trang chủ talaCu ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Xã hội
Kinh tế
  1 - 20 / 135 bài
  1 - 20 / 135 bài
tìm
 
(dùng Unicode hoặc không dấu)
tác giả:
A B C D Đ E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Ý Z
Xã hộiKinh tế
6.12.2005
Nguyễn Quốc Khải
Việt Nam không gia nhập được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) trong năm 2005: Lỗi tại ai?
 
Trong khoảng một năm nay người ta thảo luận khá nhiều về cơ hội liệu Việt Nam có vào được Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO) trong năm 2005 hay như Việt Nam tha thiết mong muốn hay không. Vào tháng 9 năm nay vẫn có viên chức của chính phủ Hà Nội lên tiếng là Việt Nam còn hi vọng vào được WTO trước cuối năm 2005 [1] . Nhưng sang đến cuối tháng 10, Việt Nam mới thừa nhận rằng việc gia nhập WTO trong năm 2005 là vô vọng. Bài phúc trình này sẽ thảo luận về lý do nào khiến tình trạng không gây ngạc nhiên nhưng đáng tiếc này đã xẩy ra.

Việt Nam có ba lý do để tự ấn định thời hạn gia nhập WTO trước ngày 1/1/2005:

  1. Theo một thỏa thuận từ khi WTO thành lập vào năm 1995, chế độ hạn ngạch về hàng dệt may được hủy bỏ vào ngày 1/1/2005. Những quốc gia hội viên của tổ chức này như Trung Quốc, Pakistan, Thái Lan, v.v. được bán quần áo, vải, luạ… không bị giới hạn về số lượng và không phải chịu lệ phí hạn ngạch. Các quốc gia chưa phải là hội viên, như Việt Nam hiện nay, vẫn phải bị chi phối bởi chế độ hạn ngạch, vì vậy sẽ phải cạnh tranh rất khó khăn với các nước hội viên.

  2. Bắt đầu từ năm 2005, nếu vòng thương thuyết Doha kết thúc, luật lệ WTO mới sẽ khó khăn hơn luật lệ của vòng thương thuyết Uruguay hiện đang được áp dụng.

  3. Càng gia nhập WTO sớm, càng sớm tiếp cận với nhiều thị trường xuất cảng và hàng hóa của Việt Nam được hưởng thuế nhập cảng thấp.
Cho tới nay Việt Nam đã hoàn tất 11 cuộc thương thuyết đa phương và các cuộc thương thuyết song phương trong khuôn khổ WTO với 22 nước và lãnh thổ, kể cả Đài Loan. 6 nước còn lại mà Việt Nam cần phải tiếp tục thương thuyết gồm Hoa Kỳ, Úc, Tân Tây Lan, Mễ Tây Cơ, Honduras, và Cộng hòa Dominican. Từ nay đến giữa năm 2006, Việt Nam có triển vọng hoàn tất thương thuyết với 6 nước này. Như vậy đã rõ ràng rằng Việt Nam không đạt được cả hai thời hạn do chính Việt Nam tự đặt ra là 1/1/2005 và 31/12/2005.


Quan điểm của chính phủ Việt Nam

Chính phủ Hà Nội lên án Hoa Kỳ đã gây rắc rối khiến Việt Nam không thể đạt được mục tiêu là gia nhập WTO vào tháng 12/2005. Ông Ngô Quang Xuân, Đại sứ Việt Nam tại WTO tuyên bố rằng “Sự thực là Hoa Kỳ còn đang gây khó khăn tại bàn hội nghị. Đây là một thái độ thiếu thiện chí. Không phải là Việt Nam không cố gắng hết sức mình. Chúng tôi đã làm mọi thứ có thể làm được và đã vượt qua nhiều khó khăn ở [Việt Nam] và nước ngoài” [2] .

Thứ trưởng Thương mại Lương Văn Tư, Trưởng phái đoàn thương thuyết của Việt Nam về WTO, nhận xét rằng có hai loại khó khăn. Khó khăn tại bàn hội nghị bao gồm những vấn đề kinh tế nhậy cảm liên quan đến ngân hàng, viễn thông, và dịch vụ văn hoá đòi hỏi bởi các đối tác. Khó khăn thứ hai là thiện chí chính trị của những đối tác còn lại. Việt Nam cần phải thực hiện những chiến dịch ngoại giao để biến sự ủng hộ Việt Nam về mặt chính trị thành những hành động thực tế hầu đạt được kết quả về các cuộc thương thuyết về WTO với Việt Nam.” [3]

Theo Phó Thủ tướng Vũ Khoan, khó khăn nhất là những điều kiện khắt khe hơn do các hội viên WTO đòi hỏi, như với việc mở rộng thị trường. Hoa Kỳ là một đối tác khó khăn. Ông Khoan tuyên bố: “Chúng tôi cố gắng hết sức mình, nhưng sẽ không tiếp tục với bất cứ giá nào; chúng tôi không thể chấp nhận điều gì có tiềm lực làm đổ vỡ nền kinh tế của chúng tôi. Chúng tôi chỉ có thể chấp nhận những cam kết mà chúng tôi có thể thực hiện được, và vì vậy, chúng tôi không chỉ lo ngại về thời hạn… Chúng tôi hiện nay không suy nghĩ đặt mục tiêu thời hạn. Khi nào điều kiện của chúng tôi được thỏa mãn, chúng tôi sẽ gia nhập WTO.” [4]

Nói chuyện trước Quốc hội, Thủ tướng Phan Văn Khải nhìn nhận: “Việc chuẩn bị gia nhập WTO không thỏa mãn điều kiện đòi hỏi, đặc biệt về mặt cải tổ luật pháp và cải thiện khả năng cạnh tranh.” [5]

Phần lớn các chuyên gia trong chính phủ Việt Nam cũng đồng ý với ông Phan văn Khải. TS Dương Thu Hương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc hội Việt Nam tuyên bố: ''Chúng ta phấn đấu cuối năm 2005 vào WTO, nhưng nội luật hoá cam kết quốc tế còn lúng túng thì không phải ‘nước đến chân mà nước đến... mũi mới nhảy.’… Toà án của chúng ta khi xét xử tranh chấp về thanh toán quốc tế thì áp dụng pháp luật trong nước mà không áp dụng Công ước Geneve về thanh toán quốc tế. Điều này dễ làm cho chúng ta mất uy tín trên trường quốc tế.” [6]

TS Lê Đăng Doanh, cố vấn Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư ở Hà Nội nhận xét: “Hội nghị Hongkong sẽ diễn ra vào tháng 12 và con đường vào Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam là vất vả, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể. Tôi hiểu rằng, có những biện pháp kỹ thuật, những biện pháp cần phải tiến hành và tiếp tục đàm phán với Hoa Kỳ. Việc này đòi hỏi những nỗ lực không nhỏ, không những là những nỗ lực đó cần được thực hiện trên giấy tờ, trên luật pháp và trong những qui định, mà trước hết là các doanh nghiệp, các cơ quan thực thi của Việt Nam phải hiểu và thực hiện điều này. Chuyện đó đòi hỏi các nỗ lực rất là cao.”

“Thứ hai là để vào Tổ chức Thương mại Thế giới, Hoa Kỳ phải chấp nhận cho Việt Nam cái Permanent Normal Trade Relation Status (PNTR, Qui chế quan hệ mậu dịch bình thường). Nhưng cái này đòi hỏi là phải được quốc hội thông qua, và tôi không được rõ là Quốc hội Hoa Kỳ từ nay cho tới tháng 10 có đưa việc này vào nghị trình hay chưa, việc này đòi hỏi nỗ lực và sự vận động rất lớn. Điều cuối cùng tôi muốn nói là sớm hay muộn Việt Nam sẽ được tham gia Tổ chức Thương mại Thế giới vì Việt Nam có quyết tâm xứng đáng và đang nỗ lực để thực thi cam kết của mình. Chỉ có điều là vào sớm hơn thì tốt hơn là muộn hơn.” [7]

Tóm lại, quan điểm của chính phủ Việt Nam là con đường vào Tổ chức Thương mại Thế giới của Việt Nam đòi hỏi những nỗ lực lớn. Việt Nam đã làm hết sức mình, công nhận còn nhiều thiếu sót, nhưng không vào được WTO trong năm 2005 vì Hoa Kỳ đòi hỏi những điều kiện quá đáng.


Quan điểm của chính phủ Hoa-Kỳ

Cho tới nay, không một viên chức nào của Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ (Office of the U.S. Trade Representative – USTR), cơ quan đặc trách thương thuyết về ngoại thương lên tiếng về những lời than phiền của Việt Nam. Mới đây để trả lời một cuộc phỏng vấn của các ký giả, Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Michael W. Marine nói: “Tôi không tin sẽ có một triển vọng về việc [Quốc hội Hoa Kỳ] sẽ bỏ phiếu cho Việt Nam hưởng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn trước tháng 12 [2005].” Nếu không được hưởng quy chế PNTR, Việt Nam không thể đạt được thỏa hiệp song phương với Hoa Kỳ trong khuôn khổ WTO, một trong những điều kiện để gia nhập tổ chức này. Ông Marine gián tiếp nói rằng Việt Nam không có hi vọng vào WTO trong năm 2005.

Đại sứ Marine cũng chỉ trích Việt Nam về việc không thi hành đầy đủ những cam kết về việc thi hành Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ (BTA) mà hai bên đã ký kết vào tháng 7.2000. Ông nói “Làm nửa vời hoặc chỉ thực hiện trên giấy tờ và không làm trên thực tế không mang lại lợi ích gì cho Việt Nam.” [8] Một lần nữa ông Marine ám chỉ rằng Việt Nam không thi hành đúng đắn Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ bắt đầu có hiệu lực từ bốn năm trước nên Hoa Kỳ sẽ thận trọng hơn khi thương thuyết với Việt Nam về một thỏa hiệp mới.

Tóm lại, chính phủ Hoa Kỳ từ chối không phê phán trực tiếp những lời bình luận của các viên chức cao cấp Việt-Nam. Hoa Kỳ gián tiếp cho thấy rằng lập trường của Hoa Kỳ vế điều kiện gia nhập WTO của Việt Nam không thay đổi, ít nhất trước công luận trong lúc này.


Quan điểm của các chuyên gia

GS Carl Thayer, một chuyên gia về Việt Nam tại Viện Nghiên cứu Lực lượng Phòng vệ Úc Đại Lợi (Australian Defence Force Academy) tại Canberra, nói rằng: “Các viên chức Hoa Kỳ bình luận rằng Việt Nam đã không thực thi một vài cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ. Một quan tâm chính là khả năng thi hành những bổn phận của Việt Nam.” [9]

Ông Thomas O’Dore, Chủ tịch Phòng Thương mại Hoa Kỳ (American Chamber of Commerce) tại Hà Nội, nhận xét rằng “Việt Nam công bố vào năm 1995 rằng họ muốn gia nhập WTO và rồi sau đó họ ngồi ngay trên tay họ và không làm một cái gì trong năm hoặc sáu năm để vào tổ chức này. Và bây giờ họ tìm một con vật tế thần để buộc tội, mặc dầu họ chỉ có thể tự buộc tội mình.” Ông O’Dore nói rõ hơn: “Trung Quốc gia nhập WTO với những hứa hẹn và họ đã không thực hiện những hứa hẹn này. Tất cả những nước đang muốn vào WTO, kể cả Nga, đang chịu ảnh hưởng về kinh nghiệm xấu của WTO đối với Trung Quốc. Các ông phải chứng tỏ bằng hành động, thông qua những đạo luật, thực thi những luật này trước khi được chấp nhận [vào WTO].” [10] Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam, một tổ chức phi chính phủ bao gồm các công ty Hoa Kỳ đầu tư tại Việt Nam, từ trước đến nay vẫn ủng hộ triệt để việc củng cố quan hệ ngoại giao và thương mại giữa hai nước. Quan điểm của Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội có ảnh hưởng lớn đối với chính sách ngoại thương của Hoa Kỳ đối với quốc gia này.

Theo ông Adam Sitkoff, Giám đốc Phòng Thương mại Hoa Kỳ tại Hà Nội, kinh nghiệm đối với Trung Quốc làm Hoa Kỳ cẩn thận hơn. Ông nói: “Hoa Kỳ không sẵn sàng chấp nhận một thỏa hiệp về WTO tương tự như với Trung Quốc. WTO là một tổ chức ngày càng khó xin vào. Việt Nam tự chọn lựa một lịch trình để gia nhập và Việt Nam biết rằng Trung Quốc đã nâng cao tiêu chuẩn gia nhập WTO của Việt Nam lên. Không phải là Hoa Kỳ. Không phải Tân Tây Lan. Chính Trung Quốc đã nâng hàng rào cản Việt Nam.” [11]

Ông Joe Damond, cựu Phó trợ lý Đại diện Thương mại Hoa Kỳ, từng là Trưởng đoàn đàm phán Hoa Kỳ trong Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ, và hiện nay làm việc với Hội đồng Thương mại Việt Mỹ (U.S. – Vietnam Trade Council – USVTC), một tổ chức phi chính phủ, nhận xét rằng không có sự kỳ thị Việt Nam: “Tôi có được biết về nhiều bình luận cho rằng Việt Nam đang phải chịu các điều khoản Trung Quốc “cộng” (China plus) hoặc là WTO “cộng” (WTO plus). Phía Việt Nam cho rằng những yêu cầu này là cao nhưng thật sự những gì mà Mỹ yêu cầu với Việt Nam cũng tương tự như các gói đàm phán đã thực hiện với các nước như Armenia hoặc với Algeria… Viễn thông và ngân hàng luôn là hai lĩnh vực quan trọng trong bất kỳ cuộc đàm phán nào, như đã từng xảy ra với Trung Quốc và Campuchia. Việt Nam hoàn toàn có thể quyết định không mở cửa hơn nữa hai lĩnh vực này.” [12]
Nhiều quan sát viên quốc tế nhận xét rằng một điều dễ hiểu là Quốc hội Việt Nam có quá nhiều việc phải làm trong một thời hạn ngắn ngủi để thông qua những cải tổ về pháp luật trước tháng 12. 2005. Việt Nam nhận biết quá trễ là cần phải làm bao nhiêu việc để gia nhập hệ thống tư bản quốc tế. [13]

Việt Nam là một nền kinh tế phi thị trường và là một nước cộng sản. Theo luật thương mại, Hoa Kỳ chỉ có thể ký kết buôn bán với Việt Nam tạm thời. Mỗi năm Quốc hội Hoa Kỳ lại phải cứu xét lại các hiệp định thương mại với Việt Nam. Do đó hiện nay Hoa Kỳ chỉ cho Việt Nam Quy chế thương mại bình thường (Normal Trade Relation Status) tạm thời. Muốn vào được WTO, trước hết Việt Nam phải được hưởng Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR). Quốc hội Hoa Kỳ phải họp để biểu quyết về việc này. Khóa họp hiện nay của Quốc hội Hoa Kỳ 109 đến ngày Lễ Tạ Ơn trên thực tế là chấm dứt. Buôn bán với Việt Nam không phải là ưu tiên số một của Quốc hội Hoa Kỳ lúc này, trong khi những nhà lập pháp Hoa Kỳ không vui lòng về những vụ vi phạm nhân quyền và đàn áp tôn giáo tiếp diễn ở Việt Nam.

Thứ nhất là Việt Nam cần phải hoàn tất những cuộc thương thuyết song phương với 6 nước đối tác còn lại. Thứ hai là phải hoàn tất một cuộc thương thuyết đa phương sau khi tất cả mọi thương thuyết song phương đã đạt được kết quả. Cuối cùng là việc gia nhập WTO của Việt Nam cần phải được đưa ra Đại hội đồng của WTO để biểu quyết.

Về lãnh vực nội bộ, Việt Nam cần phải xúc tiến những cải tổ về luật pháp cho phù hợp với tiêu chuẩn của WTO. Đây là một công tác đòi hỏi nhiều thời giờ và chuyên môn. Trong nửa năm đầu của năm 2005, Quốc hội Việt Nam đâ thông qua được 15 bộ luật. [14] Ngoài ra Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi còn lại của năm 2005 còn phải tu chính và soạn thảo 14 bộ luật mới. [15]

Vào đầu năm 2005, ông Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Quốc tế của Việt Nam, cho biết thủ tục làm luật hiện nay rất rườm rà và những giới chức có thẩm quyền cần trên 5 năm mới có thể soạn và phê chuẩn các luật mới cho phù hợp với điều kiện để vào WTO. [16]

Hiện nay Việt Nam gặp khó khăn nhiều nhất từ phía Hoa Kỳ, một thị trường xuất cảng quan trọng bậc nhất đối với Việt Nam. Những đòi hỏi do Hoa Kỳ đặt ra với Việt Nam là mở rộng các khu vực viễn thông, dịch vụ nhập cảng, phân phối, ngân hàng, cải tổ môi trường đầu tư và ngoại thương. Ngoài ra Hoa Kỳ muốn Việt Nam thực hiện những cam kết về việc ngăn cấm vi phạm những tài sản trí tuệ như sách báo, băng hình, v.v… Theo tổ chức Business Software Alliance, Việt Nam là một trong những quốc gia vi phạm quyền sở hữu phần mềm điện toán nhiều nhất thế giới với tỉ lệ 95%. [17] Cuộc điều nghiên của Heritage Foundation và Wall Street Journal đánh giá Việt Nam thấp nhất trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. [18]

Ngoài ra, Việt Nam còn phải làm sáng tỏ một số vấn đề như bao cấp, môi trường đầu tư, chính sách thuế khóa, và đặc biệt là quyền thương mại, cách vận hành và điạ vị của những doanh nghiệp nhà nước. Những quốc gia đối tác như Hoa Kỳ, Thuỵ Sĩ, Úc, và Liên Hiệp châu Âu đặc biệt lưu tâm đến lãnh vực này. Do đó việc cải tổ khu vực quốc doanh là cấp thiết do đòi hỏi của các nước này mà còn để gia tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

Theo phúc trình mới nhất của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum – WEF) vừa phổ biến, Việt Nam tụt hạng về năng lực cạnh tranh. Vào năm 2004 Việt Nam đứng hàng thứ 77. Năm nay WEF xếp Việt Nam vào hạng 81 trong số 117 nước. Việt Nam thua kém về sức cạnh tranh đối với hầu hết những Đông Nam Á, ngoại trừ Campuchia và có thể Lào và Miến Điện nhưng hai nước sau cùng không được xếp hạng trong bản phúc trình của WEF. [19] Do đó trong thời gian tới Việt Nam phải cải tiến khả năng cạnh tranh kinh doanh.


Kết luận

Trong thập niên 1990, việc gia nhập WTO tương đối dễ dàng nhưng Việt Nam đã để lỡ cơ hội này. Thậm chí nhiều quốc gia trước đây là thành viên của Tổng thỏa ước về thuế nhập cảng và mậu dịch (General Agreement on Tariffs and Trade - GATTS) đương nhiên trở thành hội viên của WTO khi WTO thành lập để thay thế GATT, trong đó bao gồm hầu hết các nước Đông và Nam Á. [20] Nhưng những nước muốn gia nhập WTO sau này phải mở rộng thị trường, giảm thuế nhập cảng dưới mức thuế của những đương kim hội viên, và phải chấm dứt bao cấp nông nghiệp hầu như lập tức.

Việt Nam nghĩ rằng nếu bắt các quốc gia vào WTO sau phải chịu hậu quả của việc Trung Quốc không thi hành cam kết là một sự bất công. Nhưng Việt Nam sẽ không có lựa chọn nào khác. Việt Nam nộp đơn gia nhập WTO từ năm 1995, nhưng để mãi đến 2002 mới thật sự nghiêm chỉnh chuẩn bị các cuộc thương thuyết. Việt Nam cũng đã tự ý đình trệ việc ký kết Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ vào năm 1999.

Trung bình các quốc gia cần 5 năm mới hoàn tất mọi thủ tục để vào tổ chức này. Trong trường hợp Trung Quốc, thời gian đòi hỏi là 14 năm. Việt Nam mới chuẩn bị 3 năm, Trên thực tế Việt Nam chưa tỏ ra sẵn sàng để gia nhập WTO về nhiều phương diện như đã trình bầy ở trên. Lơ là trong 7 năm rồi quyết định chạy nước rút trong ba năm để vội vã vào WTO không phải là một việc làm chín chắn và có phối hợp và tổ chức. Việt Nam chậm chân, bỏ lỡ nhiều cơ hội, không vào được WTO sớm là do lỗi của chính mình. Vào tháng 5. 2003, ông Seung Ho, Chủ tịch nhóm WTO-Vietnam đã cảnh báo rất sớm rằng “Việt Nam cần một bước nhẩy đột phá để thắng được quy chế hội viên WTO trước thời hạn 2005 do Việt Nam tự ấn định.” [21]

Vòng đàm phán Doha đang bị bế tắc, không có cơ hội kết thúc trong năm 2005 nhưng có ít nhiều hi vọng hoàn tất trong năm 2006. Vậy Việt Nam hãy tận dụng 12 tháng tới để kết thúc những cuộc thương thuyết song phương còn lại đồng thời tiếp tục cải tổ hệ thống pháp lý, các khu vực quốc doanh và ngân hàng, đồng thời phát triển khu vực tư doanh cho mạnh hơn. Năm 2006 là năm kỷ niệm 20 năm về chính sách “cởi trói kinh tế” của Việt Nam.

WTO là một câu lạc bộ không hoàn hảo do những nước giầu khởi xướng thành lập. Họ có quyền đặt ra một số luật lệ cho những ai muốn gia nhập. Cũng như đối với câu lạc bộ thể thao như golf, lệ phí gia nhập và niên liễm cao, mỗi năm lại một tăng, điều kiện vào WTO ngày càng khó cho những nước vào sau. Nếu không vào WTO, Việt Nam hoàn toàn không có tiếng nói gì về thị trường thủy sản và dệt may, hai ngành đang lớn mạnh của Việt Nam. Nếu trở thành hội viên của tổ chức này rồi Việt Nam được cơ chế pháp lý của WTO bảo vệ, nhưng vẫn ở thế yếu vì nước nghèo thường không có khả năng sử dụng các biện pháp tự vệ tốn kém. Tuy nhiên gia nhập WTO tốt hơn là đứng riêng rẽ một mình ở ngoài. Là một hội viên, Việt Nam có thể gia nhập khối các nước đang phát triển để tiếp tục thương thuyết với các nước giầu.

© 2005 talawas



[1]RFA, “Việt Nam tuyên bố sẽ có thể không gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với bất cứ giá nào hoặc nếu không trở thành hội viên trước giữa năm 2006?”, bài phỏng vấn GS Nguyễn Quốc Khải do phóng viên Đỗ Hiếu của RFA thực hiện, 03.10.2005.
[2]AFP, “Vietnam Misses First Date with WTO”, 25.10. 2005.
[3]Voice of Vietnam, Thai Press Reports, “Vietnamese Trade Deputy Minister: WTO Negotiations Going on Smoothly”, 7.11. 2005.
[4]Thanh Niên, Tuổi Trẻ, “WTO Acession Difficulties Continue”, 11.11. 2005.
[5]AFP, “Vietnam Rounds on U.S. Over Bid To Join WTO”, 22.10. 2005.
[6]VietnamNet, “Làm luật gia nhập WTO: Nước đến … mũi mới nhẩy”, 24.02.2005.
[7]Nam Nguyên, “Phỏng vấn tiến sĩ Lê Đăng Doanh về tiến trình gia nhập WTO Của Việt Nam”, RFA, 24.06.2005
[8]AFP, “Gaps Remain in Vietnam’s WTO Entry Talks: U.S. Envoy”, 22.9. 2005.
[9]AFP, “Vietnam Misses First Date with WTO”, 25.10. 2005.
[10]AFP, “Vietnam Misses First Date with WTO”, 25.10. 2005.
[11]Voice of America, “Vietnam’s WTO Hopes Slipping Away”, 8.11. 2005.
[12]Tuổi Trẻ, “Gia nhập WTO: Bốn tháng và rất nhiều việc phải làm”, 17.11.2005.
[13]AFP, “Vietnam Misses First Date with WTO”, 25.10. 2005.
[14]Bao gồm Luật dân sự, Luật thương mại, Luật kiểm toán, Luật về những thỏa ước quốc tế, Luật quan thuế, Luật về thuế xuất nhập khẩu, Luật về khoáng sản, và Luật khiếu nại và tố giác.
[15]WTO, “Vietnam Membership Negotiations 15 September 2005 – Working Party Examines First Revision of Membership Report”, 20.9. 2005. Các bộ luật mới bao gồm Luật về sở hữu trí tuệ, Luật về chuyển ngân và buôn bán qua hệ thống điện tử, Luật doanh nghiệp thống nhất, Luật đầu tư thống nhất, Luật về thuế trị giá gia tăng, và Luật về thuế tiêu thụ
[16]Vietnam News Brief, “Vietnam Needs Foreign Expertise for Law Reforms to Meet WTO’s Rules”, 17.2.2005.
[17]Economist Intelligence Unit, “Vietnam: Country Report”, 5.7.2005.
[18]Heritage Foundation and Wall Street Journal, “2005 Index of Economic Freedom”, Washington, DC: 4.1.2005.
[19]World Economic Forum, “The Global Competitiveness Repoirt”, Geneva, 28.9.2005.
[20]Nnhững nước và lãnh thổ này bao gồm Ấn Độ, Bangladesh, Brunei Darussalam, Hồng Kông, Ma Cao, Mã Lai, Miến Điện, Nam Dương, Nam Hàn, Nhật Bản, Phi Luật Tân, Sri Lanka, Tân Gia Ba, và Thái Lan.
[21]Business Week, “Vietnam’s Time Is Running Out”, 24.11.2003.