trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 257 bài
  1 - 20 / 257 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Văn họcVăn học nước ngoài
26.10.2004
Trần Hữu Thục
Françoise Sagan, tiểu yêu nữ khả ái
 1   2 
 
"C’était l’été 1954. On entendait pour la première fois la voix sèche et rapide d’un “charmant petit monstre "qui allait faire scandale. La deuxième motié du XXème siècle commençait. Elle serait l’image de cette adolescente déchirée entre le remords et le culte du plaisir."

(Trang bìa sau “Bonjour Tristesse”, Éditiones Pocket, 2002)


Vào lúc 19 giờ 35 phút ngày 24 tháng 9 tại bệnh viện Honfleur, miền Nam nước Pháp, Françoise Sagan - một hiện tượng văn chương độc đáo của Pháp - đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 69 tuổi, vì bị máu nghẹt ở phổi. Denis - đứa con trai duy nhất có với người chồng thứ hai Robert James Westhoff - và Marie-Therese Le Breton - quản gia, người đã từng nuôi nấng Sagan - ở bên bà vào những giây phút cuối cùng. “Sagan nói với tôi ‘Tôi không muốn chết’ và rồi bà ấy chết trong tay tôi, đôi mắt mở lớn...”, bà quản gia kể lại.

Không mấy ai ngạc nhiên về cái chết của Sagan vì sức khỏe của bà đã suy yếu nhiều trong những năm vừa qua. Nhưng đối với công chúng Pháp, cái chết đó vẫn tạo nên một cú “sốc”. Từ lâu, bà không chỉ là “vật tổ” (totem) của một thời đại, một thế hệ mà là một nhà văn Pháp đương thời nổi tiếng nhất thế giới. Hơn 30 triệu ấn bản các tác phẩm của bà đã được bán ra. Nhiều luận án về bà và tác phẩm đã được viết tại nhiều đại học trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ. Hầu hết trong số hơn 40 tác phẩm của bà (hay hoặc dở) đều được dịch ra tiếng Anh và nếu không nằm ở danh sách bestseller thì cũng được tiêu thụ nhanh chóng. Học sinh Nga học tiếng Pháp bằng các tác phẩm của bà. Một số câu lạc bộ ở Nhật lấy tên Sagan, vân vân.

Cứ lướt qua phản ứng của nhiều giới chức Pháp cũng như báo chí là ta có thể hình dung ảnh hưởng của bà đối với công chúng Pháp như thế nào. Tổng thống Pháp Jacques Chirac bày tỏ nỗi thương tiếc và xúc động ngay sau khi nghe tin bà chết qua một bản tuyên bố trong đó, ông cho rằng “Bà chết đi, nước Pháp đã mất đi một trong những tác giả độc đáo nhất và nhạy cảm nhất, một khuôn mặt sáng giá trong sinh hoạt văn chương của chúng ta. Với sự sắc sảo, trí tuệ và tinh tế, Françoise Sagan đã thăm dò những nguyên động lực và những đam mê của tâm hồn con người” (...) Bà đã góp phần vào sự tiến bộ của vị trí người phụ nữ trong xã hội chúng ta”.

Thủ tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin: “Françoise Sagan, đó là một nụ cười, sầu muộn, khó hiểu, xa cách nhưng mà vui”.

Bộ trưởng văn hóa Renaud Donnedieu de Vabres: “Chúng ta đã mất đi một nhân vật ngoại hạng, một nghệ sĩ đầy tài năng”.

Nghệ sĩ Pháp Laurent Terzieff: “Bà mất đi, mang theo màu sắc và sự hài hước của cả một kỷ nguyên”.

Nhiếp ảnh gia Jean-Marie Perier: “Bà là một Rolling Stone [1] trước khi thuật ngữ này được sáng tạo”

Báo chí Âu Châu thương tiếc bà qua nhiều hàng tít lớn lấy từ tựa đề những tác phẩm nổi tiếng nhất của Sagan, chẳng hạn tờ La Vanguardia ở Tây Ban Nha: “Bonsoir Françoise”; tờ Corriere della Sera ở Ý: “Françoise Sagan, adieu tristesse”.

Báo chí Pháp thì khỏi nói. Paris Match: “Sagan, une inoubliable légèreté”. Le Figaro: “Sagan: charmant petit monstre sacré”. L’Express, Le Figaro cũng như Le Monde cho đi cả một loạt bài vinh danh con người và sự nghiệp của Sagan. Dưới tựa đề “Tristesse”, tờ Liberation nói Sagan, mà những hình ảnh thời tuổi trẻ tràn đầy các trang đầu báo Pháp, không bao giờ làm cái gì nửa chừng. “Ðời bà y như một cơn gió xoáy... Rộng lượng, đầy cảm hứng, nhanh nhảu, nổi loạn, không thể phân loại, không thể bắt chước. Chúng ta yêu mến Sagan, ngay cả nếu chúng ta chưa hề đọc sách của bà hay không còn đọc sách của bà nữa. Sagan là một cái gì còn hơn cả chính Sagan, còn hơn là một hiện tượng viết văn: một nhà văn, một phụ nữ, một kỷ nguyên. Bà vội vã đi hết tốc lực xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm của mình, chẳng thèm quan tâm đến mình”.

Tờ báo bán chạy nhất Pháp Ouest-France, lưu ý rằng mặc dầu rất nổi tiếng bà chẳng đoạt được một giải thưởng văn chương quan trọng nào của Pháp, nhưng “Mỗi một tác phẩm xuất bản của bà đều lôi kéo sự chú ý của báo chí và dư luận, ngay cả đôi khi tác phẩm đó được xem như nông cạn, hời hợt. Bà hầu như đã thành công gây cảm hứng tạo ra tính từ “saganesque”. Saganesque là gì? Là “nhớ nhà và buồn cười, hết sức tầm phào và rất rõ ràng. [2]

Tờ Le Parisien với tựa đề “Adieu Sagan, bonjour tristesse”: “Cuộc đời của bà thực sự là một trường thiên tiểu thuyết, được đánh dấu bởi những vinh quang và giàu có, rồi bởi những khó khăn và suy sụp. Một huyền thoại đã ra đi. Bà là (Brigitte) Bardot [3] của văn chương”

*


Françoise Sagan! Bonjour tristesse! Buồn ơi, chào mi!

Cái tên, cái tựa đề không chỉ là tên và tựa đề mà – với tôi - là biểu trưng cho cả một thời kỳ.

Ðầu thập niên 1960, thế hệ chúng tôi – đặc biệt những người sống ở các thành phố lớn như Huế, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Ðà Lạt... - vừa bước ra khỏi thế giới tuổi thơ trong một khoảng thời gian hiếm hoi đất nước sống trong thanh bình. Người đệ nhị, kẻ đệ nhất [4] , người thì vừa bước chân lên ngưỡng cửa đại học, chúng tôi được chứng kiến và sống trọn với nhiều chuyển biến đã để lại ảnh hưởng sâu đậm đến nền văn học nghệ thuật miền Nam và rồi là Hải Ngoại nhiều thập niên sau này. Về văn, từ những Hồm bướm mơ tiên, Ðoạn tuyệt, Nửa chừng xuân... chúng tôi bước vào Bếp Lửa, Cũng đành, Chuyến tàu trên sông Hồng, Mái tóc bạch kim... Trong các lớp ban C cấp 3, thầy cô đã từng bước cho học sinh thuyết trình những tác phẩm mới thay vì chỉ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Tôi biết có giáo sư đã cho một học sinh đệ tam (lớp 9) thuyết trình “Cũng đành” của Dương Nghiễm Mậu. Về báo, từ Phổ Thông, Thời Nay, Văn Hóa Ngày Nay, chúng tôi bước vào Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi. Về tác giả, từ Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư..., chúng tôi hào hứng đến với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo. Về hội họa, chúng tôi tiếp cận với hội họa phương Tây qua một lớp họa sĩ trẻ tài năng và nhiệt tình qua “Hội hoạ sĩ trẻ” với những Ðinh Cường, Trịnh Cung, Nguyễn Trung, Tôn Thất Văn, Hồ Thành Ðức. Rồi nào là Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn và rất nhiều khuôn mặt mới toanh khác, thuộc đủ mọi ngành nghệ thuật.

Về văn học nước ngoài, tuy người Pháp đã ra đi, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh mẽ. Chúng tôi vẫn thích nói về Paris, về viện bảo tàng Louvre, về sông Seine, về khu Saint Germain des prés, về công viên Luxembourg – những nơi nào đó ở Paris mà chúng tôi chẳng hề đặt chân tới. Trước khi văn hóa Mỹ cùng với chiến tranh chế ngự không khí văn hóa và xã hội Việt Nam, chúng tôi đọc sách báo Pháp, nghe nhạc Pháp, xem phim Pháp, chuộng phong thái “parisienne”. Chúng tôi vẫn thường lui tới các phòng thông tin văn hóa Pháp để đọc sách, muợn sách và theo học các lớp Pháp ngữ. Từ Alphonse Daudet, Victor Hugo, Lamartine, chúng tôi “đụng” Sartre, Camus, Jacques Prévert... Mốt hồi đó, là sau yên chiếc xe đạp hay trên tay, lúc nào cũng có một cuốn “Livre de poche” gọn, nhỏ (mà chữ nghĩa và tên tuổi rất “nặng ký”), nếu không La condition humaine, Huis-clos, Le mur...thì cũng La nausée, Les mains sales, Le malentendu. Ấy, đọc Sartre, Camus, Malraux, xem phim Brigitte Bardot, và say sưa thưởng thức các giọng ca hàng đầu Pháp Sylvie Vartan, Johnny Hallyday, Françoise Hardy với những bài hát Pháp vừa mới sáng tác là “mốt” thời thượng của chúng tôi.

Ðó cũng là thời xuất hiện các quán cà phê văn nghệ, nơi chúng tôi đàn đúm ngày đêm để đấu láo, tán róc. Dáng dấp anh nào anh nấy đã có cái gì lất khất, lừng khừng, bụi bụi. Khuôn mặt lúc nào cũng ra vẻ bất cần đời. Có tay, đầu đội mũ bê rê lệch, miệng ngậm tẩu, khoác áo pardessus, trông có vẻ Tây, thầm hãnh diện với mấy ngón tay cháy vàng khói thuốc. Những “cuộc” cà phê thâu đêm suốt sáng đêm. Những “trận” rượu ngất ngưởng. Chữ nghĩa nghe mới toanh: hư vô, hiện sinh, mệt nhoài, nổi loạn, thái độ, dấn thân, phi lý...

Françoise Sagan – và Bonjour tristesse - xuất hiện trong không khí đó. Thời đó, sau khi người Pháp ra đi, trừ những gia đình giàu có cho con theo học các trường Tây, còn hầu hết chúng tôi đều học chương trình Việt. Pháp văn (cũng như Anh Văn) trở thành ngoại ngữ, trung bình chỉ có 4 giờ/tuần. Bởi thế, những tác phẩm “nặng ký” của Sartre, hay Camus, hay Malraux không phải là dễ đọc đối với chúng tôi. May nhờ sách dịch và các tạp chí văn chương giới thiệu, nên ít nhiều cũng nắm được nội dung để có thể lần mò đọc và hiểu. Khác với những tác phẩm kể trên, Bonjour tristesse ngắn, ấn bản “Livre de poche” chỉ có 173 trang, chữ khổ trung bình. Văn viết gọn ghẽ, dễ hiểu. Tư tưởng tuy mới, nhưng không có gì cao siêu, khó hiểu, chỉ cần trình độ Pháp văn trung bình là có thể đọc hết nguyên con trong một thời gian tương đối ngắn. Với Bonjour tristesse, một cánh cửa vốn đóng im ỉm bỗng nhiên mở toang trước mặt chúng tôi. Thế giới đột nhiên mênh mông hẳn ra. Cuộc sống bỗng nhiên trở thành lạ mặt. Thành phố, người thân, người yêu, bạn bè, trường học, gia đình... bỗng xuất hiện trong một dáng dấp hoàn toàn mới.

Nhà phê bình Ðặng Tiến – trước chúng tôi chừng nửa thế hệ - ghi nhận: năm 1954, “miền Nam Việt Nam trở thành một thực thể chính trị độc lập, thật sự mở cửa đón nhận ảnh hưởng văn hóa Phương Tây. Sách báo phương Tây du nhập ồ ạt: sách tiếng Anh (của Usis), tiếng Ðức (của viện Goethe) và nhất là sách tiếng Pháp nhập khẩu với giá rẻ nhờ có tài trợ (sách AC, Action Culturelle) cước phí rẻ, giá ân huệ, tràn ngập các hiệu sách Xuân Thu, Lê Phan và các nhà sách trên đường Lê Lợi. Tại Sài Gòn, 1954, người đọc tiếp nhận Bonjour tristesse cùng một lúc với Paris, mà giá rẻ hơn (tương đối với ngoại tệ). Và cùng một lúc với sách báo, quần chúng Việt Nam tiếp xúc với âm nhạc, điện ảnh Tây Phương. Bản thân tôi đã xem vở kịch Chateau en Suede (Lâu đài Thụy Ðiển), 1960, của Sagan tại Sài Gòn, cùng lúc với Paris, do Pháp Văn Ðồng Minh Hội (Alliance Francaise) tổ chức[5] .

Nguyễn Văn Lục, trong một bài viết công phu trên tạp chí Hợp Lưu [6] , liệt kê rất đầy đủ sách dịch trong vòng 20 năm ở miền Nam, 1955-1975, cho biết người đầu tiên giới thiệu Sagan là giáo sư Nguyễn Nam Châu, sau đó là Cô Liêu (Vũ Ðình Lưu) với bài “Sứ mệnh văn chương của Françoise Sagan” (Bách Khoa/1958) và Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung) với bài “Trường hợp Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết”. Về dịch thuật, Nguyễn Văn Lục ghi nhận có 4 tác phẩm của Sagan được dịch ra tiếng Việt, đó là: Bonjour tristesse (một do Nguyễn Vỹ và một do Lê Huy Oanh), Un certain sourire (do Nguyễn Minh Hoàng), Dans un mois, dans un an (do Bửu Ý) và Les merveilles nuages (do Ðinh Bá Kha). Bonjour tristesse được Nguyễn Vỹ dịch là “Buồn ơi, chào mi”, còn Lê Huy Oanh dịch là “Buồn ơi, xin chào”, nhưng không hiểu sao cụm từ “Buồn ơi chào mi” lại được nhắc nhở nhiều hơn, có lẽ vì nghe nó thuận tai chăng?

Trước khi đi xa hơn với cuộc đời và sự nghiệp của Sagan, ta hãy nói về Bonjour tristesse. Xin tóm tắt câu chuyện:

Cô gái tên là Cécile, 17 tuổi cùng cha, Raymond, trong độ 40 tuổi, góa vợ và bà Elsa, tình nhân của cha, đi nghỉ hè ở bờ biển Côte d’azur. Sau, cha cô mời thêm một người bạn cũ của mẹ cô là Anne cùng đến đó. Trên bãi biển, cô quen một sinh viên, cũng đi nghỉ hè, tên là Cyril, và cùng nhau đi chơi, đi bơi, đi khiêu vũ. Hai người hôn nhau, làm tình với nhau. Anne là một người đàn bà cỡ tuổi 40, chăm sóc cô như một người mẹ và khá nghiêm khắc. Bà ta tỏ ra không ưa Cyril và muốn Cécile bỏ anh ta và học để thi lại cái bằng tú tài mà cô hỏng năm rồi. Ðiều này khiến Cécile vô cùng bực bội và đâm ra ghét Anne. Ðã thế, sau một thời gian ngắn, cha cô yêu Anne, bỏ rơi Elsa và dự tính kết hôn cùng bà ta, khiến cô lại càng tức giận. Thế là cô cùng anh chàng tình nhân vừa quen sắp đặt một kế hoạch để ly gián hai người. Ðược sự đồng ý của Elsa (bà này cũng đang buồn vì bị tình phụ), hai người dàn một cảnh yêu đương và để cho cha cô trông thấy. Ông giận dữ, tức tối vì thấy thấy tình nhân của mình lại bị một tay trai trẻ bằng tuổi con mình chiếm đoạt, nên hối hận, quay về với Elsa. Anne bắt gặp hai người âu yếm, buồn tình bỏ đi, và bị tai nạn, chết. Mọi người hối hận, nhưng mọi sự đã rồi. Cha cô và cô trở về lại Paris, sống lại đời sống bình thường cũ. Nhưng cô gái trẻ bây giờ không còn vô tư như trước mà phát sinh ra một trạng thái tình cảm mới: nỗi buồn.

Tình tiết câu chuyện nghe đã lạ. Văn vẻ càng lạ hơn. Xin ghi lại vài đoạn trích từ Bonjour tristesse, nguyên bản Pháp ngữ [7] (có tạm dịch ở phần ghi chú). Tác phẩm mở đầu như sau:

“Sur le sentiment inconnu dont l’ennui, la douceur m’obsèdent, j’hésite à apposer le nom, le beau nom grave de tristesse. C’est un sentiment si complet, si égoiste que j’en ai presque honte alors que la tristesse m’a toujours paru honorable. (...) Aujourd’hui, quelque chose se replie sur moi comme une soie, énervante et douce, et me sépare des autres. Cet été-là, j’avais dix-sept ans et j’étais parfaitement heureuse. Les “autres” étaient mon père et Elsa, sa maitresse” [8] (tr. 1)

Nụ hôn đầu đời:

“Il me tenait serrée contre lui, soulevée, la tête sur son épaule. En ce moment-là, je l’aimais. Dans la lumière du matin, il était aussi doré, aussi gentil, aussi doux que moi, il me protégeait. Quand sa bouche chercha la mienne, je me mis à trembler de plaisir comme lui et notre baiser fut sans remords et sans honte, seulement une profonde recherche, entrecoupée de murmures.” [9] (tr. 34)

Chữ nghĩa không có gì cầu kỳ, câu kéo gọn gàng và rất “văn phạm”, dễ tiếp cận. Hơi văn thì nhẹ nhàng, nhưng nghe có gì mệt mỏi, chán chường, bất cần đời một cách đầy kiêu hãnh.

Ðoạn gay cấn nhất trong tác phẩm: cô gái Cécile 16 tuổi tự ý tìm đến người con trai 26 tuổi vừa quen. Cảnh làm tình được diễn tả ngắn gọn, cô đọng như sau:

“Il m’avait rattrapée par le bras et me retenait en riant. Je me retournai vers lui et le regardai; il devint pâle comme je devais l’être moi-même et lâcha mon poignet. Mais ce fut pour me reprendre aussitôt dans ses bras et m’entrainer. Je pensais confusément: cela devait arriver, cela devait arriver. Puis ce fut la ronde de l’amour: la peur qui donne la main au désir, la tendresse et la rage, et cette souffrance brutale que suivait, triomphant, le plaisir. J’eus la chance – et Cyril la douceur nécessaire – de le découvrir dès ce jour-là” [10] (tr. 114-115)

Hút thuốc lá, một phong thái rất Sagan. Ðây là đoạn tả Cécile trở về nhà sau giây phút “ghê gớm” đó:

“Je pris une cigarette sur la table, frottai une allumette sur la boite. Elle s’éteignit. J’en allumai une seconde avec précaution car il n’y avait pas de vent et seule, ma main tremblait. Elle s’éteignit aussitôt contre ma cigarette. Je grognai et en pris une troisième. Et alors, je ne sais pourquoi, cette allumette prit pour moi une importance vitale” [11] (tr. 117)

Nhưng rồi cuối cùng, cô gái từ giã người tình đầu, dửng dưng, tỉnh bơ y như một chuyện thường ngày, không có gì quan trọng cả:

“Cyril fit un pas vers moi et posa sa main sur mon bras. Je le regardai: je ne l’avais jamais aimé. Je l’avais trouvé bon et attirant; j’avais aimé le plaisir qu’il me donnait; mais je n’avais pas besoin de lui. J’allais partir, quitter cette maison, ce garcon et cet été.” [12] (tr. 176)

Ðơn giản và thẳng thắn và sòng phẳng đến thế thì thôi!

Cùng với Sáng Tạo, cùng với những Camus, Sartre, Françoise Sagan đã đem một luồng gió mới vào sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam Việt Nam kể từ thập niên 1960. Ðặc biệt, Sagan - trực tiếp hay gián tiếp - đã đưa đến sự có mặt của 5 nhà văn nữ thuộc loại độc đáo nhất thời đó là Nhã Ca, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng (tức Hoàng Ðông Phương) và Túy Hồng với một văn phong mới mẻ, nội dung táo bạo, chưa hề có trước đó. Vòng tay học trò chẳng hạn, mô tả mối tình giữa một cô giáo và đứa học trò, gây nên dư luận xôn xao một thời. Rồi là Lệ Hằng và đặc biệt Trần Thị Ngh., một hiện tượng văn chương độc đáo đầu thập niên 1970 [13] . Theo Nguyễn Văn Lục, thì các nhà văn nữ vào thập niên 60 như Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thụy Vũ “phảng phất không khí Sagan”. Ông đánh giá: “Cái cảm giác khi đọc các nhà văn này (trừ Nguyễn Thị Hoàng) là họ còn đi xa hơn các nhà văn nam giới và đi xa hơn cả Sagan trong những mô tả tính dục. Chẳng hạn Sagan tả những liên hệ tính dục một cách phơn phớt, không đào sâu, không đậm đặc, “không mặn”, không sống sượng như Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ” (...) Lối văn của Sagan cụt, hụt hẫng, hững hờ, không màu mè, diêm dúa. Mục đích của Sagan không phải là mô tả những scènes tình dục cho bằng muốn nhắn gửi: cuộc đời chẳng có gì quan trọng, ngay như chuyện làm tình... Luân lý cũng vậy vậy, đạo đức vậy vậy. Cuộc đời trong một ngày, một tháng, một năm, có gì là lạ. Thản nhiên, vô cảm[14] .

© 2004 talawas



[1]Rolling Stone là một tạp chí âm nhạc và kỹ nghệ âm nhạc được sáng lập vào năm 1967 tại San Francisco, Hoa Kỳ do Jann Wenner và nhà phê bình âm nhạc Ralph J. Gleason, có xu hướng ủng hộ phong trào hippy vào những năm thuộc hai thập niên 1960 và 1970.
[2]Nostalgique et drôle, faussement futile et très lucide
[3]Ngôi sao điện ảnh Pháp, thường được mệnh danh là “cô đào (thời) nguyên tử”
[4]Lớp 11 và 12
[5]Ðặng Tiến, “Françoise Sagan, Buồn ơi, vĩnh biệt” (Bài gửi riêng để “đọc chơi cuối tuần”)
[6]Nguyễn Văn Lục, “20 năm văn học dịch thuật miền Nam 1955-1975”, Hợp Lưu 79, tháng 10&11/2004
[7]“Bonjour tristesse”, Françoise Sagan, nxb “Le livre de poche”, Paris, 1981
[8]Trong thứ tình cảm vô danh, mà nỗi phiền muộn, sự dịu dàng ám ảnh tôi, tôi phân vân đặt tên, cái tên đẹp đẽ trĩu nặng nỗi buồn. Ðó là một tình cảm toàn vẹn đến nỗi, ích kỷ đến nỗi tôi gần như cảm thấy hổ thẹn vì nỗi buồn luôn luôn xuất hiện trong tôi với vẻ tôn quý (...) Hôm nay, có một đôi điều trở lại trong tôi y như thể một sợi tơ, uể oải và dịu dàng, ngăn cách tôi với những người khác. Mùa hè năm đó, tôi 17 tuổi và tôi hoàn toàn hạnh phúc. Những “người khác” (ở đây) chính là cha tôi và Elsa, tình nhân của người.
[9]Chàng ôm chặt lấy tôi, nâng tôi lên, đầu dựa vào vai chàng. Lúc đó, tôi yêu chàng. Trong thứ ánh sáng của buổi sáng, chàng cũng rực rỡ, cũng dễ thương, cũng dịu dàng như tôi, chàng bao bọc tôi. Khi môi chàng tìm môi tôi, tôi bắt đầu run rẩy vì khoái cảm y như chàng và chúng tôi hôn nhau mà không một chút hối hận, không một chút hổ thẹn mà chỉ là một kiếm tìm rướn sâu, ngắt quãng bởi những tiếng thì thầm.
[10]Chàng nắm lấy cánh tay tôi, vừa giữ tôi lại vừa cười. Tôi quay về phía chàng và nhìn chàng; mặt chàng tái đi như tôi và buông tay tôi ra. Nhưng rồi chàng lại vội vàng ôm lấy tôi và kéo tôi lại. Tôi mơ hồ cảm nhận: cái đó sắp tới rồi, cái đó sắp tới rồi. Sau đó là liên khúc tình yêu: nỗi sợ hãi tiếp sức cho cơn ham muốn, sự dịu dàng và cuồng nhiệt và rồi nỗi đau buốt nối tiếp với cơn hả hê khoái cảm. Ngày ấy, tôi sung sướng – còn Cyril hết sức dịu dàng – khám phá cơn khoái cảm đó.
[11]Tôi lấy điếu thuốc trên bàn, quẹt một que diêm trên hộp quẹt. Diêm tắt. Tôi cẩn thận đốt một que khác, không có gió thế mà bàn tay tôi run rẩy. Diêm tắt ngay khi chạm điếu thuốc. Tôi lầm bầm bực bội và lấy thêm một que nữa. Lúc này không hiểu tại sao, que diêm này lại mang sự quan trọng sống còn đối với tôi đến như vậy.
[12]Cyril bước về phía tôi và đặt tay trên vai tôi. Tôi nhìn chàng: tôi không hề yêu chàng. Tôi thấy chàng tốt và hấp dẫn; tôi mê cái khoái cảm mà chàng đã cho tôi; nhưng tôi không hề cần chàng. Tôi sắp ra đi, rời ngôi nhà này, rời người con trai này và rời mùa hè này.
[13]Các nhà văn nữ này, theo tôi biết, hiện vẫn còn sống. Nhã Ca, Trùng Dương, Túy Hồng hiện sống ở Hoa Kỳ; Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng và Trần Thị Ngh. ở Việt Nam; Lệ Hằng ở Úc.
[14]Nguyễn Văn Lục, bài đã dẫn, tr. 71. Tôi trích dẫn đánh giá này với mục đích thông tin, mà không phê phán.