trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
  1 - 20 / 325 bài
  1 - 20 / 325 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Tư tưởngVăn hoá và phát triển
2.11.2005
Đinh Từ Thức
Anh hùng hậu truyện
(Đáp ứng bài “Giật mình khi ở xó cầu?” của Đỗ Kh.)
 
Trước hết, xin cám ơn ông Đỗ Kh. đã đề cập tới bài “Bệnh anh hùng” của tôi. Ngay câu mở đầu, ông đã “đồng í rằng, ‘bất hạnh thay những dân tộc lắm anh hùng’”. Đề tài chính của tôi đã có người đồng ý. Kể như xong. Nhưng đọc tiếp mới thấy một số điểm bất đồng ý của ông, khiến phải đáp lễ.

Trước hết, việc so sánh giữa Singapore và Việt Nam, như đã trình bầy trong bài “Bệnh anh hùng”, không phải một chọn lựa xếp đặt, mà chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên. Đúng thời gian tôi ở Singapore vào tháng Tám và tháng Chín vừa rồi, tại đây và Việt Nam cùng kỷ niệm lễ độc lập. Theo dõi diễn tiến của ngày lễ, cùng với lời tuyên bố của nhà lãnh đạo hai nước, tôi thấy khác nhau tới mức trái ngược. Từ khởi điểm này, dẫn tới sự tìm hiểu về đời sống của dân chúng hai nước, cũng thấy khác nhau quá xa. Do đó, tôi đã ghi lại sự khác biệt giữa Singapore và Việt Nam, chứ không phải chủ tâm làm cuộc nghiên cứu toàn diện so sánh Việt Nam với một nước khác. Điều này ngoài khả năng của tôi, và muốn làm như vậy, tất nhiên phải so sánh giữa hai nước có dân số, lãnh thổ, tài nguyên tương đương...

Tuy nhiên, giữa Singapore và Việt Nam cũng có những điểm giống nhau, khiến việc so sánh có ý nghĩa, nhất là giai đoạn tranh đấu giành chủ quyền và xây dựng đất nước sau khi độc lập. Trước Đệ nhị Thế chiến, cả Việt Nam và Singapore đều bị ngoại bang đô hộ, cùng bị Nhật chiếm vào đầu thập niên 40, cùng được độc lập sau chiến tranh, cùng có tranh quyền giữa phe cộng sản và không cộng sản...

Nhưng 60 năm sau, quan sát lễ độc lập của hai nước, thấy khác nhau quá nhiều. Hai điều nổi bật tôi không thể bỏ qua: Một bên, nhà lãnh đạo toàn nói chuyện anh hùng, và hô hào tiếp tục truyền thống anh hùng, trong khi đa số dân chúng có mức sống thấp, đến nỗi, dù theo thành tích nhà nước đem khoe với thế giới, hơn hai gia đình mới có nổi một hố xí hợp vệ sinh. Bên kia, nhà lãnh đạo đầy khiêm tốn, hô hào dân chúng ráng học hỏi, cố gắng bắt kịp sự thay đổi của thế giới, để khỏi bị đào thải trong tương lai, trong khi dân chúng có mức sống cao, chẳng những có thừa nhà vệ sinh tiện nghi, còn có của ăn của để. Từ nhận xét này, khiến tôi đi tới kết luận là tập đoàn lãnh đạo Việt Nam đã mắc một căn bệnh bất trị, là “bệnh anh hùng”. Trọng tâm bài viết chỉ có thế. Tất cả các chi tiết khác đều là nền.

Bây giờ, xin trao đổi cùng ông Đỗ Kh. qua những thắc mắc ông đã nêu ra.

Ông cho rằng Singapore đất hẹp, không tài nguyên thiên nhiên và phải dùng tới 4 ngôn ngữ chính “là những điều kiện hơn Việt Nam chứ không phải là kém”. Tôi vẫn nghĩ đó là những điều kiện kém. Một nước có lãnh thổ rộng, tất nhiên có lợi thế và dễ xoay xở hơn bị gò bó trong một diện tích quá chật hẹp. Chắc ông nhớ câu “bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”. Lãnh thổ rộng mênh mông như Trung Quốc, mà còn cố chèn ép người anh em anh hùng ở phương Nam để kiếm thêm chút đất, điều đó chứng tỏ đất quý lắm chứ. Về tài nguyên thiên nhiên cũng vậy, có nhiều vẫn hơn, chứ không thể kém. Nếu Singapore cũng ngồi xổm trên mỏ dầu như Brunei mà trở thành giầu có, đâu có lạ gì. Về ngôn ngữ, một dân tộc ngoài ngôn ngữ chính để hiểu được nhau, nếu biết thêm càng nhiều ngôn ngữ khác, càng có lợi. Nhưng nếu phải dùng nhiều ngôn ngữ chính, tôi nghĩ đó là điều bất lợi. Ví dụ, ông Lý Hiển Long phải bỏ ra hai tiếng rưỡi cho một bài diễn văn bằng ba thứ tiếng, ông Trần Đức Lương chỉ cần chừng một tiếng cho một bài diễn văn dài tương tự bằng tiếng Việt.

Về phần ông Đỗ Kh. nêu ra một số địa điểm để so sánh với Singapore, như Hong Kong, Bermuda, Monaco, Andora, Liechtenstein, San Marino, Dubai, Grand Cayman, Gibraltar, Luxemburg, tôi thấy không ổn, vì những nơi này khác với Singapore hoặc về quy chế, hoặc địa thế, chủng tộc, lịch sử... Nhất là càng không thể so sánh Singapore với Vatican. Chắc ông cũng biết Vatican là nước duy nhất trên thế giới không có rạp xi nê, tiệm nhảy, bia ôm, tắm hơi; không có Tiffany, Vuitton, Cartier.., cũng không có tiệm bán quần áo và đồ chơi trẻ em. Một nước như vậy, dù không nhờ phép lạ, cũng “giầu sang mấy hồi”. Giầu ở đời này, và cả đời sau.

Ông Đỗ Kh. nói tới địa thế thuận lợi của Singapore trên đường giao thông quốc tế. Địa thế Việt Nam cũng chẳng kém bao nhiêu, còn hơn Singapore về số lượng hải cảng. Ngoài Sài Gòn và Hải Phòng, còn được Mỹ cúng cho hải cảng Cam Ranh, có thể dùng cả cho nước Ai Lao. Hồi ở Singapore, tôi được đọc một bài báo trên tờ The Straits Times, nói về một người Singapore sang Việt Nam đầu tư, lập hệ thống bốc thùng chứa (container) tại cảng Sài Gòn, một loại thiết bị rất cần cho tầu buôn quốc tế. Ông này mất cả năm vẫn không thể hoàn tất thủ tục xin phép, đã định cuốn gói về nước. Cuối cùng, nhờ có bà vợ Việt Nam, biết cách chạy chọt mánh mung, mới khai thông được bế tắc. Ông rể Việt Nam này đã trở thành siêu triệu phú. Nếu Singapore cũng phát triển kiểu Việt Nam, làm gì có đủ đàn bà để khai thông bế tắc.

Ngoài ra, tôi cảm thấy không theo kịp những chữ “nếu” của ông Đỗ Kh. Ông giả định “nếu khu vực chung quanh Hồ Tây ở Hà Nội là một nước độc lập”. Bây giờ tôi cũng nói “nếu Manhattan”, “nếu Los Angeles và phụ cận Beverly Hills” là những quốc gia độc lập, câu chuyện sẽ không bao giờ cùng. Ông còn nói tới những cung cách làm giầu như “ăn chơi sòng bài, ngân hàng chuyên giữ tiền xuất xứ không được rõ”, chính vì thế tôi mới nói không nên so sánh Monaco và Liechtenstein với Singapore, vì ở đây chưa có dịch vụ sòng bài (tôi nói chưa, vì có thể có trong tương lai), và vì không phải là nơi rửa tiền nên dù đất hẹp, cửa ngân hàng cũng không đến nỗi phải mở he hé.

Về chuyện nợ nần ở Mỹ, vì ông Đỗ Kh. chỉ đưa ra mấy con số so sánh cho vui, tôi cũng chỉ đưa ra một thí dụ cho vui: Một người Việt Nam tị nạn tới Mỹ với hai bàn tay trắng, không nợ nần ai cả. Năm năm sau, dành dụm mua được căn nhà nửa triệu Mỹ kim, mắc nợ 300 ngàn. Nếu nói người này nghèo hơn khi mới sang, có vẻ không thuận tai.

Ông Đỗ Kh. nói “Nếu phải luận anh hùng, thì nên so sánh Việt Nam với Nam Dương, Phi Luật Tân, Mã Lai, Thái Lan, Miến Điện...” Lại “nếu” nữa! Khổ quá! Nếu Việt Nam không mắc bệnh anh hùng thì đâu cần so sánh với ai. Ông Đỗ Kh. là người tỏ ra thông suốt tình hình, nắm vững thống kê, mà đem Mã Lai, Thái Lan bỏ chung một giỏ với ba nước kia, tôi sợ thiếu công bằng. BBC vừa có phóng sự về vụ các công dân anh hùng của Việt Nam phải chạy chọt mỗi người ba chục triệu tiền Bác Hồ, làm thủ tục đầu tiên để được gửi qua Mã Lai làm cu li. Tôi cũng được biết có nhà lãnh đạo Việt Nam đã mơ ước có thể bắt kịp Thái Lan trong mười năm. Cứ làm như người ta đứng yên một chỗ đợi mình như đợi người yêu.

Như đã trình bầy, tôi không làm công việc “luận anh hùng”, là việc tìm hiểu ai anh hùng, ai không. Chẳng những không phủ nhận danh hiệu “Việt Nam anh hùng”, tôi còn thấy rằng “anh hùng” đã trở thành nỗi ám ảnh thường trực, một căn bệnh bất trị của Việt Nam. Tôi nghĩ rằng, một là Bộ Chính trị Đảng Cộng sản đã mắc bệnh anh hùng trong khi họ nắm độc quyền lãnh đạo, nên đã hướng dẫn Việt Nam đi sai đường, giống như người say rượu lái xe, khó tránh khỏi tai nạn. Hai là tập đoàn cai trị vẫn tỉnh táo, nhưng họ đã dùng “bả anh hùng” để lôi kéo dân chúng trong ý đồ thực hiện “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang” (lời ông Trần Đức Lương). Mắc bệnh anh hùng là đáng thương, nhưng nhẫn tâm sử dụng bả anh hùng, là phạm trọng tội với dân, với nước.

Trong chú thích số 6, ông Đỗ Kh. viết những nước trên đây “Đều là những nước không có cộng sản nên so sánh rất tiện”. Ông lại hiểu lầm tôi nữa. Tôi không so sánh cộng sản với không cộng sản. Cũng không nói rằng hễ cộng sản là xấu và mọi nước không cộng sản đều tốt. Độc tài quân phiệt cũng tệ như độc tài cộng sản, tại sao cần so sánh Miến Điện với Việt Nam? Nếu đọc cuốn Leaders (Lãnh tụ) của cố tổng thống Richard Nixon do Warner Books xuất bản năm 1982, ông hiểu tại sao tôi không so sánh Nam Dương với Việt Nam. Người đóng vai trò giống ông Hồ Chí Minh ở Việt Nam tại Nam Dương, là ông Sukarno. Ông Nixon đã nhận xét về ông Sukarno như sau:

“Sợ hãi và hận thù là sức mạnh; mị dân có thể vận dụng các sức mạnh này. Hy vọng cũng là một sức mạnh, và mị dân là tài khéo để nâng lên niềm hy vọng giả tạo, hầu lèo lái những người đang khao khát tin tưởng, đầu tư tương lai của mình vào chuyện hoang đường. Ông Sukarno có một chương trình – thoát khỏi ách thuộc địa – và ông tạo sự lôi cuốn quanh điều này. Ngoài ra, sự cai trị của ông là tai họa cho dân Nam Dương. Nhưng ông nắm được họ, một phần vì mãnh lực tình cảm của chữ “Merdeka” (độc lập), một phần vì hấp lực từ con người và tài hùng biện của ông, phần khác do dáng vẻ hiên ngang của ông đã thu hút được những người sùng bái anh hùng” (tr. 269).

Lại anh hùng! Chuyện Nam Dương mà nghe quen thuộc như ở Việt Nam, còn so sánh làm gì nữa? Hết Sukarno, tới 32 năm độc tài quân phiệt Suharto, cũng như Việt Nam, nhân dân Nam Dương làm sao ngóc đầu lên được. Bây giờ Nam Dương đã có chút tự do dân chủ, nhưng một dân tộc bị kìm hãm trên nửa thế kỷ, làm sao có thể phát triển trong vài năm.

Về trường hợp Phi Luật Tân, có thể nói bao nhiêu những điều tốt đẹp do cố tổng thống Ramon Magsaysay làm được, đã bị Ferdinand Marcos phá nát trong hơn 20 năm cầm quyền, chính vào thời gian Singapore xây dựng và phát triển (1965-1986). Vì tham quyền cố vị, Marcos đã sửa hiến pháp để ngồi lại. Đến khi bị phản đối, khởi sự độc tài, cai trị bằng lệnh thiết quân luật, bắt chước Suharto ở Nam Dương. Quyền hành tuyệt đối đẻ ra tham nhũng tuyệt đối: Theo cơ quan Minh bạch Quốc tế (Transparency International), Suharto và Marcos là hai nguyên thủ quốc gia tham nhũng hạng nhất và hạng nhì trên thế giới. Kết quả ngày nay Phi có 7 triệu người đi làm thuê khắp thiên hạ. Nếu vẫn muốn so sánh, hãy coi như một bài học: Việt Nam nếu không thay đổi gấp, sẽ không theo kịp cả Nam Dương lẫn Phi Luật Tân.

Ông Đỗ Kh. nói tôi không đề cập tới mặt nhân quyền tại Singapore. Đúng thế, vì đó không phải là trọng tâm của bài viết. Nhưng khi nói Singapore đứng xấp xỉ dưới thấp với Việt Nam về mặt này, ông lại không đề cập tới bảng liệt kê thứ bậc tham nhũng của cơ quan Minh bạch Quốc tế, theo đó, trong số 146 nước, Singapore đứng hạng 5 (hơn cựu mẫu quốc Anh tới 6 bậc), Việt Nam đứng hạng 102 cùng với Phi Luật Tân, Eritrea, Papua, New Guinea, Uganda và Zambia.

Ông Đỗ Kh. viết: “Ông Lee Kuan Yew là người được nhà cầm quyền nước ta ngưỡng mộ ngang với lại tác giả Đinh Từ Thức”. Tôi không hề viết là “ngưỡng mộ” ông Lý Quang Diệu này, dù rằng được ông Đỗ Kh. viết hộ như thế cũng không có gì đáng xấu hổ. Nhưng ông xếp chung “nhà cầm quyền nước ta” với tôi là điều vô lý. Ông thừa biết những người cầm quyền ở Việt Nam và tôi hoàn toàn khác nhau. Họ theo đuổi “chủ nghĩa anh hùng”; dù hơn nửa nước không có hố xí hợp vệ sinh, vẫn một lòng “nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc”. Tôi đã phải mở Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức do Khai Trí xuất bản, để tra nghĩa hai chữ “tự tôn”: Thấy mình cao sang hơn người, tài giỏi hơn người, một cử chỉ chủ quan.

Sợ “tự điển Ngụy” khác với định nghĩa của Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương, tôi lại tra Từ điển tiếng Việt của Phan Canh, NXB Mũi Cà Mâu, cũng thấy ghi: “Tự tôn: Tự nâng giá trị của mình lên”.

Còn về phần tôi, chỉ mong một cuộc sống bình thường, có đủ cơm ăn, áo mặc. Nếu cần hy sinh, có thể nhịn cơm hay ở trần (vào mùa Hè), nhưng không thể nhịn vào nhà cầu hợp vệ sinh. Thỉnh thoảng vẫn có người biểu tình tuyệt thực để chống cộng sản độc tài, hay chống chiến tranh Iraq. Tôi đố quý vị nào có thể tranh đấu bằng cách “tuyệt cầu”! Tóm lại, tôi không muốn làm “anh hùng ỉa đồng”!

Vậy, xin ông Đỗ Kh. làm ơn điều chỉnh lại bài viết của mình. Đến đây, để cho giản tiện, ta cứ tạm cho rằng Singapore cũng độc tài như Việt Nam. Căn cứ vào những điều đã trình bầy: Một đàng độc tài để làm sạch sẽ đất nước về mọi phương diện, một đàng độc tài để làm bẩn đất nước về mọi phương diện. Đã rõ ràng như vậy, chẳng lẽ tôi phải ngưỡng mộ các nhà lãnh đạo Việt Nam?

Ông Đỗ Kh. lý luận rằng, trong lễ Độc Lập ở Singapore người ta không ca tụng ông Lý Quang Diệu, bởi vì ông này vẫn còn sờ sờ. Ông Hồ Chí Minh đâu có đợi đến lúc chết mới được ca tụng. Ngay khi còn sống, mặc dầu hình tượng tràn ngập khắp nơi, chính “Bác” vẫn cảm thấy chưa đủ, phải lấy bút hiệu Trần Dân Tiên, viết sách tự ca tụng mình. Lần đầu tiên tới Singapore, tôi ngạc nhiên không thấy người ta trưng bầy hay bán hình tượng ông Lý Quang Diệu. Khi hỏi thăm, được biết đã có người đặt vấn đề dựng đài kỷ niệm, nhưng ông Lý gạt đi, nói rằng, cả Singapore đã là đài kỷ niệm rồi, hà tất phải dựng thêm. Tôi vẫn chưa thể quyết đoán đây là lời nói khiêm nhường, hay tự kiêu. Nhưng nghĩ rằng, đến khi ông Lý “mãn nhiệm kỳ”, Singapore không đến nỗi trơ trẽn, tự đổi tên thành “Republic of Lee Kuan Yew”.

Tôi cũng biết những chức vụ kỳ cục như Minister Mentor (MM), và Senior Minister (SM). Trong thời gian tôi ở Singapore, ngoài lễ Độc Lập, còn có lễ tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ nhì của Tổng thống S R Nathan. Hiến pháp quy định toàn dân bầu tổng thống. Ông Nathan đã hai lần đắc cử, nhưng chưa bao giờ phải tranh cử, vì cả hai cuộc bầu cử chỉ có mình ông được chấp nhận là ứng cử viên có đủ điều kiện. Dầu sao, Singapore cũng thực tế hơn ông Nguyễn Văn Thiệu. Đã độc cử còn bầu bán làm chi cho rắc rối và tốn kém. Nếu Việt Nam có Quốc hội “Đảng cử dân bầu”, Singapore có Tổng thống “tự cử miễn bầu”. Đó là lý do tôi không thích bị dán cho nhãn hiệu “ngưỡng mộ” ông Lý Quang Diệu.

Sau hết, không hiểu thời ông Đỗ Kh. ở Singapore, tự do thông tin bị giới hạn như thế nào, riêng tôi không hề gặp bất cứ trở ngại nào. Qua TV, có thể theo dõi tin tức khắp nơi nhờ CNN và BBC. Qua Internet, có thể đọc tất cả các báo lớn bên Mỹ, kể cả Wall Street Journal, không hề phải đối phó với vấn đề “tường lửa”. Nói đến tường lửa, khiến tôi nhớ đến cuộc phỏng vấn mới đây ông Đỗ Quý Doãn, Thứ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin dành cho phái viên BBC. Được hỏi về nguồn tin mạng talawas bị ngăn chặn, ông nói “Việt Nam không hề ngăn chặn báo điện tử ra ở nước ngoài”. Trong khi ấy trên Tạp chí Thông tin Công tác Tư tưởng Lý luận, tất nhiên là một trong những cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong số tháng 10-2005, Tiến sĩ Bùi Thế Đức đưa ra một số đề nghị để đối phó với tình thế hiện hành. Sau đây là nguyên văn đề nghị thứ 9:

“Để công tác tuyên truyền có hiệu quả cần hiện đại hóa các phương tiện, công cụ để vô hiệu hóa các đài phát thanh của địch tiến hành chiến tranh tâm lý phát vào ta, tạo dựng được “bức tường lửa” để hạn chế tối đa các tài liệu trên mạng Internet có nội dung xấu, nhất là vu khống, xuyên tạc ta vi phạm dân chủ, nhân quyền; phủ sóng những “vùng lõm” về phát thanh, truyền hình ở vùng sâu, vùng xa... để đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và không tin vào những lời dối trá, mị dân của các thế lực thù địch”.

Tôi có cảm tưởng Việt Nam vẫn cố đi ngược chiều thời gian. Một trăm năm mươi năm trước, trong khi Nhật Bản mở cửa giao thiệp với phương Tây để canh tân đất nước, triều đình Việt Nam và nhiều người trong giới sĩ phu chủ trương bế môn tỏa cảng, nhất định không chịu giao thiệp với bọn bạch quỷ. Bây giờ, trong khi thế giới phát triển toàn cầu hóa, nhà nước và mấy ông “sĩ phu đỏ” chủ trương lập tường lửa để ngăn chặn các thế lực thù địch.

© 2005 talawas