[1]
[2]
Từ khi công cuộc cải cách được đề xướng năm 1978, giai cấp công nhân Trung Quốc đã và đang đóng một vai trò thiết yếu trong sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội diễn ra trên đất nước. Hiện nay, công nhân đang gánh vác trách nhiệm tạo ra 72,1% tổng sản lượng quốc nội (GDP) của Trung Quốc.
Năm 1978, Trung Quốc có 120 triệu công nhân. Đến năm 2000, chúng ta đã có 270 triệu. Nếu tính đến 70 triệu nông dân đã di chuyển ra thành thị và kiếm được việc làm dài hạn, giai cấp công nhân Trung Quốc hiện nay có số lượng xấp xỉ 350 triệu người, tương ứng với một nửa lực lượng lao động hiện nay ở Trung Quốc
[3] .
Trình độ văn hoá, khoa học và kỹ thuật của giai cấp công nhân đã được cải thiện; mức sống của phần lớn công nhân cũng đã được nâng lên
[4] .
Từ khi bắt đầu cải cách hơn 20 năm về trước, giai cấp công nhân — đặc biệt là công nhân công nghiệp — đã trải qua những biến đổi to lớn.
I. Trở thành giai cấp làm thuê
Hiện nay chúng ta đang có hơn 100 triệu công nhân làm việc trong khu vực ngoài quốc doanh. Đại hội Đảng lần thứ 13 đã xác định rằng công nhân làm công trong các doanh nghiệp tư nhân là lao động làm thuê
[5] .
Thế còn các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước (DNNN) thì sao? Các doanh nghiệp thuộc diện này đang được chuyển đổi theo công thức: “nhỏ và vừa thì bán đi, lớn thì cổ phần hoá”. Một phần trong số những DNNN nhỏ và vừa được bán cho tư nhân, chuyển thành các doanh nghiệp tư nhân; đối với số doanh nghiệp (nhỏ và vừa) còn lại, quyền sở hữu một số lượng lớn cổ phiếu của mỗi xí nghiệp sẽ được nhượng cho ban giám đốc. Trong số báo ra ngày 7-8-2002, tờ “Triết-giang Công-nhân Nhật-báo” đã đăng bài phóng sự của một phóng viên Tân-hoa-xã với nhan đề “Các tân tài phiệt đang đánh chiếm Giang-nam”
[6] . Bài báo dẫn ra một kết quả điều tra về những DNNN vừa và nhỏ đã qua cải tổ, và kết luận rằng: các doanh nghiệp và chính quyền các địa phương càng ngày càng có xu hướng xem việc chuyển nhượng đa số cổ phiếu (của mỗi doanh nghiệp) cho ban giám đốc xí nghiệp là một phương thức cải cách hữu hiệu. Bài báo đã vạch ra những thủ đoạn muôn hình muôn vẻ mà các nhà điều hành các xí nghiệp nhà nước đã làm để, chỉ “nhất dạ chi gian” (“trong vòng một đêm”), có trong tay một số lượng cổ phiếu trị giá nhiều chục triệu nguyên, hình thành một cộng đồng dị thường các tân tài phiệt. Để huy động vốn, các nhà quản lý đã tận dụng mọi nguồn lực, vượt qua mọi trở ngại. Một số người dùng tiền riêng của mình, số khác vay tiền của bạn bè hoặc vay thế chấp từ ngân hàng. Đấy là chưa kể họ còn được các quan chức địa phương cho vay tiền ngay từ nguồn thu (thuế) của chính quyền; có vài nơi cơ quan hành chính địa phương còn “lại quả” các nhà quản lý bằng những “cổ phiếu đóng góp” dưới dạng “trang thiết bị kỹ thuật” hoặc “vai trò điều hành”: có nghĩa là các vị cựu giám đốc chẳng cần bỏ ra một xu tiền túi cũng có thể có được cổ phiếu! Một số giám đốc lúc đầu bỏ một phần tiền riêng của mình ra để cùng với công nhân viên chức mua lại xí nghiệp, rồi sau đó tận dụng ngay quỹ lương của xí nghiệp để tiết kiệm chi phí đầu cơ cổ phiếu. Khi các DNNN lớn đã được cải tổ thành những công ty cổ phần, có các nghiệp chủ tư nhân và tư bản nước ngoài tham gia cổ đông, số cổ phần nhà nước làm nổi bật vai trò đại diện doanh nghiệp của các nhà quản lý; nắm giữ số cổ phần (nhà nước) này, họ còn được hưởng chế độ lương năm. Mức lương này cao gấp mười lần, có khi còn gấp cả trăm lần mức trung bình mà một công nhân trong doanh nghiệp đó làm ra.
Các công nhân trong DNNN trước đây, nay đã trở thành những lao động làm thuê trong doanh nghiệp tư nhân hoặc trong công ty cổ phần.
II. Bần cùng hoá
So với các nhà đầu tư nước ngoài, các chủ doanh nghiệp tư nhân, các tiểu chủ sản xuất hàng gia công và các trí thức phục vụ cho những nhóm kể trên, việc cải thiện mức sống của giai cấp công nhân ở Trung Quốc có tầm bị hạn chế, sự nghèo khó tương đối so với các nhóm xã hội khác đang tăng lên.
Thống kê cho thấy, số lượng các công ty tư nhân từ con số không năm 1978 đã tăng lên đến 2 028 500 công ty vào năm 2001, với tổng số vốn đăng ký là 1800 tỷ
nguyên [7] . Trong số đó, 23 000 công ty có vốn đăng ký trên 10 triệu nguyên mỗi đơn vị, và 383 công ty có vốn trên 100 triệu nguyên / đơn vị. Đến năm 2001, 22,53 triệu công nhân đã làm việc trong các công ty tư nhân.
Bản “Báo cáo về những vấn đề trong nguồn lực con người và giáo dục ở Trung Quốc” xuất bản mới đây cho biết rằng, tính trung bình, giá cả một năm lao động của mỗi công nhân công nghiệp ở Trung Quốc trong các năm 1995—1999 là 729 USD, bằng 1/40 giá cả tương ứng của một công nhân ở Hoa Kỳ, 1/13 ở Nhật, 1/5 ở Hàn Quốc, và thấp hơn đáng kể so với ở Ấn Độ. Những thống kê khác cũng chỉ ra rằng lương trung bình của một công nhân công nghiệp ở Trung Quốc hiện đang ở dưới mức 60 cents/giờ. Một trong những lý do chính đã giúp các công ty tư nhân phát triển được và thu hút các công ty nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc là giá cả sức lao động thấp. Và một trong những nguồn tích lũy tư bản chính của các doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài là lao động không được trả lương.
Công nhân đã nghèo đi theo nghĩa tương đối, và điều kiện làm việc cũng rất tồi. Ở nhiều doanh nghiệp tư nhân, ngày làm việc dài hơn 10 giờ, lương thấp, thanh toán lương chậm hoặc không trả lương, người lao động bị giới hạn không gian tự do hoặc bị lăng mạ, và thường xuyên xảy ra tai nạn hoặc tử vong. Cũng cần phải lưu ý rằng nhiều doanh nghiệp mướn nhân công từ nông thôn đã để họ sống và làm việc trong những điều kiện cực kỳ tồi tệ. Nói theo lời của chính những người nông dân này: “Chúng tôi dậy sớm hơn gà, làm khổ hơn bò, và ăn không bằng lợn…”
Trong giai cấp công nhân Trung Quốc hiện đang có những người sống trong hoàn cảnh nghèo tuyệt đối. Điều này thường là hệ quả của một trong hai tình huống: một là những công nhân bị mất việc làm và thu nhập duy nhất của họ chỉ là khoản trợ cấp tối thiểu từ nhà nước; hai là những công nhân có thu nhập trên mức tối thiểu, nhưng do bổn phận đối với thân nhân — khi trong gia đình có người thân đau yếu — hoặc những tai ương nào đó, mức sống của họ tụt xuống hàng nghèo khổ. Hiện không biết đích xác có bao nhiêu công nhân đang rơi vào tình trạng này. Có 20,53 triệu công nhân đang được nhận trợ cấp tối thiểu từ chính phủ, nhưng còn rất nhiều người thuộc diện này chưa được hưởng trợ cấp. Những công nhân này thật khó lòng có được ba bữa ăn mỗi ngày, cho con cái đến trường, trả tiền thuê nhà và được chăm sóc y tế. Họ thường bán máu để sống, hoặc tìm đến tự vẫn như một lối thoát.
Tình trạng thất nghiệp gia tăng trong những năm vừa qua cũng đã làm gia tăng sự nghèo khổ của công nhân. Từ năm 1998, 27 triệu công nhân từ các DNNN đã bị thải hồi; nhiều người khác vẫn còn việc làm trên danh nghĩa, nhưng hoạt động sản xuất đã đình đốn đáng kể hoặc ngưng trệ hoàn toàn. Đã có những xí nghiệp giở chiêu bài “cho nghỉ hưu nội bộ”, huỷ bỏ hợp đồng lao động, hoặc cho công nhân về nghỉ “một cục”
[8] . Số công nhân kiếm lại được việc làm sau khi mất việc đang giảm dần.
Chính sách “giảm biên chế, tăng hiệu quả” những năm vừa qua đáng phải được xem xét lại. Làm sao hiệu quả có thể tăng lên khi công nhân được cho về nghỉ, không làm việc? “Hiệu quả” theo nghĩa này chỉ liên quan đến năng suất lao động của những công nhân đang được sử dụng, và thường đạt được bằng cách chu cấp lương bổng và phúc lợi. Nhưng những công nhân mất việc vẫn cần phải sống, cần phải có việc làm trở lại, và ổn định xã hội cũng cần được duy trì. Điều này cũng đòi hỏi phải đầu tư, và lại làm trầm trọng thêm những gánh nặng của nhà nước và xã hội. Nếu cần phải tăng hiệu quả, hãy chuyển công nhân sang những công việc khác, chứ đừng vứt bỏ họ. Điều này có thể làm được không? Vài năm trở lại đây, một số doanh nghiệp đã thử làm điều này, và đã chứng minh rằng có thể. Một lâm trường ở tỉnh Hắc-long-giang đã phát quang toàn bộ những khu rừng ở địa phương, rồi cử công nhân của mình đi trồng rừng thay vì giảm biên chế họ. Đơn vị này cũng đã lợi dụng những tài nguyên sẵn có của mình là nguồn nước và đồng cỏ để phát triển trồng trọt và chăn nuôi, lợi dụng những công trình và đất đai sẵn có để làm dịch vụ gia công chế biến, đem lại công ăn việc làm cho gần như toàn bộ số công nhân mất việc. “Nhân-dân Nhật-báo” ngày 24-3-2003 đã đăng một phóng sự về Tập đoàn Công nghiệp Phú-nhuận tỉnh Triết-giang, một tập đoàn được hợp nhất từ hơn 20 công ty trong vòng 10 năm trở lại đây, bỏ lại hơn 9000 công nhân thất nghiệp. Vị tổng giám đốc tập đoàn phát biểu: “Mục tiêu của chúng ta là tăng hiệu quả trong các công ty mà chúng ta đã mua vào, nhưng giảm số lượng nhân công không phải là biện pháp duy nhất để đạt được mục tiêu đó. Chúng ta cần dựa vào công nhân viên chức để tập đoàn ăn nên làm ra. Tập đoàn ăn nên làm ra sẽ là chỗ dựa của công nhân viên chức.”
Có ba điều kiện cho một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa: 1) hệ thống sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo; 2) nguyên tắc hưởng theo lao động giữ vai trò chủ đạo; và 3) nền kinh tế chịu sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Tuy nhiên, cần phải thêm vào một điều kiện nữa: những ai có khả năng làm việc thì cần phải có việc làm. “Đập vỡ bát cơm sắt”
[9] là một khẩu hiệu bất ổn, đang gây nên những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng. Một khi chúng ta vẫn tiếp tục con đường của chủ nghĩa xã hội, chúng ta không thể — giống như chủ nghĩa tư bản — tạo ra một đội quân thất nghiệp đông đảo. Nhà nước phải bảo vệ quyền được lao động của các công dân.
III. Xói mòn quyền lợi
Ở Trung Quốc hiện nay, giai cấp công nhân đang là một nhóm xã hội thiệt thòi về kinh tế và bất lợi về chính trị.
Công nhân luôn luôn có ý thức về mức độ họ được tham gia vào công việc quản lý các ngành công nghiệp mà họ đang làm việc. Trước đây, mặc dù các “đại hội đại biểu công nhân viên chức” chỉ là hình thức chủ nghĩa, nhưng chúng luôn luôn phát huy tác dụng nhất định. Hiện nay, các đại hội như thế có chỗ còn nặng hình thức hơn, có nhiều nơi lâu nay không được triệu tập nữa. Công nhân đã hoàn toàn bị loại ra ngoài những cuộc thảo luận về các chủ đề quan trọng như cải tổ doanh nghiệp, hay những quyết định như điều động công nhân đi khỏi đơn vị họ đang làm việc.
Trong Đại hội Ðại biểu Nhân dân Toàn quốc
[10] khoá 10, số đại biểu công nhân và nông dân là 511 trong tổng số 2984 đại biểu, chiếm 18,46%. Một số người cho rằng công nhân và nông dân không có khả năng quản lý công việc lập pháp, vì vậy không nên bầu họ làm đại biểu. Trong các hội nghị, hội thảo, các cuộc họp tư vấn, v.v... mà Đảng và chính phủ thường xuyên tổ chức hiện nay, rất dễ nhận ra sự vắng mặt của các đại diện công nhân.
Các phương tiện truyền thông cũng hiếm khi có những phóng sự về chủ đề công nhân, trừ những cuộc thảo luận liên quan đến vấn đề thất nghiệp. Sự đóng góp của công nhân trong công cuộc phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội cũng hiếm khi được đề cập.
Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc mới đây đã đưa ra một bản báo cáo nhan đề “Nghiên cứu về các giai cấp xã hội hiện nay ở Trung Quốc”. Thông tin dưới đây rút ra từ bản báo cáo này, cho biết tỷ lệ đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc là công nhân và doanh nhân ở một số địa phương:
| Chấn-ninh, Quý-châu
| Hán-xuyên, Hồ-bắc
| Hợp-phì, An-huy
| Thâm-quyến, Quảng-đông
|
Công nhân, % tổng số đảng viên
| 10.3
| 5.9
| 13.3
| 0
|
Doanh nhân, % tổng số đảng viên
| 0
| 9.1
| 24.4
| 22.2
|
Người thất nghiệp / bán thất nghiệp / vô nghề nghiệp, % tổng số đảng viên
| 3.9
| 1.8
| 9.1
| 2.0
|
Bản báo cáo cũng chỉ ra rằng số đảng viên là doanh nhân đang tăng lên rõ rệt: so với tổng số đảng viên, năm 1993 đảng viên là doanh nhân và cán bộ quản lý chiếm 13,1%; năm 1995 — 17,1%; và năm 2000 — 19,8%. Điều này chứng tỏ rằng vai trò chính trị trong Đảng của các doanh nhân và nhà quản lý đang tăng lên, trong khi vai trò tương ứng của các công nhân công nghiệp đang suy giảm nhanh chóng. Hiện nay chỉ còn rất ít mối liên kết giữa công nhân và các tổ chức đảng, công nhân hiếm khi tham gia với mối quan tâm lớn vào các hoạt động hoặc các chiến dịch tuyên truyền của Đảng. Rõ ràng là tầm vóc chính trị của giai cấp công nhân đang đi xuống, và sự gắn kết giữa họ với Đảng ngày càng trở nên miễn cưỡng hơn.
IV. Tan rã
Được phát triển từ khi xuất hiện sự xã hội hoá nền sản xuất, giai cấp công nhân vốn dĩ là nhóm xã hội có tổ chức và kỷ luật nhất. Theo truyền thống, công nhân Trung Quốc được tổ chức theo tuyến các xí nghiệp công nghiệp. Hiện nay, quan hệ giữa công nhân và xí nghiệp là hợp đồng lao động. So với người sử dụng lao động, công nhân luôn luôn ở địa vị yếu hơn và lệ thuộc hơn. Ngày nay, nói về giai cấp công nhân như là những “chủ nhân ông của xí nghiệp” chỉ gợi nên nỗi phiền muộn. Khi hợp đồng lao động kết thúc, công nhân buộc phải đi tìm công việc mới, và không thể trông cậy vào ai khác ngoài bản thân họ. Các công nhân thất nghiệp thường quay sang làm những công việc lặt vặt hoặc buôn bán nhỏ, có dấu hiệu cá thể hoá.
Trước đây, trong các xí nghiệp ở Trung Quốc, bên cạnh các cơ cấu kinh tế còn có những tổ chức quần chúng; những thiết chế như
đảng,
chính,
công,
đoàn (đảng bộ, chính quyền, công hội, đoàn thanh niên —
Người dịch) v. v… đã từng là những sợi dây nối kết chặt chẽ quần chúng công nhân với nhau và với những giai tầng hay bộ phận xã hội khác. Ngày nay chỉ còn khía cạnh kinh tế là được nhấn mạnh. Và một khi hợp đồng lao động mãn hạn hay kết thúc, mối quan hệ (kinh tế) giữa công nhân với xí nghiệp cũng chấm dứt, công nhân sẽ không còn thuộc về một tổ chức nào và không được nương tựa vào đâu nữa. Ở Đại-khánh
[11] , khi hợp đồng lao động của công nhân chấm dứt, sinh hoạt đảng của đảng viên công nhân không biết chuyển đi đâu. Chúng tôi xin phản ánh: không chỉ thâm niên làm việc của người lao động đã bị mua đứt, mà cả
tuổi đảng cũng bị mua đứt mất rồi.
[12]
Trong 350 triệu công nhân, chỉ có 130 triệu là thành viên công hội
[13] . Nhiều công nhân ở các xí nghiệp thuộc sở hữu tư nhân hoặc hợp tác xã, cũng như hầu hết các
di công nhân [14] đều không có công hội tịch.
Do sự giáo dục chủ nghĩa tập thể và tinh thần xã hội chủ nghĩa trong công nhân ngày càng ít đi, chủ nghĩa cá nhân tư sản đang làm xói lở nghiêm trọng giai cấp công nhân Trung Quốc.
Trong trường hợp công nhân tập hợp lại trong những tổ chức tự phát để bảo vệ quyền lợi của mình, thì đây sẽ là sự từ chối Đảng và Tổng công hội. Chúng ta phải cảnh giác trước việc Hoa Kỳ và các thế lực phương Tây đang toan tính hỗ trợ cho những cái gọi là “tổ chức bênh vực quyền lợi công nhân” nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập với Đảng và nhà nước.
Trải qua hơn hai thập kỷ cải cách, vị thế kinh tế và chính trị của giai cấp công nhân Trung Quốc đã từng bước bị xói mòn, các mâu thuẫn xã hội đang bức bối trầm trọng.
Để thay đổi một cách căn bản tình trạng tuyệt vọng hiện nay của công nhân, chúng tôi đề nghị:
- Chúng ta hãy tái khẳng định phương châm chỉ đạo của Đảng ta: “một lòng một dạ dựa vào giai cấp công nhân.” [15] Đây là bản chất của Đảng, nhà nước và xã hội chúng ta, can hệ đến sự thực hiện thắng lợi công cuộc hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cần phải thực hiện đề cương đã ghi trong Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ 16 và Điều lệ Đảng: “tăng cường nền tảng giai cấp công nhân và mở rộng nền tảng quần chúng của Đảng”, và “tiếp tục coi sở hữu toàn dân là trụ cột của nền kinh tế, cho phép những hình thức sở hữu đa dạng khác được phát triển song song, duy trì tính chủ đạo của nguyên tắc đãi ngộ theo lao động, đồng thời cho phép các hình thức đãi ngộ đa dạng khác.”
- Trên cơ sở những điều tra nghiên cứu và trưng cầu ý kiến, đề nghị Bộ chính trị Trung ương Đảng thảo luận và chỉ thị quán triệt thi hành phương châm chỉ đạo “một lòng một dạ dựa vào giai cấp công nhân.” Điều này cần phải được thể hiện một cách đầy đủ trong các cải cách kinh tế và chính trị.
- Chúng ta phải trao cho các công hội của chúng ta một sức mạnh trụ cột. Chúng ta phải làm thế nào để tổ chức quần chúng công nhân vào các công hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, và đặc biệt, phải chú trọng đến các công nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân và các di công nhân. Chúng ta phải làm thế nào để thực sự trở thành người đại diện của quần chúng công nhân, phải làm thế nào để hậu thuẫn đắc lực cho những quyền lợi hợp pháp của họ. Chúng ta phải tiến hành những khảo sát và nghiên cứu toàn diện, có tầm vóc lịch sử, để đưa ra được những quyết định vừa thiết thực khả thi, vừa mang tính phương châm chỉ đạo. Chúng ta cũng cần phải cải thiện cách lãnh đạo của Đảng đối với công hội, để cho các cán bộ công hội được phản ánh tình cảnh thực sự [của công nhân] và được đấu tranh / đòi hỏi một cách chính đáng và hợp pháp. [16]
- Bộ máy tuyên truyền của Đảng phải duy trì thế giới quan duy vật - lịch sử, phải quảng bá những đóng góp to lớn của công nhân, nông dân và trí thức đối với cách mạng Trung Quốc, đối với công cuộc xây dựng đất nước Trung Hoa từ trước đến nay, đồng thời phải tuyên truyền sâu rộng những đóng góp và ý nghĩa của lao động sáng tạo do công nhân, nông dân và trí thức đang cống hiến cho công cuộc hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa đất nước hiện nay. Đảng cần phải phê phán những ai đang hạ thấp vai trò của lao động và các giai cấp lao động, bảo vệ dứt khoát quyền lợi hợp pháp của giai cấp công nhân, vạch trần và tố cáo những hành động, lời nói làm tổn hại đến lợi ích của giai cấp này.
Trên đây là phản ánh những tình hình và kiến nghị. Nếu có chỗ nào không thoả đáng, xin được chỉ giáo và bảo ban phê bình.
Ngày 28 tháng 4 năm 2003
© 2005 Khánh Long Translations
© 2005 talawas
[1]Lưu Thực (刘实 /Líu Shí/): nguyên phó chủ tịch Tổng công hội toàn Trung Quốc.
Tổng công hội toàn Trung Quốc (
Trung-hoa toàn-quốc tổng-công-hội) là cơ cấu công đoàn chính thống duy nhất ở Trung Quốc, tương tự như Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hiện nay. Tất cả các chú thích trong bài là của người dịch.
[2]Bản tiếng Việt này được dịch thuật và tổng hợp từ hai văn bản nguồn: (1) bản tiếng Anh
Current Condition of China’s Working Class,
China Study Group, 1-Nov-2003, và (2) bản tiếng Hán
“当前中国工人阶级状况”(
“Đang tiền Trung quốc công nhân giai cấp trạng huống”),
工农天地 (Công-nông Thiên-địa), 2003年7月28日.
[3]Một số dữ liệu về số lượng công nhân các loại ở Trung Quốc trong bài viết này có thể không còn cập nhật hoặc không phù hợp với những nguồn tư liệu khác. Theo nhiều tài liệu, vào thời điểm này, tổng số công nhân các thành phần ở Trung Quốc vào khoảng trên 400 triệu người, trong đó số
di công nhân (xem chú thích dưới đây) gồm khoảng 150 đến 200 triệu người.
[4]Tác giả muốn nói đến sự nâng lên của mức sống tuyệt đối. Còn về mức sống tương đối của giai cấp công nhân so với các nhóm xã hội khác, trong một phần sau tác giả đã chỉ ra rằng công nhân Trung Quốc đang bị bần cùng hoá.
[5]Theo lô-gích chính thống ở một quốc gia vẫn còn mệnh danh là “xã hội chủ nghĩa” như Trung Quốc, công nhân và các thành phần lao động khác vốn dĩ được xác định là chủ nhân của xã hội — nói riêng, chủ nhân của các phương tiện sản xuất trong xã hội như nhà máy, công xưởng, xí nghiệp… Việc chính thức xác định công nhân là
lao động làm thuê trong chủ nghĩa xã hội hiện thực là một vết rách không thể vá nổi của lý thuyết về hệ thống này. Một điểm lý thú nữa là, Đại hội 13 của Đảng CSTQ — với nghị quyết xác định một bộ phận giai cấp công nhân là lao động làm thuê — họp tháng 10-1987; trong khi đó, bản “
Hiến pháp nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa” được tu chính và chuẩn nhận lần cuối cùng năm 2004 vẫn ghi trong điều 1 chương 1: “Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là nhà nước xã hội chủ nghĩa của nền chuyên chính dân chủ nhân dân, lấy liên minh công nông làm nền tảng, do giai cấp công nhân lãnh đạo.” (“中华人民共和国是工人阶级领导的、以工农联盟为基础的人民民主专政的社会主义国家。”[“Trung Hoa nhân dân cộng hoà quốc thị công nhân giai cấp lãnh đạo đích, dĩ công nông liên minh vi cơ sở đích nhân dân dân chủ chuyên chính đích xã hội chủ nghĩa quốc gia.”])
[6]Giang-nam (江南 /Jiāngnán/): vùng lãnh thổ Trung Quốc ở phía nam sông Dương-tử (杨子江 /Yángzǐjiāng/). Tỉnh Triết-giang (浙江 /Zhèjiāng/) nằm trong vùng này.
[7]nguyên (元 /yuán/): lượng từ chỉ đơn vị tiền tệ trong tiếng Hán. Xin lưu ý: nhân-dân-tệ (人民币, phiên âm quan thoại /rén-mín-bì/, viết tắt RMB) là danh xưng của hệ thống tiền tệ ở Trung Quốc, chứ không phải đơn vị tiền. Trong nhiều năm trở lại đây, đồng RMB luôn luôn được giữ giá (cưỡng bức) ổn định ở mức 1 nguyên ăn xấp xỉ 1/8 đô-la Mỹ.
[8]Cho công nhân về nghỉ “một cục”: nguyên văn ở bản Trung-văn là “mua đứt có bồi thường thâm niên làm việc của công nhân” (“有偿买断工龄”[“hữu thường mãi đoạn công linh”]), chính sách giảm biên chế người lao động bằng cách chi trả họ một khoản tiền lớn duy nhất (“một cục”) tỷ lệ với thâm niên làm việc rồi buộc họ thôi việc mà không được hưởng bất cứ một chế độ bảo hiểm xã hội nào về sau. Ở Việt Nam, chính sách này (học theo Trung Quốc) cũng đã và đang được áp dụng; nó được áp dụng đặc biệt ồ ạt vào thời gian cuối của thời kỳ khủng hoảng 1978—1995.
[9]“Đập vỡ bát cơm sắt” (“táp lạn thiết phạn uyển” [“砸烂铁饭碗”]): một khẩu hiệu được sử dụng lâu nay trong quá trình tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc. “Bát cơm sắt” là một ẩn dụ đặc sắc về nền kinh tế bao cấp ở Trung Quốc trước cải cách: bát sắt không bao giờ vỡ, liên hệ đến nguyên lý yên ổn suốt đời của đời sống người lao động, từng được áp dụng trong chính sách kinh tế giai đoạn đầu của tất cả các quốc gia theo chủ nghĩa xã hội trước đây. Nhận ra rằng đây là một nguyên lý duy ý chí, nguyên nhân của sự trì trệ, hao phí và kém hiệu quả về kinh tế, từ cuối thập kỷ 70 nhiều quốc gia theo chủ nghĩa xã hội đã xúc tiến những hiệu chỉnh theo hướng thị trường hoá. Kết quả là chủ nghĩa xã hội hoặc bị sụp đổ để nhường chỗ cho chủ nghĩa thị trường tự do (trường hợp Liên Xô và các quốc gia Đông Âu), hoặc bị biến dạng thành một thứ chủ nghĩa tư bản hoang dại mệnh danh là “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” (trường hợp Trung Quốc và Việt Nam).
[10]Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (toàn-quốc nhân-dân đại-biểu đại-hội): thiết chế chính trị đóng vai trò cơ quan lập pháp tối cao trên danh nghĩa, tương đương với một quốc hội.
[11]Đại-khánh (大庆 /Dàqìng/): Khu công nghiệp dầu khí lớn nhất của Trung Quốc, nằm trong địa phận tỉnh Hắc-long-giang (黑龙江 /Hēilóngjiāng/) ở miền đông-bắc nước này.
[12]Về khái niệm “mua đứt thâm niên làm việc của người lao động”, xin xem chú thích [8]. Phản ánh này của tác giả đã cho thấy Cải cách ở Trung Quốc đã phá vỡ các mối quan hệ chính trị - xã hội trước kia một cách sâu sắc và toàn diện như thế nào.
[13]công hội: cơ cấu tương tự như công đoàn hay nghiệp đoàn. Trong một chế độ cộng sản toàn trị như ở Trung Quốc hay Việt Nam hiện nay, công đoàn chỉ là một trong các cơ cấu ngoại vi của đảng cộng sản, trong khi các công đoàn độc lập không được phép tồn tại. Cơ cấu cao cấp nhất của các công đoàn đảng thuộc ở Trung Quốc là Tổng công hội toàn Trung Quốc (Trung-hoa toàn-quốc tổng-công-hội).
[14]di công nhân: công nhân gốc người nông thôn, kiếm được việc làm ở các đô thị hoặc khu công nghiệp trong quá trình cải cách. Ở Trung Quốc hiện nay, số lượng các di công nhân rất lớn: xấp xỉ 150 đến 200 triệu người, chiếm tỷ lệ vào khoảng một phần ba cho đến một nửa tổng số công nhân. “Di công nhân” là thuật ngữ do người dịch tạm đưa vào sử dụng; báo chí Hán ngữ hiện nay gọi đối tượng này bằng những từ tổ “di-dân / di-cư lao-công”, “di-dân / di-cư công-nhân”, “nông-dân lao-công / công-nhân”, “nông-dân-công”.
[15]Nguyên văn trong bản Hán ngữ: “toàn tâm toàn ý y kháo công nhân giai cấp” (“全心全意依靠工人阶级”).
[16]Kiến nghị này của tác giả là sự gián tiếp xác nhận vai trò bù nhìn trên thực tế của cơ cấu công đoàn (công hội) đảng thuộc ở Trung Quốc hiện nay. Ở Trung Quốc, bãi công, biểu tình và mọi hình thức đấu tranh đòi quyền lợi của người lao động không do đảng cộng sản chỉ đạo hoặc cho phép đều là bất hợp pháp. Nội dung chú thích này cũng hoàn toàn áp dụng được cho Việt Nam.