ tới những quyết định của chính phủ. Người ta vẫn tiếp tục tổ chức bầu cử, nhưng trong cái hình thái phong kiến này thì có bầu cử cũng vô nghĩa, như cuộc bầu cử Quốc hội Nga gần đây. Vì ngay cả các toà án và uỷ ban điều tra cũng bất lực, nên các nhà kinh doanh sẽ nghĩ tới chuyện trả tiền bảo kê cho cảnh sát hay những băng đảng được cảnh sát dung túng. Và người dân nào kêu ca về vấn đề tham nhũng hay lộng quyền là có thể gặp nguy hiểm.

Chưa hết. Nền văn hoá cao cấp sẽ trở nên vô nghĩa về mặt chính trị, như trước đây tại Liên Xô, và hiện nay vẫn tiếp tục tại Trung Quốc. Sẽ không còn những phương tiện truyền thông không bị kiểm duyệt, không còn những cuộc biểu tình phản kháng của sinh viên. Sẽ gần như không có một xã hội dân sự. Có nghĩa là chúng ta sẽ quay về Ancien Régime, chế độ cũ, với những kẻ chịu trách nhiệm cho an ninh quốc gia đồng thời là giới chấp chính trong hoàng cung.

Nếu như cái kịch bản ảm đạm này trở thành hiện thực ở phương Tây thì cuộc sống trên nhiều vùng trên trái đất cũng chẳng thay đổi là bao. Ở các nước nghèo, xã hội vẫn tiếp tục được tổ chức theo hình mẫu phong kiến. Tại Đông bắc Brasil, quanh dải xích đạo ở châu Phi, hay tại các làng mạc Trung Á, sẽ chẳng ai để ý rằng thế giới đã biến đổi và một nguồn sáng đã tắt lụi. Nhưng tại những quốc gia đã đạt được bước tiến đạo đức lớn nhất, tất cả sẽ đình trệ. Và vài thế hệ sau, một nhúm người mơ mộng sẽ đọc lại sách xưa và tiếc nuối những viễn tưởng của xã hội mở.

Có thể là tiên đoán này quá bi quan. Có thể là tôi, như nhiều người Mĩ giống tôi, đã bị Ashcroft làm mất tinh thần tới mức nhìn đâu cũng thấy ma quỷ. Tôi hy vọng vậy. Tuy nhiên tôi nhận thấy rằng những thể chế dân chủ ở nước tôi càng ngày càng trở nên mỏng manh. Mặc dù tôi không tin lắm vào cái luận đề của Chalmer Johnson rằng Hợp chủng quốc Hoa Kì đã bị đem bán cho chủ nghĩa quân phiệt, nhưng trong cuốn sách Sự tự sát của nền dân chủ Mĩ (nhà xuất bản Blessing), ông đã thu thập một loạt những bằng chứng rằng cái "tam giác sắt", gồm khu vực quốc phòng, Lầu Năm Góc và đại diện của quân đội trong Hạ Nghị Viện, đã thâu tóm nhiều quyền lực tới mức Tổng thống Mĩ cùng lắm chỉ có thể thương lượng với Lầu Năm Góc, chứ không thể ra lệnh được nữa. Tôi e rằng những phản ứng của nước Mĩ sau ngày 11 tháng 9 đã tạo nên các tiền lệ ảnh hưởng tới chính phủ của các nền dân chủ khác. Sau vụ đánh bom ở Madrid thì cái kịch bản Mĩ có thể lặp lại ở châu Âu. Mặc dù các cơ quan tình báo và quân sự ở châu Âu còn lâu mới mạnh như ở Mĩ, nhưng vẫn có thể thâu tóm những thẩm quyền mà trước kia họ không bao giờ đòi hỏi. Nhóm bạo quyền ở Washington sẽ hoan nghênh chuyện này.

Những lo ngại của tôi và của nhiều người khác là như vậy. Nếu thấy những lo ngại này là có lý, người ta sẽ phải tự hỏi rẳng người dân của những nền dân chủ phương Tây có thể làm gì để con cháu của họ không phải sống trong một chế độ tân phong kiến. Có thể làm nhiều việc. Thứ nhất, họ có thể thách thức cái chính sách bảo mật tới bệnh hoạn của chính phủ. Họ phải yêu cầu chính phủ công bố số lượng vũ khí huỷ diệt hàng loạt và cho biết sẽ làm gì nếu những quốc gia khác hay những nhóm tội phạm như al-Quaida đem vũ khí hạt nhân ra sử dụng.


Nguy cơ của một chế độ tân phong kiến

Nhưng không chỉ có vậy. Người dân còn có thể yêu cầu chính phủ phải có những biện pháp nhằm cải tạo công pháp quốc tế và tư pháp hình sự quốc tế. Nhiều chuyên gia luật đã có lí khi phê phán rằng công pháp quốc tế hiện thời chỉ thuần túy nhắm vào quyền hành động của các quốc gia, còn luật hình sự thì chỉ căn cứ vào những hành vi do công dân nước mình phạm phải trong nội bộ một quốc gia. Đổi mới luật quốc tế ngoài ra còn là dịp thuận lợi để tiến tới những hiệp ước đa phương và suy nghĩ thêm về một cải tổ cơ cấu của Liên Hiệp Quốc.

Tóm lại, nếu các chính phủ phương Tây buộc phải công khai hoá các kế hoạch hành động trong tình huống đặc biệt của mình thì những chính khách ưa chuyên quyền và mị dân sẽ khó lòng lợi dụng cái tình huống đặc biệt đó cho mục đích riêng của họ hơn. Công luận càng có điều kiện thảo luận sâu về những tình huống khủng hoảng có thể xảy ra thì nguy cơ của việc tình huống ấy dẫn đến sự thay đổi về thể chế cũng càng ít khả năng diễn ra. Như vậy, chẳng có lí do xứng đáng nào khiến chính phủ các nước Pháp, Anh, Mĩ và Israel phải giấu người dân những thông tin về việc có bao nhiêu đầu đạn hạt nhân hiện tồn tại, trong tương lai sẽ tăng thêm bao nhiêu, và trong những hoàn cảnh nào thì chúng sẽ được đem ra sử dụng. Cũng chẳng có lí do gì để giấu nhẹm sự thật về việc phát triển các vũ khí sinh hoá và không cho công luận Mĩ được biết, vì sao tiền đóng thuế của dân lại đem dùng để chế tạo "chất than thích hợp cho vũ khí". Và vì sao ngân sách và chi tiêu của Cục an ninh quốc gia Mĩ (U.S. National Security Agency) cũng như cơ quan tương đương với nó tại Anh quốc lại phải là những thông tin mật?

Và cũng đến lúc phải công khai những hiệp ước đã cho phép 700 cứ điểm quân sự Mĩ rải ra chốt khắp hành tinh này. Ngay ở thời còn Chiến Tranh Lạnh, những lí do để giấu công luận các thông tin ấy đã thiếu sức thuyết phục lắm rồi.

Tiến bộ mà nhân loại đạt được trong hai thế kỉ 19 và 20 trước hết là nhờ vai trò của công luận phê phán và ảnh hưởng của nó đối với chính trị. Song sáu mươi năm gần đây, một văn hoá chính trị mới, khá là đáng ngờ, đã nảy sinh từ những chính sách bảo mật của các chính phủ. Một tầng lớp lãnh đạo tại Mĩ và Cộng đồng chung châu Âu đã nhiễm cái tư tưởng, rằng họ chỉ có thể thực thi nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia bằng cách tuyệt đối không để công luận biết gì về hành động của họ. Sự kiện 11 tháng Chín càng củng cố tư tưởng ấy, và có lẽ những đòn khủng bố tiếp theo sẽ dẫn họ đến chỗ tin chắc rằng muốn cứu nền dân chủ thì trước hết phải xoá sổ nền dân chủ. Nếu bước ngoặt tồi tệ nhất ấy có thể xảy ra thì một ngày nào đó, đương nhiên các sử gia phải lí giải cho loài người rõ, vì sao thời hoàng kim ở phương Tây chỉ thọ được hai thế kỉ. Và những chương đáng buồn nhất trong sách của họ sẽ là những chương nói về việc: vì hèn nhát mà các công dân của những nền dân chủ đã góp phần dắt tay thảm hoạ đến như thế nào.


Richard Rorty (1931), một trong những triết gia Mĩ nổi tiếng nhất hiện nay, là giáo sư môn văn học tỉ giảo và triết học tại đại học Stanford, California. Bài này dựa trên một thuyết trình của ông tại Berliner Einstein Forum.

© 2004 talawas



[1]Vụ đốt Nhà Quốc Hội Đức ở Berlin diễn ra vào ngày 27 tháng Hai 1933. Ngay sau sự kiện này một Pháp lệnh khẩn cấp đã được ban hành với nội dung xoá bỏ các quyền chính trị cơ bản và nới rộng khả năng trấn áp các địch thủ chính trị. Tiếp theo đó Đảng Cộng sản Đức (KPD) bị cấm hoạt động. Chưa đầy một tháng sau (23 tháng Ba) với việc thông qua Đạo luật Ủy quyền (Ermächtigungsgesetz), Hiến pháp Weimar bị hủy bỏ và chế độ chuyên chính Quốc Xã chính thức được thiết lập.
[2]Luật cấm hành nghề của Đức: Theo § 70 trong Bộ luật hình sự Đức (StGB) nếu một người lợi dụng nghề nghiệp của mình để thực hiện hành vi phạm pháp thì có thể bị cấm tiếp tục hành nghề. Điều tác giả nói đến ở đây thực ra là nội dung của "Nghị định chống cực đoan" (Radikalenerlaß) do Thủ tướng Đức Willi Brandt ban hành vào ngày 28 tháng Hai 1972. Ra đời trong bầu không khí chính trị căng thẳng đối với những người cánh tả do hoạt động khủng bố của tổ chức "Binh đoàn Đỏ" (RAF), "Nghị định chống cực đoan" trước hết nhắm vào thành viên của Đảng Cộng sản Đức (DKP) và các nhóm thiên tả khác. Cho đến tháng Ba 1976 có khoảng 500 000 người xin vào làm việc ở các cơ quan công quyền đã bị kiểm tra hồ sơ ở Cục Bảo vệ Hiến pháp, trong đó có 428 người bị bác đơn. Quy định cấm hành nghề này ở Đức bị dư luận trong và ngoài nước lên án kịch liệt. Năm 1975 Toà án Hiến pháp Liên bang đã quyết định hủy bỏ một phần nội dung của Nghị định này.
[3]Khái niệm xã hội mở dựa trên nhận định rằng kiến thức của mọi người đều không toàn diện và không ai nắm được sự thật tuyệt đối. Xã hội mở có đặc điểm là: dựa trên luật pháp, chính phủ được bầu một cách dân chủ, một xã hội dân sự đa dạng và mạnh khoẻ, tôn trọng các thiểu số, và một nền kinh tế thị trường. Một xã hội đóng dành phần lớn năng lượng của mình cho việc giữ vững cấu trúc đang tồn tại, một xã hội mở lấy luật pháp và sự tôn trọng người khác làm điểm xuất phát.
Khái niệm xã hội mở được phổ biến rộng rãi bởi nhà tríêt học Karl Popper trong cuốn Open Societies and Its Enemies (1945).
Nguồn: Tạp chí Die ZEIT, 13/2004
http://zeus.zeit.de/text/2004/13/fundamentalismus