|
Tư tưởngLịch sỠ9.3.2007
Hồ Bạch Thảo
Dã tâm cai trị bằng văn hoá và tư tưởng của nhà Minh
Song song với việc cai trị nước ta bằng biện pháp hành chánh và quân sự, nhà Minh thiết lập các tổ chức văn hoá, tôn giáo xuống tận châu huyện để ràng buộc lòng người. Trong chỉ dụ tuyên bố cai trị nước ta vào ngày 1 tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [1407] cho lập ty Tăng Đạo tại phủ Giao-Châu. Qua bước đầu trắc nghiệm thử thách, đến năm Vĩnh lạc thứ 14 ra lệnh thiết lập hàng loạt các ty Nho học, Tăng, Đạo, Âm Dương. Có thể tóm tắt các tổ chức này như sau:
- Nho học: Gồm 12 ty tại phủ, 19 ty tại châu, 62 ty tại các huyện
- Âm Dương học: 6 ty tại phủ, 14 ty tại châu, 26 ty tại huyện
- Phật học: 3 ty Tăng Cang tại phủ, 14 dẫn Tăng Chính tại châu, 56 ty Tăng Hội tại các huyện
- Đạo học: 6 Đạo Kỷ tại phủ, 15 Đạo Chính tại châu, 37 Đạo Hội tại các huyện.
Sau đây là chỉ dụ ghi rõ địa phương được thiết lập những tổ chức nêu trên:
Ngày 15 tháng 5 Năm Vĩnh Lạc thứ 14 [10/6/1416]
Thiết lập các ty Nho học, cùng Âm Dương, Y Học, Tăng Cang, Đạo Kỷ tại các phủ, châu, huyện thuộc Giao-Chỉ:
- Lập 12 ty Nho học tại các phủ: Giao-Châu, Bắc-Giang , Kiến-Bình, Lạng-Giang, Phụng-Hoá, Kiến-Xương, Trấn-Man, Tân-An, Thuận-Hoá, Tam-Giang, Thái-Nguyên, Tuyên-Hoá.
Lập 19 ty Nho học tại các châu: Qui-Hoá, Ninh-Hoá,Tam-Đái, Từ-Liêm, Phúc-An, Vũ-Ninh, Bắc-Giang, Trường-Yên, Lạng-Giang, Hồng, Khoái, Thanh-Hoá, Ái, Đông-Triều, Hạ-Hồng, Nam-Sách, Thao-Giang, Đà-Giang, Tuyên-Giang.
Lập 62 ty Nho học tại các huyện: Từ-Liêm, Thạch-Thất, Bình-Lục, An-Lạc, Lập-Thạch, Phù-Ninh, Thanh-Đàm, Phù-Lưu, Gia-Lâm, Siêu-Loại, Từ-Sơn, Đông-Ngạn, Thiện-Thệ, Tế-Giang, Thiện Tài, Đại-Loan, Vọng-Doanh, Thanh-Viễn, Phượng-Sơn, Bình-Hà, Bảo-Lộc, An-Ninh, Cổ-Lũng, Đường-An, Tây-Chân, Giao-Thủy, Chân-Lợi, Bố, Kiến-Xương, Phù-Dung, Đông-Kết, Vĩnh-Cô, Thái-Bình, Thủy-Đường, Cổ-Phí, An-Lão, Đồng-Lợi, Thanh-Miện, Chí-Linh, An-Định, Lương-Giang, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa, Tây-Lan, An-Định, Ty-Nông, Vĩnh-Thông, Động-Hỷ, Vũ-Lễ, Đương-Đạo, Văn-An, Khoáng, Dương, Để-Giang, Ất-Bình, Thu-Vật, Mông, Ma-Lung, An-Lập.
- Lập 6 ty Âm Dương học tại các phủ: Lạng-Giang, Kiến-Xương, Trấn-Man, Tân-An, Tam-Giang, Thái-Nguyên.
Lập 14 ty Âm Dương học tại các châu: Qui-Hoá, Phúc-An, Từ-Liêm, Bắc-Giang, Vũ-Ninh, Gia-Lâm, Lạng-Giang, Thượng-Hồng, Khoái, Đông-Triều, Hạ-Hồng, Nam-Sách, Đà-Giang, Vạn-Nhai.
Lập 26 ty Âm Dương Học tại các huyện: Thạch-Thất, Ứng-Bình, Thiện-Tài, An-Ninh, Bình-Hà, Bảo-Lộc, Yên-Ninh, Đường-An, Đa-Cẩm, Chân-Lợi, Bố, Phù-Dung, Đông-Kết, Hiệp-Sơn, Thủy-Đường, Cổ-Phí, An-Lão, Chí-Linh, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa, Cổ-Nông, Đương-Đạo, Dương, Để-Giang, Bình-Nguyên.
- Lập 5 ty Y học tại các phủ, gồm: Kiến-Xương, Trấn-Man, Tân-An, Thái-Nguyên, Tuyên-Hoá.
Lập 13 ty Y học tại các châu, gồm: Gia-Hưng, Tam-Đái, Uy-Man, Bắc-Giang, Gia-Lâm, Lạng-Giang, Thượng-Hồng, Đông-Triều, Hạ-Hồng, Thao-Giang, Đà-Giang, Tuyên-Giang.
Lập 31 ty Y học tại các huyện, gồm: Ma-Lung, An-Lập, Thủy-Vĩ, Tượng, Thanh-Oai, Ứng-Bình, Tế-Giang, Thiện-Tài, Vọng-Doanh, Đại-Loan, Thanh-Viễn, Bình-Hồ, Cánh [Thanh]-An, Đa-Cẩm, An-Ninh, Cổ-Lũng, Thuận-Vi, Thái-Bình, Chân-Lợi, Thị, Mỹ-Dung, Đông-Kết, Vĩnh-Cô, An-Lão, Thủy-Đường, Thanh-Miện, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Bình, Cổ-Nông, Thu-Vật.
- Lập 3 ty Tăng Cang tại các phủ, gồm: Tân-An, Thanh-Hoá, Thái-Nguyên.
Lập16 dẫn Tăng Chính tại các châu: Gia-Hưng, Quảng-Oai, Qui-Hoá, Bắc-Giang, Trường-Yên, Lạng-Giang, Thượng-Hồng, Khoái, Đông-Triều, Hạ-Hồng, Thanh-An, Cửu-Chân, Thao-Giang, Đà-Giang, Tuyên-Hoá, Thất-Nguyên.
Lập 56 ty Tăng Hội tại các huyện: Từ-Châu, Phù-Ninh, An-Lạc, Lập-Thạch, Thạch-Thất, Thanh-Oai, Thanh-Đàm, Phù-Lưu, Gia-Lâm, Siêu-Loại, Từ-Sơn, Đông-Ngàn, Thiện-Thệ, Tế-Giang, Thiện-Tài, Đại-Loan, Vọng-Doanh, An-Bản, Bình-Hoà, Bảo-Lộc, An-Ninh, Đương-An, Đa-Cẩm, Thuận-Vi, Tây-Chân, Mỹ-Lộc, Chân-Lợi, Bố, Kiến-Xương, Phù-Dung, Thúc-Kết, Đa-Dị, Cổ-Lan, Đình-Hà, Thái-Bình, Hiệp-Sơn, Thủy-Đường, Cổ-Phí , Tây-Kỳ, Đồng-Lợi, Thanh-Miện, Chí-Linh, An-Định, Đông-Sơn, Lương-Giang, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa, Cổ-Nông, Phú-Lương, An-Định, Đương-Đạo, Khoáng-Dương, Thu-Vật, Mỹ-Lương.
- Lập 6 Đạo Kỷ tại các phủ: Kiến-Xương, Trấn-Man, Tân-An, Thanh-Hoá, Thái-Nguyên, Tuyên-Hoá.
Lập 15 ty Đạo Chính tại các châu: Qui-Hoá, Phúc-An, Lợi-Nhân, Từ-Liêm, Vũ-Ninh, Bắc-Giang, Gia-Lâm, Trường-An, Thượng-Hồng, Khoái, Đông-Triều, Hạ-Hồng, Nam-Sách, Thao-Giang, Đà-Giang.
Lập 37 ty Đạo-Hội tại các huyện: Từ-Liêm, Lập-Thạch, Thanh-Đàm, Thanh-Oai, Gia-Lâm, Siêu-Loại, Từ-Sơn, Đông-Ngạn, Thiện-Thệ, Thiện-Tài, Vọng-Doanh, An-Bản, Lê-Bình, Bình-Hà, Bảo-Lộc, Đường-An, Mỹ-Lộc, Tây-Chân, Phù-Dung, Quả-Kết, Đại-Bình, Thủy-Đường, Hữu-Phí, An-Lão, Tây-Kỳ, Thanh-Miện, Chí-Linh, Ma-Khê, Thanh-Ba, Hạ-Hoa, An-Định, Đương-Đạo, Văn-An, Khoáng-Ất, Đại-Loan, Thu-Vật. [1]
Qua văn bản nêu trên, ta thấy được các tổ chức này xen kẽ chằng chịt trong các địa phương như chân bạch tuộc; dân ta lâm vào cảnh “lọt sàng, xuống nia”, cuối cùng cũng bị một trong những tổ chức này khống chế.
Sách vở của ta thì bị tịch thu đem về Tàu, rồi họ chở sang hàng loạt các thư tịch mới để làm tài liệu giảng dạy. Ví như về lãnh vực Nho học, bộ Tứ thư thuyết ước của Chu Văn An bị tịch thu [2] , dùng Tính Lý Đại Toàn gồm 70 quyển, làm tài liệu giáo khoa căn bản; sách này do vua nhà Minh sai bọn Hồ Quảng thu thập các tài liệu của Tống Nho soạn ra
Về việc giáo dục, viên Tham-chính Giao-Chỉ Lưu Bản gửi lời tấu xin chọn các Giáo-quan giảng dạy nội dung đồng hoá theo Trung-Quốc cùng dẹp bỏ phong tục nước ta qua cái gọi là “dạy sinh viên biết lễ nghĩa Trung-Quốc, biến đổi di tục” và kịch liệt đả kích những Giáo-quan còn nặng lòng yêu nước cũ như trường hợp Lê Cảnh Tuân, tác giả Vạn ngôn thư [3] . Lời tâu của viên quan cai trị này được chấp thuận, sự việc được ghi lại qua văn bản dưới đây:
Ngày 24 tháng 4 năm Vĩnh Lạc thứ 9 [15/6/1411]
Tham-chính Giao-Chỉ Lưu Bản tâu 3 điều:
…
Điều thứ ba: Dân Giao-Chỉ cũng biết đọc sách, nhưng ưa điều lợi trước mắt, thích khoe khoang trí trá, bỏ gốc theo ngọn, không để ý đến liêm sỉ. Nay các phủ như Giao-Châu đã mở trường học, tuyển con các thổ quan, cùng trẻ em tuấn tú nhà dân sung làm sinh viên. Dùng các giáo quan như Lê Cảnh Tuân; bọn này chỉ chuộng hư văn, không có hiệu quả thực tế. Nay xin tuyển các lão thành có học, theo khuôn khổ sư phạm, dạy các sĩ tử biết lễ nghĩa của Trung-Quốc, biến đổi di tục, ngõ hầu sau này đào tạo được người cho nhà nước dùng.
Thiên-tử vui lòng, thâu nạp. [4]
Nói đến di tục tức phong tục nước Đại-Việt xưa, qua bài khảo cứu trước [5] chúng tôi đã nhắc đến việc nhà Minh phá bỏ phong tục tang chế giản dị tại nước ta, và bắt buộc người có đại tang phải nghỉ việc trong 3 năm. Sử liệu dưới đây cung cấp thêm bằng chứng rằng nước ta không có tập tục thờ đa thần, như thần núi, sông, mây, mưa, sấm chớp..., và chính nhà Minh là thủ phạm truyền bá mê tín đa thần giáo đến nước ta:
Ngày 2 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 5 [4/8/1407]
Ty Bố-chánh Giao-Chỉ tâu: Tục dân An-Nam chỉ chuộng phép Phù-đồ [Phật giáo], không biết cúng thần; nên lập các đàn tế các thần gió, mây, sấm, mưa, sông, núi, xã tắc, để biết cách cầu báo phúc. Chấp thuận. [6]
Trước đó, dưới thời Minh Thái Tổ [1390], nhà Minh đã cho điều tra các sông, núi, đầm vực sâu nổi tiếng tại nước ta và nước Triều-Tiên. Tất cả được ghi vào tự điển và chép cẩn thận trong Minh thực lục như sau:
Ngày 21 tháng 12 năm Hồng Vũ thứ 2 [19/1/1370]
Thiên-tử bảo các quan thuộc Trung Thư và bộ Lễ rằng: “Nay An-Nam và Cao-Ly đều qui phụ xưng thần, các sông núi thuộc các nước này cần được tế một lần với Trung-Quốc.” Vì vậy bộ Lễ cho khảo xét các sông núi của các nước này.
Núi tại An-Nam có 20 dãy, gồm: Phật-Tích, Triệt-Vi, Tiên-Du, Phả-Lại, Vạn-Kiếp, Kiệt-Đặc, An-Tử, Địa-Cận, Thiên-Dưỡng, Thần-Đầu, Long-Đại, Văn-Trường, An-Hộ, Biện, Lập-Thạch, Hương-Tượng, Sùng, Đô-Long, Trắc, Phân.
Có 6 sông, gồm: Xuyên-đường, Phú –Lương, Đại-Hoàng, Đại-Lịch, Tô-Lịch, Tam-Đái.
Vực nước sâu có 6, gồm: vực An-Thạch, cửa Thạch-Long, Tư-Liêm, Lãng-Bạc, Việt-Thường, Cửu-Đức.
Tại Cao-Ly có 3 núi: Lỗ-Dương, Tung, Vĩ.
Có 4 sông, gồm: Xuyên-Lễ-Thành, Diêm-Than-Thủy, Phối-Thủy, Mã -Tý-Thủy tức sông Áp-Lục.
Bèn ra lệnh chép vào tự điển, lập bài vị để tế.” [7]
Sau khi danh sách đã được làm xong, bèn sai Sứ-giả đến các nơi, để trực tiếp cúng tế. Lễ nghi được mô tả rất rườm rà, như việc vua nhà Minh đích thân viết chúc văn, bắt phải vẽ hoạ đồ sông núi, lập văn bia ghi trên đá, v.v... Về mặt nổi thì như vậy, nhưng về mặt chìm thì các truyện cổ nước ta thường kể rằng người Tàu hay dùng bùa chú để trấn, yểm các long mạch. Nếu xét đến Trung-Quốc là nơi phát xuất môn địa lý phong thủy, thì việc lợi dụng cúng tế để thực hành trấn, yểm cũng có thể xảy ra. Ngoài ra nhân việc đi lại, bọn Sứ-giả có thể tìm hiểu về địa hình, những thế đất chiến lược, việc này cũng rất có lợi cho Trung-Quốc, khi cần mang quân đánh chiếm.
Văn bản dưới đây kể rõ nghi thức cúng tế các thần sông, núi:
Ngày 10 tháng 1 năm Hồng Vũ thứ 3 [6/2/1370]
Sai Sứ-giả đến An-Nam, Cao-Ly, Chiêm-Thành tế sông núi các nước này. Trước tiên Thiên-tử giữ trai giới [8] , đích thân viết chúc văn [9] . Ngày hôm nay ngự triều trao cho Sứ-giả hương và lụa; hương đựng trong hộp vàng; lụa gồm 2 thứ, thứ nhất làm cờ hiệu hoa văn, thứ 2 tùy phương hướng mỗi nước dùng lụa màu sắc thích hợp, chép chúc văn lên, rồi Thiên-tử đích thân đề ngự danh [10] vào. Lại cấp 25 lượng bạch kim để biện lễ vật cúng tế. Sứ-giả được cấp 10 lượng bạch kim, cùng y phục, rồi sai đi.
Lại ra lệnh cho các nước vẽ hoạ đồ sông núi, chép các văn bia, rồi giao cho Sứ-giả mang về. Sứ-giả đến các nước, khắc trên đá văn tự sự, đại lược như sau: “Trẫm nhờ trời đất tổ tông phù hộ, địa vị đứng trên cả thần dân; việc cúng tế giao, miếu, xã tắc, thần núi, sông, biển không dám không cung kính. Các ngươi tại Chiêm-Thành, Ai-Lao, Cao-ly đều sai sứ dâng biểu xưng thần, đã được phong vương; vậy sông, núi trong lãnh thổ cũng thuộc về chức phương; khảo điển xưa đều được Thiên-tử vọng tế [11] , nhưng chưa có lệ sai Sứ đến tại lãnh thổ trực tiếp cúng tế. Nay nghĩ rằng phàm đất dưới trời đều được hưởng chung sự thăng bình, nên biện lễ sinh vật, lụa; sai Sứ-giả đến tế thần. Thần cảm cách an hưởng tất sẽ phù hộ cho đất nước, đời đời giữ gìn bờ cõi, khiến mưa gió phải thời, mùa màng lúa tốt, dân bình yên. Làm rõ ý nghĩa đối xử cùng chung một lòng nhân, nên khắc vào đá để lưu truyền mãi mãi.” [12]
Để đề phòng các nguyên nhân có thể gây mầm mống nổi dậy, buổi mở đầu cai trị triều đình nhà Minh đã cất công nghiên cứu kỹ tên các phủ, châu, huyện nước ta; gặp những địa danh mang ý nghĩa độc lập, tự chủ đều cho thay bằng những tên mới hàm nghĩa thuận tòng. Sau đây là những bằng chứng điển hình:
Dưới thời quân chủ, “rồng” tức “long” biểu tượng cho vua, vua lên ngôi gọi là “long phi”. Nhà Minh dẹp bỏ vua nước ta để giành quyền cai trị; nên cũng dẹp luôn những địa danh có tên “long” để dân không còn dịp tưởng nhớ. Như phủ Long-Hưng đổi thành phủ Trấn-Man, huyện Long-Nhãn đổi thành huyện Thanh-Viễn, huyện Long-Đàm thành huyện Thanh-Đàm, huyện Long-Bạt thành huyện Lũng-Bạt. huyện Trà-Long thành Trà huyện.
Đất nước bị chia thành phủ, huyện, không còn gọi là “nước”; nên các địa danh có chữ “quốc”, “bang” cũng bị dẹp luôn. Như châu Quốc-Oai đổi thành Oai-Man, châu An-Bang đổi thành Tĩnh-An, huyện An-Bang đổi thành huyện Đồng-An.
Cùng chung số phận, nước không còn “độc lập”, nên tên huyện Độc-Lập cũng bị đổi thành huyện Bình-Lập.
Đất nước bị “bình định” nên nhiều địa danh được đổi thành danh từ kép có chữ “bình” hay “định”. Như phủ Kiến-Hưng đổi thành phủ Kiến-Bình, châu Bố-Chính thành châu Chính-Bình, huyện Ứng-Thiên thành huyện Ứng-Bình, huyện Cổ-Chiến thành huyện Cổ-Bình, huyện Lê-Gia thành huyện Lê-Bình, huyện Thượng-Lộ thành huyện Lộ-Bình, huyện Tả-Bố thành huyện Tả-Bình; huyện Sơn-Minh đổi thành huyện Sơn-Định.
Nếu đem so sánh với các triều đại Bắc phương như Tần, Hán, Lục Triều, Đường, Ngũ Đại từng cai trị nước ta, thì nhà Minh đã rút kinh nghiệm từ những triều đại này để thực hiện một kế hoạch cai trị hết sức triệt để. Tính toán tuy kỹ, dã tâm tuy sâu sắc, nhưng không thể chế ngự nổi lòng người. Trải qua hơn 20 năm chiến tranh không dứt, có hàng trăm cuộc khởi nghĩa nổi lên, cuối cùng đến lượt Tổng-binh Vương Thông không kịp chờ lệnh vua, phải cấp tốc làm lễ thề với Bình-Định-vương Lê Lợi để được rút quân về nước!
Biểu liệt kê các tổ chức văn hóa tôn giáo
Giúp độc giả nhìn qua có thể thấy được nội dung, chúng tôi thiết lập biểu liệt kê gồm 5 cột. Ba cột đầu dùng cho phủ, châu, huyện thời Minh; nếu những huyện trực thuộc thẳng vào phủ, thì mục “châu” để trống. Hoàn thành cột thứ 4 “vị trí hiện tại”, chúng tôi cố gắng đổi địa danh dưới thời Minh cai trị ra địa danh hiện nay.
Tài liệu tham khảo
Đất nước Việt Nam qua các đời của Đào Duy Anh. xuất bản năm 1994.
Bản đồ hành chánh Việt Nam – Lào – Cam Pu Chia, tỷ lệ 1/1.750.000, của Cục Bản đồ, in năm 1990.
Bản đồ không ảnh, tỷ lệ 1/250.000, của Bộ Quốc phòng Hoa-Kỳ.
Phần cột cuối cùng ghi các tổ chức văn hóa tôn giáo vào các địa phương tương ứng. Để khỏi rườm rà, xin viết tắt như sau:
- Nho: Ty Nho học.
- Y: Ty Y học.
- Tăng Cang: Ty Tăng Cang.
- Tăng Chính: Ty Tăng Chính.
- Tăng Hội: Ty Tăng Hội.
- Đạo Kỷ: Ty Đạo Kỷ.
- Đạo Chính: Ty Đạo Chính.
- Đạo Hội: Ty Đạo Hội.
| HUYỆN
| CHÂU
| PHỦ
| VỊ TRÍ NGÀY NAY
| CÁC TỔ CHỨC
| |
|
|
|
|
| |
|
|
|
|
| | Đông-Quan
|
| Giao-Châu
| Hà-Nội | Nho, y
| | Từ-Quảng
|
| Giao-Châu
| Từ-Liêm, Hà-NộI
| Nho, y
| | Sơn-Định
| Oai-Man
| Giao-Châu
| Ứng-Hòa, Hà-Tây
| Y
| | Thanh-Oai
| Oai-Man
| Giao-Châu
| Thanh-Oai, Hà-Tây
| Tăng Hội, Y, Đạo Hội,
| | Ứng-Bình
| Oai-Man
| Giao-Châu
| Chương-mỹ, Hà-Tây
| Âm Dương, Y
| | Đại-Đường
| Oai-Man
| Giao-Châu
| Mỹ-Đức, Hà Tây
|
| | Bảo-Phúc
| Phúc-An
| Giao-Châu
| Thường-Tín, Hà-Tây
| Nho, Âm Dương, Đạo Chính
| | Phù-Lưu
| Phúc-An
| Giao-Châu
| Phú-Xuyên, Hà-Tây
| Tăng Hội
| | Thanh-Đàm
| Phúc-An
| Giao-Châu
| Thanh-Trì, Hà-NộI
| Tăng-Hội, Nho, Đạo Hội
| | Phù-Long
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Vĩnh-Tường, Vĩnh-Phúc
| Nho, Y
| | Yên-Lãng
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Yên-Lãng, Thái-Nguyên
|
| | Phù-Ninh
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Phù-Ninh, Phú-Thọ
| Nho, Tăng Hội
| | Yên-Lạc
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Yên-Lạc, Vĩnh Phúc
| Nho, Tăng Hội
| | Lập-Thạch
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Lập-Thạch, Vĩnh-Phúc
| Nho, Tăng Hội
| | Nguyệt-Tức
| Tam-Đái
| Giao-Châu
| Vĩnh-Phúc
|
| | Đan-Sơn
| Từ-Liêm
| Giao-Châu
| Đan-Phượng, Hà-Tây
| Nho, Đạo Chính
| | Thạch-Thất
| Từ-Liêm
| Giao-Châu
| Thạch-Thất, Hà-Tây
| Nho, Âm Dương, Tăng Hội
| | Thanh-Liêm
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Thanh-Liêm, Hà-Nam
| Đạo Chính
| | Bình-Lục
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Bình-Luc, Hà-Nam
| Nho
| | Cổ-Bảng
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Kim-Bảng, Hà-Nam
|
| | Cổ-Lễ
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Lý-Nhân, Hà-Nam
|
| | Lợi-Nhân
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Nam-Hà
|
| | Cổ-Giả
| Lợi-Nhân
| Giao-Châu
| Lý-Nhân, Hà-Nam
|
| | Siêu-Loại
|
| Bắc-Giang
| Thuận-Thành,Bắc-Ninh
| Nho, Âm Dương, Đạo Chính, Đạo Hội
| | Gia-Lâm
|
| Bắc-Giang
| Gia-Lâm, Bắc-Ninh
| Nho, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Yên-Định
| Gia-Lâm
| Bắc-Giang
| Bắc-Ninh
| Nho, Âm Dương, Y, Đạo Chính
| | Tế-Giang
| Gia-Lâm
| Bắc-Giang
| Bắc-Ninh
| Nho, Y, Tăng Hội
| | Thiện-Tài
| Gia-Lâm
| Bắc-Giang
| Lang-Tài, Bắc-Ninh
| Nho, Âm Dương, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Tiên-Du
| Vũ-Ninh
| Bắc-Giang
| Tiên-Du, Bắc-Ninh
| Nho, Âm Dương, Đạo Chính
| | Đông-Ngàn
| Vũ-Ninh
| Bắc-Giang
| Từ-Sơn, Bắc-Ninh
| Nho, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Từ-Sơn
| Vũ-Ninh
| Bắc-Giang
| Quế-Dương, Bắc-Ninh
| Nho, Tăng Hội,
| | Yên-Phong
| Vũ-Ninh
| Bắc-Giang
| Yên-Phong, Bắc-Ninh
|
| | Kỳ-Phúc
| Bắc-Giang
| Bắc-Giang
| Bắc-Giang
| Tăng Chính, Đạo Chính
| | Thiên-Thệ
| Bắc-Giang
| Bắc-Giang
| Bắc-Giang
| Nho, Tăng Hội, Đạo Hội,
| | Yên-Việt
| Bắc-Giang
| Bắc-Giang
| Việt-Yên, Bắc-Giang
|
| | Thanh-Viễn
|
| Lạng-Giang
| Bắc-Giang
| Nho, Âm Dương, Y
| | Cổ-Dõng
|
| Lạng-Giang
| Yên-Dũng, Bắc-Giang
|
| | Phượng-Sơn
|
| Lạng-Giang
| Bắc-Giang
| Nho
| | Na-Ngạn
|
| Lạng-Giang
| Lục-ngạn, Bắc-Giang
|
| | Lục-Na
|
| Lạng-Giang
| Lục-Ngạn, Bắc-Giang
|
| | Thanh-An
| Lạng-Giang
| Lạng-Giang
|
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Chính
| | Yên-Ninh
| Lạng-Giang
| Lạng-Giang
| Bắc-Giang
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Hội
| | Cổ-Lũng
| Lạng-Giang
| Lạng-Giang
| Hữu-Lũng, Lạng-Sơn
| Nho, Y
| | Bảo-Lộc
| Lạng-Giang
| Lạng-Giang
| Lạng-Giang, Bắc-Giang
| Nho, Âm Dương, Đạo Hội,Tăng Hội
| | Thanh-Lâm
| Nam-Sách
| Lạng-Giang
| Nam-Sách, Hải-Dương
| Nho, Âm Dương, Đạo Chính
| | Chí-Linh
| Nam-Sách
| Lạng-Giang
| Chí-Linh, HảI-Dương
| Nho, Âm Dương, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Bình-Hà
| Nam-Sách
| Lạng-Giang
| Thanh-Hà, HảI-Dương
| Nho, Âm Dương, Đạo Hội
| | Đường-Hào
| Thượng-Hồng
| Lạng-Giang
| Mỹ-Hào, Hưng-Yên
| Âm Dương, Y, Tăng Chính, Đạo Chính
| | Đường-Yên
| Thượng-Hồng
| Lạng-Giang
| Bình-Giang, HảI-Dương
| Nho, Âm Dương, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Đa-Cẩm
| Thượng-Hồng
| Lạng-Giang
| Cẩm-Giàng, HảI-Dương
| Âm Dương, Y, Tăng Hội
| | Sơn-Vi
| Thao-Giang
| Tam-Giang
| Lâm-Thao, Phú-Thọ
| Nho, Âm Dương, Y, Đạo Chính
| | Ma-Khê
| Thao-Giang
| Tam-Giang
| Cẩm-Khê, Phú-Thọ
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng hội, Đạo Hội
| | Thanh-Ba
| Thao-Giang
| Tam-Giang
| Phú-Thọ
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng hội, Đạo Hội
| | Hạ-Hoa
| Thao-Giang
| Tam-Giang
| Hạ-Hòa, Phú-Thọ
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng hội, Đạo Hội
| | Đông-Lan
| Tuyên-Giang
| Tam-Giang
| Đoan-Hùng, Phú-Thọ
| Nho, Y, Tăng Chính
| | Tây-Lan
| Tuyên-Giang
| Tam-Giang
| Đoan-Hùng, Phú-Thọ
| Nho
| | Hổ-Nham
| Tuyên-Giang
| Tam-Giang
| Yên-Sơn, Tuyên-Quang
|
| | Lũng-Bản
| Đà-Giang
| Tam-Giang
| Bất-Bạt, Hà-Tây
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Cang, Đạo Kỷ
| | Cổ-Nông
| Đà-Giang
| Tam-Giang
| Tam-Nông, Phú-Thọ
| Âm Dương, Y, Tăng Hội
| | Ý-Yên
|
| Kiến-Bình
| Ý-Yên, Nam-Định
| Nho
| | Yên-Bản
|
| Kiến-Bình
| Vụ-Bản, Nam-Định
| Đạo Hội, Tăng Hội
| | Bình-Lập
|
| Kiến-Bình
| Vụ-Bản, Nam-Định
|
| | Đại-Loan
|
| Kiến-Bình
| Nghĩa-Hưng, Nam-Định
| Nho,Y, Tăng Hội
| | Vọng-Doanh
|
| Kiến-Bình
| Phong-Doanh, Nam-Hà
| Y, Tăng Hội, Nho, Đạo Hội
| | Uy-Viễn
| Trường-Yên
| Kiến-Bình
| Gia-Viễn, Ninh-Bình
| Nho, Đạo Chính, Tăng Chính
| | Yên-Mô
| Trường-Yên
| Kiến-Bình
| Yên-Mô, Ninh-Bình
|
| | An-Ninh
| Trường-Yên
| Kiến-Bình
| Yên-Khánh, Ninh-Bình
| Tăng Hội
| | Lê-Bình
| Trường-Yên
| Kiến-Bình
| Gia-Viễn, Ninh-Bình
| Đạo Hội
| | Giáp-Sơn
|
| Tân-An
| Kinh-Môn, HảI-Dương
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Cang, Đạo Kỷ
| | Thái-Bình
|
| Tân-An
| Thái-Ninh, Thái-Bình
| Y, Tăng Hội, Nho,
| | Đa-Dực
|
| Tân-An
| Phụ-Dực, Thái-Bình
|
| | A-Côi
|
| Tân-An
| Quỳnh-Côi, Thái-Bình
|
| | Tây-Quan
|
| Tân-An
| Thanh-Quan, Thái-bình
|
| | Đông-Triều
| Đông-Triều
| Tân-An
| Đông-Triều, Quảng-Ninh
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Chính, Đạo Chính,
| | An-Lão
| Đông-Triều
| Tân-An
| An-Lão, HảI-Phòng
| Nho, Âm Dương, Y, Đạo Hội,
| | Cổ-Phí
| Đông-Triều
| Tân-An
| Đông-Triều, Quảng-Ninh
| Nho, Âm Dương, Tăng Hội,
| | Thủy-Đường
| Đông-Triều
| Tân-An
| Đông-Triều, Quảng-Ninh
| Âm Dương, Y, Nho
| | Đồng-An
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Hoành-Bồ, Quảng-Ninh
| Tăng Chính
| | Chi-Phong
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Cát-Hải, Hải-Phòng
|
| | Yên-Lập
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Yên-Hưng, Quảng-Ninh
| Y, Nho
| | An-Tân
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Quảng-Ninh
|
| | An-Đại
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Không rõ
|
| | Độc
| Tĩnh-An
| Tân-An
| đảo Kê-Bao, Quảng-Ninh
|
| | Vạn-Ninh
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Hải-Ninh, Quảng-Ninh
|
| | Vân-Đồn
| Tĩnh-An
| Tân-An
| Vân-Đồn, Quảng-Ninh
|
| | Trường-Tân
| Hạ-Hồng
| Tân-An
| Gia-lộc, Hải-Dương
| Nho, Âm Dương, Tăng Chính, Y
| | Tứ-Kỳ
| Hạ-Hồng
| Tân-An
| Tứ-Kỳ, Hải-Dương
|
| | Đồng-Lợi
| Hạ-Hồng
| Tân-An
| Vĩnh-Bảo, Hải-Phòng
| Nho, Tăng Hội
| | Thanh-Miện
| Hạ-Hồng
| Tân-An
| Thanh-Miện, Hải-Dương
| Nho, Y, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Bổng-Điền
|
| Kiến-Xương
| Thư-Trì, Hải-Hưng
| Nho, Âm Dương, Y, Đạo Kỷ
| | Kiến-Xương
|
| Kiến-Xương
| Thư-Trì, Hải-Hưng
| Nho, Tăng Hội
| | Bố
|
| Kiến-Xương
| Thái-Bình
| Nho, Y, Âm Dương
| | Chân-Lợi
|
| Kiến-Xương
| Trực-Đình, Thái-Bình
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Hội
| | Lữ-Thi
| Khóai-Châu
| Kiến-Xương
| Kiến-Xương, Thái-Bình
| Âm Dương, Tăng Chính
| | Hóa
| Khóai-Châu
| Kiến-Xương
| Khoái-Châu, Hưng-Yên
|
| | Đông-Kết
| Khóai-Châu
| Kiến-Xương
| Khoái-Châu, Hưng-Yên
|
| | Phù-Dung
| Khóai-Châu
| Kiến-Xương
| Phù-Cừ, Hưng-Yên
| Nho
| | Vĩnh-Cô
| Khóai-Châu
| Kiến-Xương
| Khoái-Châu, Hưng-Yên
| Nho, Y
| | Mỹ-Lộc
|
| Phụng-Hóa
| Xuân-Trường, Nam-Định
| Nho, Đạo Hội
| | Giao-Thủy
|
| Phụng-Hóa
| Xuân-Trường, Nam-Định
| Nho, Tăng Hội
| | Tây-Chân
|
| Phụng-Hóa
| Nam-Định
| Nho, Tăng Hội, Đạo Hội
| | Thuận-Vi
|
| Phụng-Hóa
| Thái-Bình
| Y, Tăng Hội,
| | Cổ-Đằng
|
| Thanh-Hóa
| Hoằng-Hóa, Thanh-Hóa
| Tăng Cang, Đạo Kỷ
| | Cổ-Hoằng
|
| Thanh-Hóa
| Hoằng-Hóa, Thanh-Hóa
| Nho
| | Đông-Sơn
|
| Thanh-Hóa
| Đông-Sơn, Thanh-Hóa
| Tăng Hội
| | Cổ-Lôi
|
| Thanh-Hóa
| Thọ-Xuân, Thanh-Hóa
|
| | Vĩnh-Ninh
|
| Thanh-Hóa
| Vĩnh-Lộc, Thanh-Hóa
|
| | Yên-Định
|
| Thanh-Hóa
| Yên-Định, Thanh-Hóa
| Nho, Tăng Hội
| | Lương-Giang
|
| Thanh-Hóa
| Thiệu-Hóa, Thanh-Hóa
| Nho
| | Nga-Lạc
| Thanh-Hóa
| Thanh-Hóa
| Ngọc-Lặc, Thanh-Hóa
|
| | Tế-Giang
| Thanh-Hóa
| Thanh-Hóa
| Thạch-Thành, Thanh-Hóa
|
| | Yên-Lạc
| Thanh-Hóa
| Thanh-Hóa
| Thạch-Thành, Thanh-Hóa
|
| | Lỗi-Giang
| Thanh-Hóa
| Thanh-Hóa
| Cẩm-Thủy, Thanh-Hóa
|
| | Hà-Trung
| Ái-Châu
| Thanh-Hóa
| Hà-Trung, Thanh-Hóa
| Nho
| | Thống-Ninh
| Ái-Châu
| Thanh-Hóa
| Hậu-Lộc, Thanh-Hóa
|
| | Tống-Giang
| Ái-Châu
| Thanh-Hóa
| Nga-Sơn, Thanh-Hóa
|
| | Chi-Nga
| Ái-Châu
| Thanh-Hóa
| Nga-Sơn, Thanh-Hóa
|
| | Cổ-Bình
| Cửu-Chân
| Thanh-Hóa
| Tĩnh-Gia, Thanh-Hóa
|
| | Kết-Duyệt
| Cửu-Chân
| Thanh-Hóa
| Tĩnh-Gia, Thanh-Hóa
|
| | Duyên-Giác
| Cửu-Chân
| Thanh-Hóa
| Quảng-Xương, Thanh-Hóa
| Tăng Chính
| | Nông-Cống
| Cửu-Chân
| Thanh-Hóa
| Nông-Cống, Thanh-Hóa
|
| | Tân-Hòa
|
| Trấn-Man
| Hưng-Hà, Thái-Bình
| Nho, Âm Dương, Y, Đạo kỷ
| | Đình-Hà
|
| Trấn-Man
| Thái-Bình
|
| | Cổ-Lan
|
| Trấn-Man
| Đông-Hưng, Thái-Bình
| Tăng Hội
| | Thần-Khê
|
| Trấn-Man
| Thái-Bình
|
| | Tân-An
|
| Lạng-Sơn
| Lạng-Sơn
|
| | Như-Ngao
|
| Lạng-Sơn
| Lộc-Bình, Lạng-Sơn
|
| | Đơn-Ba
|
| Lạng-Sơn
| Đình-Lập, Lạng-Sơn
|
| | Khâu-Ôn
|
| Lạng-Sơn
| Ôn-Châu, Lạng-Sơn
|
| | Trấn-Di
|
| Lạng-Sơn
| Hữu-Lũng, Lạng-Sơn
|
| | Uyên
|
| Lạng-Sơn
| Đồng-Đăng, Lạng-Sơn
|
| | Đồng
|
| Lạng-Sơn
| Hữu-Lũng, Lạng-Sơn
|
| | Thúy-Lãng
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Tràng-Định, Lạng-Sơn
|
| | Cầm
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Na-Sầm, Lạng-Sơn
|
| | Thoát
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Thoát-Lãng, Lạng-Sơn
|
| | Dung
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Thoát-Lãng, Lạng-Sơn
|
| | Pha
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Tràng-Định, Lạng-Sơn
|
| | Bình
| Thất-Nguyên
| Lạng-Sơn
| Tràng-Định, Lạng-Sơn
|
| | Bối-Lan
| Thượng-Văn
| Lạng-Sơn
| Bằng-Mạc, Lạng-Sơn
|
| | Khánh-Viễn
| Thượng-Văn
| Lạng-Sơn
| Bằng-Mạc, Lạng-Sơn
|
| | Khố
| Thượng-Văn
| Lạng-Sơn
| Lạng-Sơn
|
| | Phúc-Khang
|
| Tân-Bình
| Quảng-Bình
|
| | Nha-Nga
|
| Tân-Bình
| Lệ-Thủy, Quảng-Bình
|
| | Tri-Kiến
|
| Tân-Bình
| Quảng-Bình
|
| | Chính-Hòa
| Chính-Bình
| Tân-Bình
| Quảng-Trạch, Quảng-Bình
|
| | Cổ-Đặng
| Chính-Bình
| Tân-Bình
| Bố-Trạch, Quảng-Bình
|
| | Tòng-Chí
| Chính-Bình
| Tân-Bình
| Minh-Chính, Quảng-Bình
|
| | Đan-Duệ
| Nam-Linh
| Tân-Bình
| Vĩnh-Linh, Quảng-Trị
|
| | Tả-Bình
| Nam-Linh
| Tân-Bình
| Quảng-Trị
|
| | Hậu-Độ
| Nam-Linh
| Tân-Bình
| Quảng-Trị+D167
|
| | Thiên-Đông
|
| Diễn-Châu
| Yên-Thành, Nghệ-An
|
| | Phù-Dung
|
| Diễn-Châu
| Diễn-Châu, Nghệ-An
| Tăng Hội, Âm Dương, Đạo Hội
| | Phù-Lưu
|
| Diễn-Châu
| Quỳnh-Lưu, Nghệ-An
| Nho
| | Quỳnh-Lâm
|
| Diễn-Châu
| Quỳnh-Lưu, Nghệ-An
|
| | Nha-Nghi
|
| Nghệ-An
| Nghi-Xuân, Hà-Tĩnh
|
| | Phi-Lộc
|
| Nghệ-An
| Can-Lộc, Hà-Tĩnh
|
| | Cổ-Đỗ
|
| Nghệ-An
| Hương-Sơn, Hà-Tĩnh
|
| | Chi-La
|
| Nghệ-An
| Đức-Thọ, Hà-Tĩnh
|
| | Chân-Phúc
|
| Nghệ-An
| Nghi-Lộc, Nghệ-An
|
| | Thổ-Do
|
| Nghệ-An
| Thanh-Chương, Nghệ-An
|
| | Kệ-Giang
|
| Nghệ-An
| Thanh-Chương, Nghệ-An
|
| | Thổ-Hoàng
|
| Nghệ-An
| Hương-Khê, Hà-Tĩnh
|
| | Hà-Hoàng
| Nam-Thanh
| Nghệ-An
| Thạch-Hà, Hà-Tĩnh
|
| | Nham-Thạch
| Nam-Thanh
| Nghệ-An
| Thạch-Hà, Hà-Tĩnh
|
| | Hà-Hoa
| Nam-Thanh
| Nghệ-An
| Kỳ-Anh, Hà-Tĩnh
|
| | Kỳ-La
| Nam-Thanh
| Nghệ-An
| Kỳ-Anh, Cẩm-Xuyên, Hà-Tĩnh
|
| | Thạch-Đường
| Hoan-Châu
| Nghệ-An
| Nam-Đàn, Nghệ-An
|
| | Đông-Ngạn
| Hoan-Châu
| Nghệ-An
| Anh-Sơn, Nghệ-An
|
| | Lộ-Bình
| Hoan-Châu
| Nghệ-An
| Hưng-Nguyên, Nghệ-An
|
| | Sa-Nam
| Hoan-Châu
| Nghệ-An
| Nam-Đàn, Nghệ-An
|
| | Ba-Lãng
| Thuận
| Thuận-Hóa
| Quảng-Trị
| Nho
| | Lợi-Điều
| Thuận
| Thuận-Hóa
| Cam-Lộ, Quảng-Trị
|
| | An-Nhân
| Thuận
| Thuận-Hóa
| HảI-Lăng, Quảng-Trị
|
| | Lợi-Phùng
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Hương-Thủy, Thừa-Thiên
|
| | Sĩ-Vinh
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Thừa-Thiên
|
| | Sạ-Kim
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Thừa-Thiên
|
| | Trà-Kệ
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Hương-Trà, Thừa-thiên
|
| | Tư-Dung
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Phú-Lộc, Thừa-Thiên
|
| | Bồ-Đài
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Phong-Điền, Thừa-Thiên
|
| | Bồ-Lãng
| Hóa
| Thuận-Hóa
| Thừa-Thiên
|
| | Phú-Lương
| Thái-Nguyên
|
| Phú-Lương, Bắc-Thái
| Nho, Âm Dương, Y, Tăng Cang, Đạo Kỷ
| | Ty-Nông
| Thái-Nguyên
|
| Phú-Bình, Bắc-Thái
| Nho
| | Vũ-Lễ
| Thái-Nguyên
|
| Võ-Nhai, Bắc-Thái
| Nho
| | Động-Hỷ
| Thái-Nguyên
|
| Đồng-Hỷ, Bắc-Thái
| Nho
| | Vĩnh-Thông
| Thái-Nguyên
|
| Bạch-Thông, Bắc-Thái
| Nho
| | Tuyên-Hóa
| Thái-Nguyên
|
| Định-Hóa, Bắc-Thái
|
| | Lộng-Thạch
| Thái-Nguyên
|
| không rõ
|
| | Đại-Từ
| Thái-Nguyên
|
| Đại-Từ, Bắc-Thái
|
| | Yên-Định
| Thái-Nguyên
|
| Định-Hóa, Bắc-Thái
| Tăng Hội
| | Cảm-Hóa
| Thái-Nguyên
|
| Bắc-Thái
|
| | Thái-Nguyên
| Thái-Nguyên
|
| Thạch-Lâm, Cao-Bằng
|
| | Khoáng
| Tuyên-Hóa
|
| Hà-Giang
| Nho, Y, Đạo Kỷ, Tăng Hội
| | Đương-Đạo
| Tuyên-Hóa
|
| Sơn-Dương,Tuyên-Quang
| Nho, Âm Dương, Đạo Hội, Tăng Hội
| | Văn-Yên
| Tuyên-Hóa
|
| Hà-Giang
| Đạo Hội, Nho
| | Bình-Nguyên
| Tuyên-Hóa
|
| Vị-Xuyên, Hà-Giang
| Âm Dương
| | Để-Giang
| Tuyên-Hóa
|
| Sơn-Dương, Tuyên-Quang
| Nho, Âm Dương
| | Thu-Vật
| Tuyên-Hóa
|
| Yên-Bình, Yên-Bái
| Tăng Hội, Đạo Hội, Y, Nho
| | Đại-Man
| Tuyên-Hóa
|
| Chiêm-Hóa, Tuyên-Quang
|
| | Dương
| Tuyên-Hóa
|
| Tam-Dương, Vĩnh-Phúc
| Nho, Tăng Hội, Âm Dương
| | Nhất
| Tuyên-Hóa
|
| Sơn-Dương, Tuyên-Quang
|
| | Lung
| Gia-Hưng
|
| Thanh-Sơn, Vĩnh-Phú
| Y, Tăng Chính
| | Mông
| Gia-Hưng
|
| Phú-Yên, Sơn-La
| Nho
| | Tứ-Mang
| Gia-Hưng
|
| Mộc-Châu, Sơn-La
|
| | Yên-Lập
| Qui-Hóa
|
| Yên-Lập, Vĩnh-Phú
| Nho, Âm Dương, Tăng Chính, Đạo Chính
| | Văn-Bàn
| Qui-Hóa
|
| Yên-Bái
|
| | Văn-Chấn
| Qui-Hóa
|
| Yên-Bái
|
| | Thúy-Vĩ
| Qui-Hóa
|
| Lào-Cai
| Y,
| | Ma-Lung
| Quảng-Oai
|
| Tùng-Thiện, Hà-Tây
| Nho, Tăng Chính
| | Mỹ-Lương
| Quảng-Oai
|
| Mỹ-Đức, Hà Tây
| Tăng Hội
|
© 2007 talawas
[1]Minh thực lục, quyển 167, trang 1924-1927. [2]Theo Phan Huy Chú , Lịch triều hiến chương, văn tịch chí. [3]Lê Cảnh Tuân viết một bức thư một vạn chữ dâng cho Tham-nghị Bùi Bá Kỳ (3a) nêu ba phương lược Thượng, trung, hạ, đại lược nói rằng: “Nhà Minh đã có sắc ban cho ngài theo quân tiến đánh, đợi khi bắt được họ Hồ thì chọn con cháu nhà Trần lập làm vua, gia tước cho ngài để ở nước làm phụ tá. Nay thấy thiết lập ty bố chính, phong tước cao cho ngài, mà chỉ cấp người quét dọn đền miếu nhà Trần. Nếu ngài có thể tâu lại, phân tích những lời khai của các quan lại, kỳ lão, nói rõ con cháu nhà Trần chưa hết, để xin ban chiếu sắc riêng, phong lại cho họ Trần, đó là thượng sách. Nếu không được như thế, thì xin thôi chức vị hiện nay, nguyện làm quan coi nhà thờ họ Trần, đó là trung sách. Nếu ngài còn tiếc quan tước to, tham bổng lộc nhiều, thì đó là hạ sách.
Nếu ngài làm theo thượng sách thì tôi là nhân sâm, cam thảo, chỉ xác, trần bì bổ sung vào ô thuốc của ngài, tùy ngài sử dụng. Nếu ngài làm theo trung sách, thì tôi xin bưng khay chén hầu hạ ở đó, cũng xin tùy ngài sai khiến. Nếu ngài làm theo hạ sách thì tôi là kẻ câu vắng, cày nhàn (3b) cho hết tuổi thừa mà thôi ( Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 9, trang 231).
(3a) Bùi Bá Kỳ là quan nhà Trần, trốn sang Trung-Quốc tố cáo nhà Hồ cướp ngôi, lúc nhà Minh chiếm xong nước ta, phong Kỳ làm Tham-nghị Giao-Chỉ, sau này bị nhà Minh bắt đưa sang Trung-Quốc.
(3b) Câu vắng, cày nhàn: ý nói đi ở ẩn. [4]Minh thực lục, quyển 115, trang 1467-1468. [5]“ Tìm hiểu các tư trào Nho học ảnh hưởng đến đường lối trị quốc tại nước ta”, talawas ngày 7/4/2006. [6]Minh thực lục, quyển 69, trang 978. [7]Minh thực lục, quyển 47, trang 0938-0939. [8]Trai giới: giữ trong sạch kiêng cữ trong sự ăn uống và sinh hoạt. [9]Chúc văn: Văn cúng các linh hồn, thần linh, v.v… [10]Ngự danh: tên vua. [11]Vọng tế: tế từ xa; như từ Trung-quốc tế thần linh các nước chư hầu. [12]Minh thực lục, quyển 48, trang 0954-0955.
|