QUẢNG CHÂU, Trung Quốc – Ít có nhà quản trị thương nghiệp nào lại quan sát sự phát triển của kinh tế Trung Quốc một cách chặt chẽ như ông Michael R. P. Smith, nhân vật cầm đầu ngành chấp hành của Công ty Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải.
Vậy mà ngay cả ông Smith cũng phải sửng sốt ngạc nhiên khi gần đây nhân viên của ông dự đoán rằng vào năm 2034, các tài sản ngân hàng ở Trung Quốc sẽ vượt qua các tài sản ngân hàng ở Hoa Kỳ.
“Khi nhìn bản dự đoán ấy, tôi tự bảo ‘chuyện này không thể nào mà đúng cho được’ và tôi quay lại với mấy ông kinh tế gia”, thì họ đều xác nhận dự đoán ấy, ông Smith kể lại.
Rất nhiều cảm giác ngạc nhiên như thế đang bất ngờ xẩy ra trong kỹ nghệ này đến kỹ nghệ khác, từ nước này sang nước khác. Từ thép đến dầu lửa, từ xe hơi đến thẻ tín chỉ, Trung Quốc đều đang lơ lửng trong vị trí trở thành quốc gia sản xuất và thị trường lớn nhất toàn thế giới về rất nhiều mặt hàng và dịch vụ.
Ðiều đang xẩy ra là Trung Quốc đã trở thành một nỗi kinh hoàng cho nhiều nhà quản trị thương nghiệp nước ngoài và là sự hấp dẫn đối với nhiều người khác – mà đôi khi vừa gây kinh hoàng lại vừa hấp dẫn cùng một lúc – tùy theo cách họ nhìn quốc gia này như một đối thủ cạnh tranh, một nguồn cung cấp rẻ tiền, một thị trường tiêu thụ, hay cả ba.
Những công ty trong khắp các ngành kỹ nghệ đều đang phải đối diện với một áp lực khổng lồ: Hoặc phải điều chỉnh giá cả cho thích hợp với giá ở Trung Quốc, hoặc mất hết khách hàng. Ðiều ấy có nghĩa là phải giảm giá rất sâu đậm, phải sụt xuống từ 25 đến 50 phần trăm, dẫn đến nhiều trường hợp cắt giảm việc làm, cắt bớt sản xuất, hoặc ngay cả đóng cửa. Nhưng đồng thời, các công ty Mỹ và Âu Châu lại đang hưởng lợi trong việc sử dụng lực lượng lao động lớn lao và rẻ tiền của Trung Quốc bằng cách chuyển sang Trung Quốc một số hoạt động của họ – và trong việc bán các sản phẩm của họ cho một quốc gia mà vai trò của người tiêu thụ đang tiếp tục gia tăng.
Hiện nay Trung Quốc đã là quốc gia sử dụng thép và xi măng nhiều nhất thế giới và đang lơ lửng vượt qua Hoa Kỳ về mức tiêu thụ tất cả mọi thứ, từ đồng đến đậu nành. Tất cả các mặt hàng này đều cần thiết cho một nền kinh tế phát triển nhanh chóng với việc xây cất rất nhiều xa lộ, nhà máy và cao ốc làm văn phòng – và việc nuôi ăn cho 1.3 tỉ miệng người.
Trung Quốc đã trở thành thị trường lớn nhất thế giới về máy điện thoại di động, và đang đuổi bắt Ðức và Nhật về thị trường xe hơi, mặc dù hãy còn đi sau Hoa Kỳ một cách đáng kể trong sở thích sử dụng xe hơi mới.
Những thương nghiệp hiện đang thu lợi nhiều nhất gồm có các công ty cung cấp cho nhu cầu hạ tầng cơ sở của Trung Quốc, như công ty General Electric, là công ty bán các loại máy lớn và các động cơ máy bay cho Trung Quốc. Hiện nay G.E. đang chở sang Trung Quốc mỗi năm một số lượng 3.5 tỉ mỹ kim hàng hóa từ các nước khác, phần lớn từ Hoa Kỳ, trong khi xuất cảng 2 tỉ mỹ kim hàng hóa từ Trung Quốc, phần lớn đi Hoa Kỳ.
Nhưng các công ty như G.E. đều là ngoại lệ. Hàng nhập cảng từ Trung Quốc vào Mỹ cao hơn gấp năm lần trị giá hàng Mỹ xuất cảng sang Trung Quốc, vào lúc các hệ thống cửa hàng bán lẻ như Wal-Mart đang mua những số lượng hàng hóa khổng lồ từ Trung Quốc và số lượng hàng hóa này vẫn đang tiếp tục gia tăng. Với số người đông đảo bằng cả toàn thể thế giới các nước kỹ nghệ hóa gộp lại, Trung Quốc hiện đang có hàng chục triệu công nhân không tay nghề sẵn sàng làm việc với số lương chưa đầy 100 đô la một tháng.
Trong kỳ tranh cử sơ bộ của đảng Dân Chủ vào năm nay, Thượng Nghị sĩ John Kerry từng nhiều lần lên án “những tay quản trị thương nghiệp phản bội”
[1] đã đưa công việc làm ra nước ngoài. Nhận định ấy gây nhiều phản đối mạnh mẽ trong cộng đồng thương nghiệp, kể cả những người lãnh đạo thương nghiệp Dân Chủ, và trong cuộc vận động bầu cử Tổng thống, những lời bình luận của ông Kerry về thương mại đã tương đối được chế ngự lại.
Ðã có rất nhiều nhà quản trị thương nghiệp đặt câu hỏi rằng mức khiếm hụt lớn lao trong chênh lệch thương mại Mỹ sẽ kéo dài bao lâu và chuyện chuyển việc làm ra nước ngoài sẽ tiếp tục dai dẳng trong bao lâu mà không trở thành một đề tài phản đối mạnh mẽ trong dân chúng Mỹ, những người nói là công nhân nước ngoài đang lấy mất công việc làm của họ.
“Tạm cho là Trung Quốc đã thông qua được kỳ vận động tranh cử này, nhưng có lẽ sẽ không mãi mãi như thế”, ông Benjamin W. Heineman Jr., phó chủ tịch đặc trách các vấn đề quan hệ đến luật pháp và công chúng của công ty G.E. phát biểu.
Quan hệ giữa Trung Quốc với Liên hiệp Âu Châu, một thị trường xuất cảng lớn lao khác, lại còn tinh tế và khó tiên đoán hơn. Những nghiệp đoàn mạnh mẽ ở Âu Châu có thể áp lực để buộc giới hạn hàng xuất cảng của Trung Quốc, như họ đã từng áp lực để thắt chặt việc hạn chế xe hơi Nhật xuất cảng trong thập niên 1980 và 1990.
“Tôi cảm thấy hết sức u ám cho Âu Châu – cho những nước kỹ nghệ lớn như Ðức, Ý và Pháp”, ông Frank-Jürgen Richter, chủ tịch Horasis, một công ty tư vấn ở Geneva, phát biểu. “Làm thế nào có thể duy trì được sự phát triển trong các nước này nếu tất cả mọi thứ đều cứ chuyển sang Trung Quốc?”
Giống như Nhật Bản vào thời thập niên 1950 đến thập niên 1980, Trung Quốc đã chứng tỏ rằng một quốc gia có thể chống đỡ để kéo dài được những tỉ số phát triển cao trong nhiều năm bằng cách kết hợp sự làm việc triệt để với một hệ thống tài chánh khép kín, hệ thống này chuyển tất cả những món tiền tiết kiệm lớn của các gia đình vào nhiều dự án kỹ nghệ không đếm xuể và vào những công cuộc kinh doanh mà một phần là do các viên chức chính quyền đã lựa chọn.
Tình trạng đình đốn trì trệ của Nhật Bản từ đầu thập niên 1990 đến nay cho thấy là những chính sách như thế có thể có những mặt hạn chế. Việc dự đoán khi nào Trung Quốc có thể vấp phải một bức tường như thế đã trở thành một dư luận mà nhiều người đồn đãi. Ðiều này đặc biệt đúng vào năm ngoái, khi Bắc Kinh áp dụng các biện pháp khá nghiêm ngặt trong việc vay tiền ngân hàng. Chính phủ Trung Quốc đã nâng cao những quy định trữ kim trong ngân hàng lên gấp ba và tăng cao các tiêu chuẩn tỷ lệ tiền lời cho các khoản vay ngân hàng và ký thác vào ngân hàng, để phản ứng lại bằng chứng cho thấy nền kinh tế này có thể đã bị nóng quá mức.
Giá cả những mặt hàng kỹ nghệ như thép đã leo thang trên khắp thế giới, mà lý do chính là vì sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc, chúng đã gây ra nhiều báo động cho các nhà sản xuất trong khắp nước Trung Quốc. Bà Tân Ngọc Muội, quản lý xuất cảng của hãng Kim khí và Khoáng sản Dương Tuyền tại tỉnh Sơn Tây, trung bộ Trung Quốc, nói giá thép để chế tạo kéo và dao nhíp của công ty bà đã nhẩy lên gần 20 phần trăm vào năm ngoái.
“Giá thép tăng, chẳng bao lâu tôi cũng phải tăng giá sản phẩm của chúng tôi”, bà nói.
Trong mỗi việc lượng định giá cả, một câu hỏi đang lờ mờ nhô lên là liệu sự cạnh tranh của Trung Quốc có thể còn lên đến bao nhiêu nữa trên toàn cầu, nếu kinh tế nội địa Trung Quốc đi chậm lại, Trung Quốc sẽ bán thốc ra thêm rất nhiều mặt hàng xuất cảng với giá còn rẻ hơn hết từ trước đến nay, trong khi cắt giảm bớt đi nhu cầu nhập cảng.
Hầu hết các nhà quản trị thương nghiệp đều nói họ chưa nhìn thấy dấu hiệu ấy, tuy nhiên họ vẫn phải thận trọng. “Chúng tôi không nhìn thấy nguy cơ của một vụ sụp đổ lớn lao có thể làm cho họ xuất cảng ra những khối lượng hàng hóa khổng lồ”, ông Nicholas Tolerico, chủ tịch Thyssen Krupp, một đại công ty thép của Ðức, phát biểu. Tuy nhiên ông vẫn cảnh giác rằng “Nếu có tình trạng suy thoái xẩy ra, ngay cả một tình trạng suy thoái nhẹ, thì có lẽ điều đầu tiên là sẽ có sự điều chỉnh số lượng mà họ nhập cảng.”
Những nỗi lo ngại về một vụ sụp đổ sâu sắc có thể xẩy ra tiếp theo việc phát triển nở rộ gần đây của kinh tế Trung Quốc đã lui bước đáng kể vào mùa xuân qua, khi những chuyến tầu phải chờ đợi đến cả tháng để bốc hàng ra ở những hải cảng tắc nghẽn tại Trung Quốc, và nhiều kinh tế gia Tây Phương đã tiên đoán rằng Bắc Kinh sẽ áp dụng những biện pháp khắc nghiệt để ngăn ngừa một vụ lạm phát xoáy trôn ốc.
Nhưng một số chuyên gia lưu ý rằng tình trạng mất cân bằng lớn nhất trong kinh tế Trung Quốc – là sự kiện mà hầu hết đà phát triển của Trung Quốc tùy thuộc vào những chi phí xây cất thường có tính suy đoán để đầu cơ – có thể sẽ không kéo dài. Trong một bản tham luận mới, các ông Morris Goldstein và Nicholas R. Lardy, hai chuyên gia thuộc Viện Quốc tế về Kinh tế Quốc tế, khẳng định rằng thay vì sẽ “hạ cánh êm ả” hoặc “hạ cánh khốc liệt”, có thể Trung Quốc sẽ đi đến một vụ “hạ cánh kéo dài”, trong đó một đà phát triển kinh tế chậm chạp hơn có thể sẽ kéo dài nhiều năm, một ít cao ốc chung cư và cao ốc văn phòng vẫn sẽ được xây cất thêm cho đến khi các cao ốc vừa xây gần đây được vào chiếm ngụ và sử dụng hoàn toàn.
Trung Quốc đã trải qua kinh nghiệm của một đà phát triển chậm hơn vào thời giữa thập niên 1990, trong lúc vật lộn với những ảnh hưởng của một cơn điên cuồng về xây cất đã lên đến tuyệt đỉnh hồi năm 1993. Nhưng Trung Quốc đã hoàn toàn bình phục sau vụ ấy. Những người lạc quan lưu ý rằng một năng lực kinh doanh đã từ lâu nở rộ và đã từng là một thành phần trong văn hóa của các cộng đồng người Hoa hải ngoại, giờ đây năng lực ấy đã phối hợp với toàn bộ sức mạnh của lục địa Trung Quốc, đưa đến những cải thiện về sản xuất mà người ta vẫn đang còn cảm thấy được.
Một trong những người kinh doanh ấy là cô Trần Thần Muội, người mà mười năm trước đã khởi sự làm dây giầy tại nhà ở Ôn Châu bằng một cái máy trị giá 50 mỹ kim, và tự đi giao hàng cho các hãng giầy bằng xe đạp. Giờ đây, cô và gia đình đã sở hữu một xưởng chế tạo dây giầy nhỏ, đã thuê một cái xe hơi và một người tài xế đi giao hàng cho các hãng, và làm chủ một gian hàng trong ngôi chợ bán sỉ giầy dép tại đây.
Vào một buổi sáng gần đây, dây giầy đủ mầu sắc, đủ kích thước, từ dây giầy bốt mầu nâu đến dây giầy ten nít mầu hồng, đã chất đầy đến tận nóc gian hàng. Tuy thế, cô họ Trần vẫn đi một đôi giầy ten nít rẻ tiền với những sợi dây giầy trắng lôi thôi, sờn rách.
Tiết kiệm là điều quan trọng để giữ cho nhà máy phát triển, và thỉnh thoảng là để cho các thân nhân vay mượn mà khởi sự công việc làm ăn riêng của họ, cô cho biết, và nói thêm rằng “tiền bạc lưu thông chung quanh các thân nhân trong gia tộc.”
Một câu hỏi lớn nhất đang treo lơ lửng trên nước Trung Quốc là sự ổn định chính trị của nước này. Các sử gia lưu ý rằng giờ đây sự thịnh vượng tại Trung Quốc đang xẩy ra đồng thời và trùng hợp với gần ba thập niên mà xã hội và chính trị được ổn định nhất trong hơn một thế kỷ của Trung Quốc.
Sự ổn định ấy kéo dài bao nhiêu lâu, đó sẽ là sự dự đoán của tất cả mọi người. Một vấn đề lớn của Trung Quốc là làm thế nào giải quyết cái khoảng cách sâu đậm về lợi tức giữa dân thành thị và dân nông thôn. Trong năm nay ở các quốc gia khắp vùng Á Châu, cử tri đều đã biểu lộ mối quan tâm đáng kể – không phải chỉ về việc mở rộng sản lượng kinh tế – mà về việc phân phối các thành quả đạt được như thế nào.
“Trong tất cả các quốc gia này, bản phán quyết của cử tri là phải tăng cường việc bao gồm họ vào trong sự phát triển”, ông Ifzal Ali, người cầm đầu các kinh tế gia trong Ngân hàng Phát triển Á Châu, phát biểu.
Tại Trung Quốc, một quốc gia độc đảng, không cho phép bầu cử tự do, nhưng về nhiều mặt thì công luận vẫn đáng kể. Hồ Cẩm Ðào, lãnh tụ Đảng Cộng sản trong hai năm qua, và là chủ tịch Trung Quốc từ đầu năm ngoái đến nay, đã tiến hành một số biện pháp để cải thiện cuộc sống của người nghèo tại Trung Quốc.
Việc để cho giá thực phẩm được tăng vọt lên đã giúp đỡ đáng kể, trong lúc nông dân thu được nhiều tiền hơn cho hoa mầu của họ. Chính phủ Trung Quốc cũng đã cố cải thiện sự an toàn cho công nhân. Nhiều vụ phản đối nhỏ đã nổi lên như bong bóng tại nhiều thành phố Trung Quốc, thường là về việc không được trả tiền công sá, nhưng chưa có một dấu hiệu nào cho thấy chúng sẽ lan rộng để trở thành một vấn đề toàn quốc.
Các nhà quản trị công ty, các chính khách và kinh tế gia nói chung đều đồng ý rằng nếu Trung Quốc mà bị đảo nghịch sâu sắc về kinh tế, thì các kết quả sẽ rất nghiêm trọng – cả trong nước Trung Quốc lẫn các nước ở cách biên giới Trung Quốc rất xa. Một vụ suy thoái xẩy ra sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp gay gắt, những bất ổn xã hội và chính trị khốc liệt và một vụ di cư trên kích thước rộng lớn. Ảnh hưởng cũng còn có thể bao gồm cả những sụp đổ trong các thị trường tài chánh và hàng hóa nếu nhu cầu mua hàng nước ngoài của Trung Quốc khô kiệt và nếu Trung Quốc đổ tháo những mặt hàng không cần thiết ra các thị trường thế giới.
Vào thời giữa thập niên 1990, Tây Âu đã từng giúp duy trì sự ổn định của nước Nga bằng cách bơm vào những khoản tiền viện trợ tài chánh lớn lao, nhưng kinh tế và dân số Trung Quốc lại lớn hơn rất nhiều, thế giới bên ngoài sẽ không thể nào cung cấp được sự trợ giúp lớn đến thế, ông P. Christian Hauswedell, nhà ngoại giao hàng đầu của Ðức phụ trách Vụ Á Châu Thái Bình Dương, phát biểu.
“Chỉ nghĩ đến chuyện công cuộc hiện đại hóa này mà thất bại thì tất cả chúng ta đều ớn lạnh”, ông nói. “Chúng ta sẽ không có khả năng để yểm trợ được cho Trung Quốc nếu nước này thất bại.”
(New York Times)
[1]“Những tay quản trị thương nghiệp phản bội”: dịch thoát sang Việt ngữ nguyên văn cụm từ mà Thượng Nghị sĩ John Kerry sử dụng là “Benedict Arnold C.E.O’s”. Benedict Arnold (1741-1801) là quân nhân và chiến lược gia Hoa Kỳ, vào thời Cách mạng Mỹ từng âm mưu phản bội để bán đứng vị trí chiến lược West Point cho Anh, sau đó đã chạy sang hàng ngũ quân Anh. Nói chung, Benedict Arnold thường được người Mỹ đề cập đến như một kẻ phản bội hàng ngũ Mỹ.